S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM LÊ ANH TUẤN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN TÂM LÝ
TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC LAO ĐỘNG
XÃ HỘI HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Lê Anh Tuấn
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7. Phương pháp nghiên cứu 4
8. Đóng góp mới của luận văn 4
9. Cấu trúc của luận văn 5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN TÂM
LÝ TẠI TRUNG TÂM GD – LĐXH HẢI PHÒNG 6
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu………………………………………….6
1.1.1 Lịch sử ra đời của ngành tham vấn tâm lý…….………………….6
1.1.1.1 Lịch sử ra đời của ngành tham vấn tâm lý trên thế giới……… 6
1.1.1.2 Lịch sử ra đời của ngành tham vấn tâm lý ở Việt Nam……….12
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài……………………………… 14
1.2 Những vấn đề lý luận chung về ma tuý, nghiện ma tuý 14
1.2.1 Một số vấn đề lý luận chung về ma tuý 14
1.2.1.1 Ma tuý 14
1.2.1.2 Phân loại ma tuý 15
1.2.2 Một số vấn đề về nghiện ma túy, người nghiện ma túy 17
1.2.2.1 Nghiện ma tuý 17
1.2.2.2 Người nghiện ma tuý 20
iv
1.2.3 Tác hại của ma tuý 21
1.2.3.1 Đối với cá nhân người nghiện 21
1.2.3.2 Đối với gia đình và người thân 23
1.2.3.3 Đối với xã hội 23
2.1.2.3 Về cơ sở vật chất kỹ thuật 46
2.2 Tình hình chung về học viên đang cai nghiện tại Trung tâm Giáo
dục - Lao động xã hội Hải Phòng 47
2.2.1 Về số lượng 47
2.2.2 Về độ tuổi 48
2.2.3 Về trình độ học vấn 48
2.2.4 Những dấu hiệu đặc trưng của học viên khi nghiện ma túy 49
2.3 Thực trạng hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm Giáo dục - Lao
động xã hội Hải Phòng 51
2.3.1 Những khó khăn về mặt tâm lý của học viên Trung tâm GD -
LĐXH Hải Phòng đang phải đối mặt 51
2.3.2 Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của học viên tại Trung tâm
Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng 55
2.4 Thực trạng công tác quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung
tâm Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng 59
2.4.1 . Những quy định về hoạt động tham vấn tâm lý 59
2.4.2 Về tổ chức bộ máy quản lý hoạt động tham vấn tâm lý: 60
2.4.3 Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tham vấn 61
2.4.4 Về cở sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí cho hoạt động tham vấn 64
2.4.5 Về kiểm tra đánh giá hoạt động tham vấn 65
2.5 Đánh giá chung về quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm
Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng. 65
2.5.1 Đánh giá những mặt mạnh và thuận lợi: 65
2.5.2 Những mặt hạn chế 66
2.5.3 Một số bất cập, mâu thuẫn trong hoạt động tham vấn ở Trung tâm
GD - LĐXH Hải Phòng 67
2.5.4 Nguyên nhân của các hạn chế và bất cập 67
vi
2.5.5 Những vấn đề đặt ra cho hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm
vii
3.5 Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động tham vấn 86
3.6. Kết quả thăm dò ý kiến về các giải pháp 87
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
1. Kết luận 90
2. Khuyến nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng học viên được tiếp nhận tại Trung tâm Giáo dục -
Lao động xã hội Hải Phòng 47
Bảng 2.2: Các biểu hiện bên ngoài của người nghiện 49
Bảng 2.3: Những biểu hiện khi nghiện một số loại ma túy thường gặp 51
Bảng 2.4: Ý kiến của học viên về mức độ khó khăn về mặt tâm lý mà họ phải
đối mặt 52
Bảng 2.5: Ý kiến của học viên về những lĩnh vực khó khăn về mặt tâm lý
mà họ phải đối mặt 52
Bảng 2.6: Ý kiến của học viên về cách thức giải quyết những khó khăn
tâm lý 54
Bảng 2.7: Nhu cầu tham vấn, hỗ trợ giải quyết những khó khăn tâm lý
của học viên 56
