TIỂU LUẬN MÔN HỌC
Học phần Quản lý tài chính trong giáo dục
ĐỀ BÀI: Cho tứ giác đều ABCD. Trong đó:
A: Bách niên thụ nhân.
B: Phi sư bất thành.
C: Tôn tài đại thịnh.
D: Quy trí tất hưng.
O: Giáo dục
1) Hãy luận về tứ giác đều ABCD ?
2) Từ đó hãy đưa ra những đề xuất cho giáo dục Việt Nam hiện nay?
A
B
D
O
C
1
BÀI LÀM
1) Luận về tứ giác đều:
Bốn vị tiền nhân (hai Trung Quốc + hai Việt Nam) đã có cácphát biểu mà
ngày nay liên kết lại là minh triết cho chiến lược kinh tế - Giáo dục trong bối
cảnh mới của đất nước.
Trước tiên, chúng ta hãy bàn luận về luận đề: A: “Bách niên thụ nhân” -
Một trong “Tứ Thụ” của Quản Trọng (730 – 645 TCN) được nêu trong sách
“Quản Tử”. Quản Trọng là nhà chính trị xuất sắc thời Tiên Trần. “Quản Tử”
được coi là bộ sách có tính giáo khoa đầu tiên của nhân loại về quản lý với
những ý tưởng đặc sắc trong hai chương : “Quyền Tu” (Bàn về sự tu dưỡng của
nhà cầm quyền) và “Mục dân” (Bàn về cách quản lý nhân dân). “Bách niên” có
nghĩa là trăm năm, “Thụ” là trồng, là nuôi dưỡng; “Nhân” là người. cả câu
“Bách niên thụ nhân” có nghĩa là tính kế trăm năm trồng người, phát triển con
người. Theo Hồ Chí Minh, con người là vốn quý nhất, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của Cách mạng, chính vì vậy, cần phải coi trọng, chăm sóc và phát huy
trăm năm và lâu hơn thế nữa. Và cũng chính người đã quan tâm thực hiện tốt vấn
đề này.
B: “Phi sư bất thành”. Ý tưởng này nằm trong “Tam phi… bất”, được
nêu ra trong sách “Minh đạo gia huấn” – cuốn dạy về sự tu dưỡng đạo đức do
Trình Di (1033 – 1107) đời Tống biên soạn đã được phổ biến tại nhiều nước chịu
ảnh hưởng của Đạo Khổng. Phân tích nghĩa từng từ ta có thể hiểu “Phi” là
không; “Sư” là thầy, là người dạy dỗ, chỉ bảo; “Bất” là không có, không thể;
“Thành” là đạt được, trọn vẹn, hoàn chỉnh, đạt được. Cả câu có nghĩa là không
3
có thầy làm sao thành đạt được. “Phi sư bất thành” ngày nay không chỉ có ý
nghĩa cho mỗi cá nhân, nó còn có ý nghĩa cho số phận cộng đồng và dân tộc.
Truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta trong lĩnh vực giáo dục là tôn sư trọng đạo,
đề cao vai trò của người thầy, trọng thầy đến độ “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”,
nghĩa là dạy một chữ cũng là thầy, dạy nửa chữ cũng là thầy. Trong xã hội hiện
đại, ai cũng phải đến trường, ai cũng phải học. Trước khi làm thầy, người thầy
phải là người học trò. Bác Hồ kính yêu cũng đã là học trò và cũng đã là thầy
giáo. Vì vậy, quan tâm đến sự nghiệp giáo dục Bác cũng hết sức quan tâm đến
đội ngũ các thầy, cô giáo.
Theo Bác, người thầy giáo có vai trò hết sức quan trọng đối với học sinh
và xã hội: “Học trò tốt hay xấu là do thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu. Các cô, các
chú phải nhận rõ trách nhiệm của mình…. Giáo viên phải chú ý cả tài cả đức, tài
là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên
phải có đức. Ví như bảo học trò phải dậy sớm mà giáo viên thì trưa mới dậy. Cho
nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu nhất là đối với trw con. Trách nhiệm đó
rất là vw vang, quan trọng”.
