BÀI TẬP MÔN HỌC Quản lý tài chính trong giáo dục
ĐỀ BÀI
Câu 1: Căn cứ vào 6 luận điểm về giáo dục đã nêu, chọn 1 luận điểm mà
mình có ấn tượng nhất. Viết bài bình luận (2 trang) về quan điểm đó.
Câu 2: “Toán học là Ông Hoàng của các môn khoa học; Kinh tế học là Nữ
Hoàng của các Khoa học. Còn Kinh tế học giáo dục là…”. Hãy viết tiếp
10 dòng vào chỗ trống.
Câu 3: Thu nhập quốc dân Việt Nam tính theo sức mua (USD) dự kiến
2014 là 3000 USD. Giả dụ tốc độ tăng GDP của đất nước là 5% năm. Hỏi
bao nhiêu năm nữa đất nước sẽ đạt mức 6000 USD theo đầu người ?
Câu 4: Anh (chị) hãy chọn một mệnh đề mình ấn tượng nhất trong 16
mệnh đề đã học (Tứ thụ – Tam phi… bất – Tứ tôn – Ngũ quy) viết bình
luận cho mệnh đề đó (từ 1-2 trang) ?
1
BÀI LÀM
Câu 1:
Giáo dục, hiểu theo nghĩa rộng nhất là sự truyền thụ kinh nghiệm xã
hội từ thế hệ trước cho thế hệ sau nhằm chuẩn bị cho thế hệ sau bước vào
cuộc sống. Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới
hình thành, do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm
phát triển loài người, phát triển xã hội. Giáo dục là một hoạt động có ý
thức của con người nhằm vào mục đích phát triển chính con người và phát
triển xã hội. Vì thế giáo dục là một hiện tượng xã hội và là một trong
những nhu cầu tất yếu của xã hội.
Giáo dục ban đầu được thực hiện một cách đơn giản, trực tiếp ngay
trong lao động và trong cuộc sống, và ở mọi lúc, mọi nơi. Khi xã hội ngày
càng phát triển lên, kinh nghiệm xã hội được đúc kết nhiều hơn, yêu cầu
của xã hội đối với con người ngày càng cao hơn, các loại hình hoạt động
xã hội ngày càng mở rộng hơn thì giáo dục theo phương thức trực tiếp
không còn phù hợp mà đòi hỏi phải có một phương thức giáo dục khác có
hiệu quả hơn. Giáo dục gián tiếp theo phương thức nhà trường, được thực
lượng tốt là mục tiêu tạo động lực cho sự phát triển kinh tế.
Giáo dục đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các nguồn lực cần
thiết cho xã hội, làm cho xã hội ngày càng phát triển. Thông qua các quá
trình giáo dục và dạy học, bằng nhiều hình thức khác nhau; giáo dục đã:
- Đào tạo ra những con người mới, là những người có trình độ văn
hóa, am hiểu về khoa học kỹ thuật – khoa học công nghệ; có khả năng vận
dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật – công nghệ vào quá trình sản
3
xuất lao động. Nhờ vậy làm tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy sự
phát triển kinh tế, tạo động lực cho xã hội phát triển.
- Giáo dục tái sản xuất sức lao động xã hội, tạo ra nguồn nhân lực
mới để thay thế những sức lao động cũ bị mất đi do ốm đau, bệnh tật, tuổi
già, tai nạn…
- Hiện nay hầu như các nước trên thế giới đều ý thức được tầm quan
trọng, vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế. Vì thế các nước
trên thế giới đều coi trọng giáo dục, ưu tiên cho giáo dục. Như: tăng ngân
sách cho giáo dục, trang bị thiết bị giáo dục cho các trường, Hầu như
nước nào quan tâm đến giáo dục thì nước đó đều có sự phát triển mạnh về
kinh tế, điển hình như Nhật Bản, Singapore.
Đầu tư giáo dục là đầu tư cho tương lai, vì thế không những là các
nước trên thế giới mà Việt Nam chúng ta cũng đang đầu tư rất lớn cho
giáo dục. Đã chú trọng đến những chính sách phù hợp để nâng cao tay
nghề, nghiệp vụ cho người lao động như: Đưa người sang các nước bạn để
học hỏi những kiến thức, kinh nghiệm của các nước khác; mở các lớp
chuyên tu, tại chức, cao học,…
Giáo dục đã trở thành một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra sự
phát triển cho các nền kinh tế. Vì thế muốn phát triển kinh tế thì trước hết
phải tập trung mọi nổ lực để phát triển giáo dục, dựa vào giáo dục và lấy
giáo dục làm động lực.
Câu 2:
Thập niên thụ mộc
Bách niên thụ nhân
Thiên niên thụ đức
Tôn tộc đại quí
Tôn lộc đại suy
Tôn tài đại thịnh
Tôn nịnh đại nguy
Khổng Tử (551 - 479 TCN) và "Tam phi
bất"
Lê Qúy Đôn (1726 - 1784) và “Ngũ
qui"
Phi phụ bất sinh
Phi sư bất thành
Phi quân bất vinh
Qui nông tất ổn
Qui công tất phú
Qui thương tất hoạt
5
1,05
Qui trí tất hưng
Qui pháp tất bình
b. Mệnh đề tâm đắc và ấn tượng nhất
“Ngũ qui"
(Lê Quý Đôn)
Qui trí tất hưng
Trong 16 mệnh đề tinh hoa của các tiền nhân ở trên em ấn tượng
nhất mệnh đề “Quy trí tất hưng”.