Bảng 2.8: Nguyên nhân cản trở tiếp cận dịch vụ tham vấn tâm lý, hỗ trợ
tâm lý của học viên 57
Bảng 2.9: Quy mô, số lượng, chất lượng các ca tham vấn tại Trung tâm
trong giai đoạn 2009 - 2013 58
hướng xã hội chủ nghĩa đã gặt hái được không ít thành công trên các mặt kinh
tế - chính trị - văn hóa - xã hội cũng như quan hệ quốc tế. Bên cạnh đó cũng
đang phải đối mặt với những mặt trái của nền kinh tế thị trường mang lại đặc
biệt là tệ nạn xã hội, trong đó có tệ nạn ma túy. Theo số liệu thống kê năm
2006, nước ta có khoảng 170.000 người nghiện ma tuý, đến năm 2012 có
khoảng 210.000 người nghiện ma túy trong đó có khoảng 140.000 người đang
được quản lý tại các Trung tâm, cơ sở cai nghiện. Tại Hải Phòng theo số lượng
thống kê của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS thành phố hiện có khoảng
8.399 người nghiện ma túy, có khoảng 2.500 người đang được quản lý tại các
Trung tâm. Riêng tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội (GD - LĐXH) Hải
Phòng hiện đang quản lý giáo dục 1000 học viên cai nghiện ma túy.
Hiện nay, người nghiện ma túy được xếp vào nhóm có vấn đề về tâm thần,
thời gian sử dụng ma tuý càng lâu, liều lượng càng tăng thì hậu quả càng nặng
nề. Những tác động trên não bộ gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn
làm người nghiện suy giảm khả năng suy đoán, xử lý thông tin, khả năng tự chủ.
Nó tạo ký ức hồi tưởng làm người nghiện lệ thuộc vào cảm giác khoái cảm ngất
ngây, bị kích động mạnh mẽ khi nghĩ đến hoặc sử dụng ma túy. Hầu hết, người
nghiện không có khả năng tự cai nghiện, không có khả năng để tự thay đổi hành
vi, nhận thức.
Để tiếp nhận, quản lý, giáo dục người nghiện ma tuý, đồng thời giảm
thiểu gánh nặng cho xã hội do tệ nạn ma tuý gây ra, Trung tâm GD - LĐXH
Hải Phòng được Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Hải Phòng giao nhiệm
vụ trực tiếp tiếp nhận và quản lý, giáo dục người nghiện ma tuý một mặt giúp
đỡ người nghiện có cơ hội cai nghiện thành công tái hoà nhập cộng đồng, một
mặt giảm thiểu các tệ nạn xã hội phát sinh do ma tuý trên địa bàn thành phố.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
2
Hiện Trung tâm đang trực tiếp quản lý, giáo dục 1.000 học viên cai nghiện ma túy
3
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hiệu quả công tác quản lý hoạt động tham vấn tâm lý cho học viên cai
nghiện ma túy tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD -
LĐXH Hải Phòng.
4. Giả thuyết khoa học
Khi người nghiện sử dụng ma túy sẽ gây ra một số phản ứng, những tổn
thất trên hệ thống thần kinh, tạo ra tâm lý họ một số thói quen, những khao khát
đam mê khó có thể từ bỏ hoặc gây nên những trạng thái tâm lý không bình
thường. Vì vậy khi cai nghiện họ luôn gặp phải những khủng hoảng, ức chế dẫn
đến hiệu quả công tác cai nghiện không cao. Các liệu pháp tham vấn tâm lý phù
hợp sẽ giúp họ ổn định về mặt tâm lý, tham gia tốt hơn vào quá trình cai nghiện
và chống tái nghiện. Tuy nhên để các liệu pháp tham vấn tâm lý được tiến hành
một cách bài bản, khoa học, hiệu quả và phù hợp với các liệu pháp điều trị khác
cho học viên, yêu cầu đặt ra đối với nhà quản lý phải tổ chức quản lý tốt hoạt
động tham vấn tâm lý cho học viên, tạo nên môi trường tham vấn chuyên
nghiệp, hiệu quả, đồng thời nhà quản lý phải xây dựng được những biện pháp
quản lý phù hợp, mang tính chuyên biệt, đặc thù cho hoạt động này.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về ma túy, nghiện ma túy, quản lý
giáo dục người nghiện ma túy, công tác tham vấn tâm lý, quản lý hoạt động tham
vấn tâm lý đối với người nghiện ma túy tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng.