Muốn thực hiện được điều Bác dạy, người thầy giáo trước hết phải có lòng
yêu nghề, tha thiết với nghề. Nghề thầy giáo mà thật sự có đức khó có thể làm
giàu. Trong hoàn cảnh xã hội hiện tại, thầy giáo có thể có cuộc sống khá hơn do
điều kiện đất nước và xã hội khá hơn và có thể làm giàu. Giàu có trên nền tảng
của lương tâm và đạo đức đòi hỏi người thầy giáo phải luôn tu dưỡng, luôn rèn
quyền lực mà uy hiếp họ phải theo mình. Họ là những người “Phú quý bất năng
5
dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (Giàu sang không cám dỗ được,
nghèo hèn không làm thay đổi ý chí, uy quyền không khuất phục được).
Tôn tài không chỉ ngưỡng vọng, đề cao người tài mà cái quan trọng nhất
vẫn là phải biết dùng họ đúng tầm mức, sở trường.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất trọng nhân tài. Sau Cách
mạng tháng Tám 1945, rất nhiều bậc trí thức, các học giả, kể cả giáo sỹ, quan lại,
cho đến những ông vua đã thoái vị như Bảo Đại đã được Bác Hồ cảm hóa và vận
động tham gia chính quyền cách mạng. Cách dùng người của Bác thể hiện thái
độ trọng thị, tầm nhìn minh triết, lòng nhân ái bao la và tư tưởng đại đoàn kết
cao cả. Gần 70 năm đã trôi qua, những bài học của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
trọng dụng người tài vẫn còn nguyên giá trị.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trên cương vị là Chủ tịch
Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một văn
bản với tiêu đề “Tìm người tài đức”. Ngay sau đó, văn bản này đã được Bộ
trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp cho công bố trên báo Cứu quốc, nội dung có
đoạn: “Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài, có đức. E vì
Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không
thể xuất thân. Khuyết điểm đó, tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa đổi điều đó, và
trọng dụng những kw hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có
người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân thì phải báo cáo ngay
cho Chính phủ biết”.
Đi đôi với việc tìm người tài, đức giúp ích cho đất nước, Chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng yêu cầu người lãnh đạo, quản lý phải biết trọng dụng nhân tài, biết
chăm lo phát hiện nhân tài, biết đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và phải biết sử dụng
nhân tài một cách hợp lý. Việc trọng dụng nhân tài theo quan điểm của Chủ tịch
Hồ Chí Minh là phải làm thường xuyên, liên tục như “người làm vườn vun trồng
6
những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người
vụ về giáo dục, đó là “cần mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ” và “giáo
dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”.
Người chỉ rõ: Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng
cao dân trí, bởi không một quốc gia nào có thể tiến hành xây dựng một chế độ xã
hội mới và bảo vệ Tổ quốc thành công trong điều kiện văn hóa, dân trí, đạo đức,
tinh thần xã hội thấp kém. Chưa đầy một tuần sau ngày độc lập, ba sắc lệnh quan
trọng về giáo dục đã được Người ký và ban hành: Sắc lệnh 17-SL, thành lập Nha
Bình dân học vụ, Sắc lệnh 19-SL, quy định mọi làng phải có lớp học bình dân,
và Sắc lệnh 20-SL, cưỡng bách học chữ Quốc ngữ không mất tiền. Một nền giáo
dục mới - nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập được Người nêu rõ trong
Thư gửi các học sinh: “Ngày nay, các em được cái may mắn hơn cha anh là được
hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo
các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo
dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em… Non sông Việt
Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh
quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ
một phần lớn ở công học tập của các em”.
Hồ Chí Minh chủ trương phải xây dựng một nền giáo dục hướng vào các
giá trị dân tộc, hiện đại và nhân văn, một nền giáo dục phục vụ Tổ quốc, phục vụ
nhân dân. Theo chỉ đạo của Người, Bộ Giáo dục đã đề ra mục đích, phương pháp
và tổ chức của nền giáo dục mới:
8
- Khẳng định mục đích cao cả của nền giáo dục mới là: Tôn trọng nhân phẩm,
rèn luyện chí khí, phát triển tài năng của mọi người để phụng sự đoàn thể và góp
phần vào cuộc tiến hóa chung của nhân loại.