Có thể nói, hiện nay nguồn lực con người chính là yếu tố quan trọng
nhất cần được quan tâm đầu tư phát triển của mọi quốc gia. Bên cạnh việc
tìm kiếm, phát hiện, đào tạo và trọng dụng người tài thì chúng ta cũng cần
chống nạn mù chữ” và “Giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực
hiện: “CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”. Người chỉ rõ: Một trong những
công việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng cao dân trí, bởi không
một quốc gia nào có thể tiến hành xây dựng một chế độ xã hội mới và bảo
vệ Tổ quốc thành công trong điều kiện văn hóa, dân trí, đạo đức, tinh thần
xã hội thấp kém. Chưa đầy một tuần sau ngày độc lập, ba sắc lệnh quan
trọng về giáo dục đã được Người ký và ban hành Sắc lệnh 17-SL, thành
lập Nha Bình dân học vụ, Sắc lệnh 19-SL, quy định mọi làng phải có lớp
học bình dân, và Sắc lệnh 20-SL, cưỡng bách học chữ Quốc ngữ không
mất tiền. Một nền giáo dục mới - nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập
được Người nêu rõ trong Thư gửi các học sinh: “Ngày nay, các em được
cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước
7
độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân
hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn
những năng lực sẵn có của các em… Non sông Việt Nam có trở nên tươi
đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai
với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn
ở công học tập của các em”.
Trình độ dân trí cao, trước hết giúp người dân sống đúng đắn theo
trách nhiệm công dân. Họ biết việc gì nên làm, việc gì không. Họ sống có
hoài bão, có khát vọng và biết cách cống hiến cho đất nước, cho dân tộc.
Có sự hiểu biết, người dân sẽ biết cách lao động hiệu quả, nâng cao giá trị
sản phẩm, tạo ra nhiều của cải vật chất; điều này góp phần rất lớn vào việc
tạo ra và duy trì sự phát triển cho đất nước. Họ luôn đồng thuận và hưởng
ứng mọi chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn của Đảng và Nhà
nước. Sự đồng thuận và đoàn kết là nhân tố vô cùng quan trọng để duy trì
an ninh trật tự và thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Ngày nay, nhân loại
đang bước vào một nền văn minh trí tuệ, một nền kinh tế tri thức, một xã
hội thông tin. Thế giới đang trong cuộc chạy đua về tốc độ trong hệ thống
triển. Bên cạnh đó, người làm quan có tri thức sâu rộng, có đạo đức, hết
lòng vì dân vì nước, họ luôn biết cách mang lại cuộc sống hạnh phúc cho
nhân dân. Họ luôn biết tận dụng và phát huy tối đa các nguồn lực, mang
lại lợi ích cho đất nước. Với tầm nhìn sâu rộng và cái “Tâm” với nghề, họ
luôn biết cách tìm kiếm, phát hiện, thu hút và trọng dụng người tài, biết
cách làm cho người tài gắn bó và cống hiến cho nhân dân, cho tổ quốc.
Bên cạnh việc nâng cao dân trí, quan trí thì chúng ta cũng cần phải
nâng cao doanh trí bởi đó là lực lượng có vai trò hết sức quan trọng, đóng
9
góp đáng kể cho sự hưng thịnh của đất nước. Xưa kia ông cha ta đã từng
có câu “Phi thương bất phú”. Đội ngũ doanh nhân được ví như “nguồn của
cải vật chất khổng lồ” đóng góp vào tiềm lực kinh tế, tạo công ăn việc làm
cho xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao vị thế của dân tộc trên
trường quốc tế, có thể khẳng định, doanh nhân ngày càng có vai trò quan
trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Doanh nhân cần phải có
trí thức, kiến thức, kinh nghiệm Bên cạnh đó họ còn phải có văn hóa,
đạo đức trong kinh doanh. Để nâng cao doanh trí cho cá nhân và cho cộng
đồng doanh nhân, nhiều lãnh đạo doanh nghiệp có những chiến lược,
chính sách đầu tư cho việc đào tạo nguồn nhân lực rất bài bản. Từ cán bộ
lãnh đạo cấp cao, cấp trung đến nhân viên kỹ thuật đều được qui hoạch, cử
tham gia các lớp học chính qui hoặc ngoài giờ; các lớp học chuyên ngành
dài hạn hoặc ngắn hạn; tham dự các hội thảo chuyên đề , xem đó như là
một cách nạp năng lượng để điều hành, quản trị nhà máy, vận hành sản
xuất một cách khoa học, chuyên nghiệp.Với doanh nghiệp vừa và nhỏ,
quản trị theo kiểu gia đình là một quán tính gây cản trở không nhỏ cho quá
trình phát triển. Muốn thay đổi, không gì khác là doanh nhân cần học tập
và chia sẻ kinh nghiệm vận hành quản trị khoa học từ các trường lớp, từ
chuyên gia, và từ đồng nghiệp.
10