5.2. Nghiên cứu, khảo sát thực trạng hoạt động tham vấn tâm lý và thực
trạng công tác quản lý hoạt động tham vấn tâm lý đối với học viên cai nghiện
ma túy tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng.
5.3. Đề xuất các biện pháp hợp lý, toàn diện, có tính khả thi nhằm nâng
cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động tham vấn tâm lý đối với học viên cai
công tác tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng.
- Nghiên cứu và chỉ ra thực trạng hoạt động tham vấn tâm lý và quản lý
hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
- Kết quả nghiên cứu đạt được có thể vận dụng vào thực tiễn hoạt động
tham vấn tâm lý, quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH
Hải Phòng.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo,
luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung
tâm Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng.
Chương 2: Thực trạng về công tác tham vấn tâm lý, thực trạng công tác
quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng.
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động tham
vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng.
S
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
các lý thuyết nghiên cứu về tâm lí cá nhân và sự ứng dụng đầu tiên của lí thuyết
Phân tâm học vào quá trình trị liệu những rối loạn tâm lý của con người. Những
người có đóng góp cho sự ra đời của tham vấn hướng nghiệp trong giai đoạn
này là Francis Galton, Wilhelm Wundt, G.Stanley Hall, Alfrcd Binet, Jesse
Davis, Frank Psrsons, Robert Yerkers.
Trong suốt thế ki XIX, kết quả nghiên cứu của khoa học thực nghiệm
ứng dụng cho con người là sự phát triển của các trắc nghiệm tâm lý và giáo
dục. Đặc biệt vào cuối thế kỷ XIX, tâm lý học đã ngày càng chịu nhiều ảnh
hưởng của dược học hiện đại, y khoa và thuyết tiến hóa mới. Wilhelm Wundt
(1832 -1920) và Francis Galton (1822 - 1911) người Anh, những nhà tâm lý
học thực nghiệm đầu tiên đã phát triển những phòng thực nghiệm để kiểm tra
sự khác biệt về thề chất của con người.
Năm 1907, Jesse Davis (1817- 1955) đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên
về công tác hướng dẫn nghề tại Michigan. Tuy nhiên, người có ảnh hưởng lớn
nhất đến công tác hướng nghiệp ở Mỹ là Frank Parsons (1854 - 1908). ông đã
xuất bản cuốn sách "Cẩm nang hướng nghiệp" nhằm trợ giúp các cá nhân trong
việc lựa chọn nghề nghiệp. F. Parsons hi vọng công tác hướng nghiệp được đưa
vào trường học - một hi vọng được trở thành hiện thực năm 1908, sau khi ông
mất. Năm 1909 cuốn sách “Chọn nghề” được coi là sự cống hiến to lớn mà ông
đã để lại cho công tác hướng nghiệp. Phòng tư vấn đầu tiên trên thế giới đã
được F. Parsons thành lập ở Boston (Mỹ) vào năm 1908.
Những ý tưởng của F. Parsons trong công tác hướng nghiệp đã thực sự
trở thành nguyên tắc của nghề tham vấn sau này. Parsơns đã nhấn mạnh tầm
quan trọng của việc phải có một người hướng dẫn chuyên nghiệp, và gợi ý rằng
một người hướng dẫn tốt không thể đưa ra các quyết định cho người khác vì tự
mỗi người mới biết phải quyết định điều gì tốt nhất cho chính bản thân mình.