- Phương pháp của nền giáo dục mới là xóa bỏ lối học nhồi sọ, hình thức, chú
trọng phần thực học, phần học về chuyên môn nghề nghiệp chiếm một địa vị
quan trọng, hết sức đề cao tinh thần khoa học, nhằm giúp học sinh có lối nhận
thức khoa học, phát triển óc phê bình, óc phân tích và tổng hợp, tinh thần sáng
tạo và óc thực tế.
- Hình thành được người thầy và đội ngũ người thầy có phẩm chất, năng
lực thực hiện tốt sứ mệnh mà xã hội giao cho (B)
- Bồi dưỡng được nhân tài, nguồn nhân lực có chất lượng cao (C)
- Chăm lo sự mở mang toàn diện văn hóa giáo dục, trước hết là khai hóa
tri thức cho các lực lượng có trách nhiệm của xã hội (D).
Tôn tài đại thịnh
Bách niên thụ nhân
GIÁO DỤC
10
Phi sư bất thànhQuy trí tất hưng
2) Đề xuất cho giáo dục Việt Nam hiện nay
2.1. Bách niên thụ nhân và thực hiện mục tiêu trồng người:
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu lời bàn của Quản Trọng, đặt vào hoàn cảnh
Việt Nam hiện nay có lời dạy:
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
Trong chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) trong bối cảnh
hiện tại nêu lên quan điểm phát triển con người theo ba khía cạnh:
- Nâng cao năng lực lựa chọn cho con người
- Mở rộng cơ hội lựa chọn cho con người
- Không ngừng đáp ứng các nhu cầu chính đáng của con người
Có thể nói hoạt động giáo dục, sự nghiệp giáo dục có tác động tích cực
đến cả ba khía cạnh nêu trên
- Giáo dục phát triển năng lực con người bao gồm: Tâm lực, Thể lực, Trí
lực, thái độ đứng đắn của con người
- Giáo dục tạo ra cơ hội để từ cơ hội này con người nắm bắt được các cơ
hội khác cề kinh tế, văn hóa, chính trị trong cuộc sống
- Giáo dục là nhân tố giúp con người hưởng thụ các nhu cầu chính đáng
của mình. Với người Việt Nam, theo GS Phan Ngọc có 4 nhu cầu sau:
+ Một thân phận không hẩm hiu (Fate)
+ Giáo dục sức khỏe, thể chất: Giáo dục đức, trí, thể, mỹ
12
+ Kết hợp chặt chẽ học đi đôi với hành,lý luận với thực tiễn. Kết hợp giữa
nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục hình thành nhân cách con người
ngay từ khi còn nhỏ. Phát huy ý thức tự giác giáo dục, tự rèn luyện và lấy gương
người tốt, việc tốt để giáo dục.
2.2. Phi sư bất thành và chính sách về người thấy trong thời đại mới
“Phi sư bất thành” ngày nay không chỉ có ý nghĩa cho mỗi cá nhân. Nó
còn có ý nghĩa cho số phận cộng đồng và dân tộc.
Nhà văn hóa Tagore (1861 - 1942) người Ấn Độ có lời bàn như sau:
“Đầu tư vào một người đàn ông được người chồng tốt
Đầu tư vào một người phụ nữ được một gia đình tốt
Đầu tư vào một nhà giáo được một thế hệ công dân tốt của đất nước”
Lê Nin cũng đã chỉ ra vị trí quan trọng của người thầy đó là: “Chỗ dựa
vững chắc của chính quyền Xô viết là hồng quân và đội ngũ giáo viên”
Hồ Chí Minh cũng đã từng nói mỗi người thầy, đội ngũ người thầy phải là
các “Sư hinh”- (Người thầy cao quý) chứ không được sinh hư.
Chính sách người thầy, đội ngũ người thầy trong hoàn cảnh hiện nay của
đất nước ta phải lưu ý tới đặc điểm: đất nước đã hoàn thành được phổ cập giáo
dục, ít nhất là bậc tiểu học. Đội ngũ giáo viên lên tới hàng triệu người, là đội ngũ
đông đảo nhất trong lực lượng lao động chung.
Trong tình hình này không thể áp dụng quan điểm kinh tế học lao động
thông thường cho đội ngũ này như đối với các ngành nghề khác. Song cũng
không thể mang quan điểm sư phạm đơn thuần cho phát triển đội ngũ người thầy
khi năng lực kinh tế còn nhiều hạn chế.
Sự hợp tác của hai giới kinh tế và giáo dục với sự chỉ đạo của các nhà
chính trị là điều rất cần thiết để xác định chính sách phát triển đội ngũ người thầy
thấu tình đạt lý.
13
Giáo viên – Người thầy được tôn vinh về tinh thần song cái cần hơn là một
hội xuất hiện. Người nói: “E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp đến
nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân, khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”
Ngày nay đất nước đã kiến tạo được nền giáo dục dân chủ, đại chúng trên
toàn cõi. Việc bồi dưỡng nhân tài có thể chủ động được. Cần phải có sự làm việc
căn cơ theo ba giai đoạn:
Giai đoạn sinh học: chăm lo từ lúc con người còn ở trong bào thai, ở nước
ta gọi là thai giáo.
Giai đoạn sinh học – xã hội: giai đoạn này có sự phối hợp của giáo dục
nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Giai đoạn xã hội: sự sử dụng tại các cơ quan, đơn vị sản xuất. Cần tạo lập
được môi trường dân chủ, đồng thuận để nhân tài được phát huy, có những đóng
góp xứng đáng cho đất nước.
Vì vậy cần có những chính sách bồi dưỡng nhân tài:
Một là, tạo cơ chế chính sách công bằng, thuận lợi để mọi tài năng trw đều
nỗ lực phấn đấu trong học tập, lao động và cuộc sống, tích cực tham gia phát
triển đất nước. Coi trọng hơn nữa việc trọng dụng nhân tài trw, tạo bước chuyển
có tính đột phá trong bố trí và sử dụng cán bộ trw có tài năng trên tất cả các lĩnh
vực của hệ thống chính trị, xã hội; nâng cao tỷ lệ cán bộ trw trong các cơ quan
lãnh đạo, nghiên cứu, quản lý các cấp, các ngành.
Hai là, tăng cường quản lý nhà nước về công tác đào tạo bồi dưỡng tài
năng trw. Xây dựng hệ thống chính sách tài năng trw, tạo khung pháp lý để đưa
15
công tác quản lý nhà nước về vấn đề này ngày càng hiệu quả. Nghiên cứu đổi
mới quy trình phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng năng khiếu cho học sinh từ mẫu
giáo đến hết trung học phổ thông, trên cơ sở đó quy hoạch phát triển mạng lưới phát
hiện và bồi dưỡng năng khiếu ở độ tuổi trước khi bước vào Trường Đại học, tạo
nguồn tài năng trw dồi dào cho đất nước.
Ba là, phát triển mạng lưới các trường, lớp bồi dưỡng năng khiếu bậc phổ
thông, đặc biệt là các trường trung học phổ thông chuyên ở các địa phương và ở
một số Trường Đại học có uy tín, chất lượng. Tiếp tục đổi mới nội dung, chương
giáo dục và đào tạo nói chung. Tất cả vì sự nghiệp xây dựng và phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại
hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
văn minh.
2.4. “Quy trí tất hưng” và chính sách khai hóa tri thức cho dân
Cụ Phan Chu Trinh từ những năm đầu thế kỷ 20 đã có lời kêu gọi: “Khai
dân trí – Chấn dân khí – Hậu dân sinh”
Bác hồ ngay trong phiên họp đầu tiên của chính quyền cách mạng đã
khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, Bác kêu gọi: “Phải làm sao
cho dân tộc Việt Nam thành dân tộc thông thái”.