Theo E.D. Neukrug, ba nhân tố chính để cấu thành nghề tham vấn xuất
hiện trong giai đoạn này là các lý thuyết trắc nghiệm; công tác hướng nghiệp và
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
các lí thuyết tiếp cận trong trị liệu tâm lý. Trong đó, các lý thuyết tâm lý trị liệu
và các phép đo lường tâm lý đã can thiệp sâu vào các loại hình tham vấn khác
nhau, làm hoàn thiện hệ thống lý thuyết giúp đỡ căn bản của ngành tham vấn
chuyên nghiệp.
* Giai đoạn tham vấn phát triển như một ngành chuyên nghiệp - giữa thế
kỷ XX:
Năm 1930, E.G. Williamson đưa ra một lý thuyết hoàn chỉnh về tham
vấn với tên gọi là "Tiếp cận đặc điểm và nhân tố". Williamson đề xuất các bước
của một hoạt động tham vấn như sau:
1. Phân tích đánh giá vấn đề và lập hồ sơ về sự tiếp xúc và trắc nghiệm
đối với thân chủ.
2. Tổng hợp, tóm tắt và sắp xếp thông tin để hiện vấn đề.
3. Chẩn đoán, làm sáng tỏ vấn đề.
4. Tham vấn, trợ giúp cá nhân tìm cách giải quyết.
5. Theo dõi sát sao sự tiến triển cùng thân chủ.
Parerson (1973) cho rằng sự khác nhau căn bản của tiếp cận theo đặc
điểm và nhân tố so với tham vấn hướng nghiệp giai đoạn đầu thế kỷ là việc xác
định được một chuỗi các bước của một hoạt động trợ giúp. Đây chính là tiền
thân của "Quá trình tham vấn". Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nhà
triết học, tâm thần học, tâm lý học đã từ châu âu sang Mỹ và ngay lập tức
những tư tưởng của họ đã ảnh hưởng đến tâm ý trị liệu và giáo dục ở đây. Vì
vậy có một số phương pháp trị liệu nhân văn - hiện sinh đã dược triển khai tại
M ỹ.
Aubrey (1977) nhận đinh về sự phát triển của các học thuyết tâm lý,
vô thức, những cơ chế phòng vệ do lo hãi, sự chuyển vai tích cực . . . Số khác
theo phép tổ liệu hành vi cảm xúc thuần lý là cho lời khuyên giải thích trực tiếp
hành vi của thân chủ do xuất phát từ hành vi phi lý của thân chủ dẫn đến những
cảm nghĩ tiêu cực. Phép tri liệu Gestalt nhấn mạnh nhiều đến kinh nghiệm hiện
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
tại của xúc cảm - tư tưởng cũng được một số nhà tham vấn trấn thế giới quan
tâm. Quan điểm tư liệu nhân văn hướng tới việc giúp thân chủ tìm cách khám
phá và tự giải quyết vấn đề của mình cũng được nhiều nhà tham vấn nhắc tới
Giai đoạn hiện nay, một trong những thay đổi lớn nhất của tham vấn là
tập trung vào lĩnh vực văn hoá hay còn gọi là tham vấn xuyên với hoá. Các nhà
tham vấn cho rằng sẽ rất khó khăn trong việc giúp đỡ khách hàng nếu nhà tham
vấn không nắm được nền tảng văn hóa của khách hàng. Những vấn đề văn hóa
liên quan đến đến di truyền, màu da, dòng giống, truyền thông hay vấn đề tiền
bạc, quyền lực vị trí xã hội, vai trò xã hội đều có liên quan đến sự nảy sinh nan
đề; cách nhìn nan đề và cách xử lý nan đề của mỗi thân chủ. Khi các nhà tham
vấn thiếu hiểu biết về nền tảng văn hóa của thân chủ thì họ dễ đứng trên quan
điểm của bản thân để đánh giá thân chủ. Mặt khác, nhà tham vấn sẽ có nguy cơ
đánh giá thấp tác động của áp lực xã hội đối với khách hàng, giải thích nan đề
của thân chủ theo xu hướng bệnh học mà không tính đến nguyên nhân từ cơ sở
văn hóa. Điều này có thể dẫn đến sự chẩn đoán nhầm và có thể gây ra những
tồn thương cho thân chủ.