Một “Dân trí” đích thực và mạnh là “Dân trí” biết chuyển sự hiểu biết để
sống “Cần – Kiệm – Liêm – Chính” chống lại được sự phù hoa, xa xỉ, lười biếng,
gian xảo.
17
“Dân trí” gắn liền với “Quan trí” và “Doanh trí”. Dân trí không phát triển
được nếu Quan trí méo mó (tham nhũng, cửa quyền, áp bức dân) và doanh trí
(chụp giật, phi đạo đức).
“Dân trí” phải bao quát cả hai chỉ số IQ (Thông minh trí tuệ) và EQ
(Thông minh cảm xúc) ở mỗi con người và cho cả cộng đồng.
Vì vậy cần phải có những chính sách khai hóa tri thức cho dân ngay từ khi
còn ngồi trên ghế nhà trường:
- Giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức: tuỳ theo từng lứa tuổi và trình
độ cấp học mà giáo dục cho các em lòng yêu nước, lòng trung thành với lý tưởng
cộng sản, ý thức và nhiệm vụ của người công dân, sẵn sàng tham gia tích cực
vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giáo dục ý thức và thói quen chấp
hành pháp luật và những quy tắc chung của tập thể; giáo dục tinh thần trách
nhiệm trong học tập, trong công tác, đoàn kết, trung thực, giàu tình thương, trọng
lẽ phải; giáo dục việc xây dựng lối sống theo nguyên tắc đạo đức “mỗi người vì
mọi người, mọi người vì mỗi người”; củng cố và phát triển niềm tin vững chắc
vào tương lai tươi sáng của đất nước, tiền đồ của dân tộc, chống lại những ảnh
phải giáo dục ý thức lao động, tình cảm lao động, thói quen lao động vì tập thể,
vì xã hội ngay từ tuổi thơ, từ vườn trw. Phải kiên trì rèn luyện cho học sinh có ý
thức sâu sắc về lao động, lao động để xây dựng đất nước phồn vinh, quê hương
tươi đẹp, lao động có kỹ thuật, có kỷ luật, với năng suất cao, chất lượng và hiệu
quả tổt. Phải làm cho thế hệ trw coi đó là mục tiêu quan trọng để phấn đấu thực
hiện. Cần nhận thức rõ rằng, càng làm tốt công tác hướng nghiệp cho học sinh
phổ thông thì càng có điều kiện để tiến hành có hiệu quả về giáo dục tư tưởng
19
chính trị, đồng thời phát huy mọi tài năng của thế hệ trw. Vì vậy, phải kiên quyết
khắc phục tình trạng coi nhẹ và tự phát đang phổ biến trong việc hướng nghiệp
cho học sinh phổ thông.
KẾT LUẬN:
Như vậy, qua phân tích ở trên có thể chiến lược trồng người có vai trò vô
cùng quan trọng, bởi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển
mỗi quốc gia. Để làm được điều đó thì các quốc gia cần có chiến lược đầu tư
phát triển con người. Muốn “Trồng người” cần chú trọng hình thành được người
thầy và đội ngũ người thầy có phẩm chất, năng lực thực hiện tốt sứ mệnh mà xã
hội giao cho. Bên cạnh đó, cần phát hiện, chăm lo, bồi dưỡng nhân tài, nguồn
nhân lực có chất lượng cao cho đất nước. Chăm lo sự mở mang toàn diện văn
hóa giáo dục, trước hết là khai hóa tri thức cho các lực lượng có trách nhiệm của
xã hội. Để thực hiện tốt những điều này thì bất kể quốc gia nào cũng phải có giáo
dục mới làm được, giáo dục chính là then chốt. Không có giáo dục thì không thể
thực hiện tốt mục tiêu trồng người, phát triển con người tốt được. Không có giáo
dục thì cũng không thể bồi dưỡng được nhân tài, bồi dưỡng được nguồn nhân lực
có chất lượng cao. Và nếu không có giáo dục thì không bao giờ có thể nâng cao
được dân trí, quan trí, doanh trí. Tóm lại là chúng ta đầu tư cho giáo dục chính là
đầu tư cho tương lai, đầu tư cho sự phát triển.
20