Tham vấn đa văn hoá là hướng tiếp cận thân chủ mà nhà tham vấn có cân
nhắc cụ thể đến nền tảng khác biệt về văn hoá truyền thống, hiện tại và những
kinh nghiệm của các nhóm khách hàng khác nhau. Sự hiểu biết về nền tảng văn
hóa của thân chủ được thể hiện qua thái độ, kĩ năng và phương pháp tiếp cận
thân chủ sẽ giúp cho nhà tham vấn lý giải được lý do nào, điều gì khiến họ cảm
nhận, suy nghĩ và hành động như vậy. Qua đó sẽ chấp nhận họ hơn và như vậy
Giai đoạn khởi đầu của hoạt động tham vấn ở Việt Nan Tâm lý học được
“du nhập” vào Việt Nam đã được gần 50 năm, với tư cách là một nghề - nghề dạy
tâm lý (nghề sư phạm) và nghiên cứu tâm lí. Mặc dù hiện nay ngành Tâm lý học
vẫn chưa được cấp mã số cho "nghề trợ giúp tâm lý". Nhưng các hoạt động trợ
giúp tâm lý nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội vẫn phát triển và khẳng định “chỗ
đứng” của mình trong xã hội. Ngày nay, tại các đô thị lớn, khi các cá nhân hoặc
gia đình có vấn đề tâm lý họ đều biết tìm đến các “bác sĩ tâm lý” để nhờ giúp đỡ
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
Thực tế những hoạt động trợ giúp tâm lý cho những người có khó khăn
đã xuất hiện từ rất sớm trong xã hội Việt Nam. Nhìn từ lịch sử ngành Công tác
xã hội, từ năm 1945 tại một số bệnh viện ở phía Bắc như Bệnh viện Bạch Mai,
một số cán sự xã hội (nhân viên công tác xã hội) đã sử dụng tham vấn như một
kĩ năng quan trọng của Công tác xã hội vào quá trình trợ giúp bệnh nhân tại các
bệnh viện ở phía Nam. Trước năm 1975, cùng với hoạt động Công tác xã hội
theo hướng chuyên nghiệp đã có tồn tại các hoạt động tham vấn cho cá nhân,
gia đình tại cộng đồng. Trường đào tạo Cán sự Xã hội Caritas, tại 43 Tú
Xương, Thành phố Hồ Chi Minh đã triển khai chương trình đào tạo nhân viên
công tác xã hội, trong đó có cung cấp các kĩ năng trợ giúp và kĩ năng tham vấn
cho các học viên. Các hoạt động công tác xã hội, trong đó có tham vấn học
đường bị chững lại sau giải phóng.
Vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỉ XX các hoạt động
tư vấn tâm lý thường đi kèm với các chương trình cải thiện cuộc sống và kinh
tế cho các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội. Công tác tư vấn là một phần
trong các hoạt động của công tác từ thiện, công tác xã hội, nhằm giải quyết
những vấn đề mang tính thời đại, như đói nghèo, bệnh tật, mại dâm, người có
HIV, trẻ mồ côi, trẻ lang thang, người già không nơi nương tựa với những tổn
thương tâm lý sâu sắc.
có liên quan đến các vấn đề về nghiện ma túy, tham vấn tâm lý, quản lý hoạt
động tham vấn tâm lý. Kết quả của đề tài là sự đánh giá thực trạng của hoạt
động tham vấn tâm lý, quản lý hoạt động tham vấn tâm lý để đề xuất các biện
pháp quản lý hoạt động tham vấn tâm lý tại Trung tâm GD - LĐXH Hải Phòng.
1.2 Những vấn đề lý luận chung về ma tuý, nghiện ma tuý
1.2.1 Một số vấn đề lý luận chung về ma tuý
1.2.1.1 Ma tuý
Theo từ Hán - Việt: Ma là “tê”, tê liệt; túy là “say”, say mê. Ma túy là tên
gọi chung của chất gây nghiện có đặc tính: Làm cho người sử dụng luôn có ham