Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
1
CÔNG TY TÀI CHÍNH QUỐC TẾ (IFC)
Tập đoàn Ngân hàng thế giới
BÁO CÁO CHẨN ĐOÁN LĨNH VỰC TÀI CHÍNH VIỆT NAM
DỰ BÁO LĨNH VỰC TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM TÁC GIẢ: Margarete O.Biallas, Thái Hồng Thu, Nguyễn Nam Hạnh
dựng, dịch vụ và thương mại với tỷ lệ tăng trưởng giữa mức 8,3% và 10,4%. Trái lại,
tăng trưởng ở khu vực nông nghiệp vẫn thấp do một loạt các thiên tai, bao gồm hạn
hán ở miền Bắc, lũ lụt ở khu vực Bắc Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long và dịch
bệnh ở miền Nam. Năm 2006, lạm phát vẫn duy trì ở mức kiểm soát được là 6,6%. Tỷ
lệ người dân sống ở mức rất nghèo giảm từ 37% (năm 1998) xuống còn 23% (năm
2003) và cuối năm 2006 chỉ còn 18%.
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
3
Bảng 1 2003 2004 2005 2006
GDP(triệu USD – giá hiện hành) 39.672 45.210 52.408 60.850
Tăng trưởng GDP(% năm) 7,3 7,7 8,4 8,2
GDP thực / đầu người (USD) 492 556 638 725
Lạm phát, giảm phát GDP(% năm) 6,7 7,9 8,4 6,6
Tỉ giá ngoại hối (VND :USD) 15.414 15.676 15.817 15.964
Nông nghiệp (giá trị gia tăng (% của GDP) 22,54 21,76 20,89 20,4
Công nghiệp (giá trị gia tăng (% của GDP) 39,47 40,09 41,03 41,52
Dịch vụ, (giá trị gia tăng (% của GDP) 37,99 38,15 38,07 38,08
Tỉ lệ hộ gia đình nghèo (phạm vi quốc gia)
(%)
23% 22% 18%
Nguồn: Ngân hàng thế giới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; tổ chức thu thập thông tin kinh tế
(EIU).
Trong khi thị trường chứng khoán phát triển quá nóng vào 6 tháng cuối năm 2006 và
đầu năm 2007 khiến cho chính phủ phải quan tâm nhiều hơn đến việc quản lý thị
trường có khả năng đi xuống, chính thị trường đầu cơ giá lên đã đang là động lực lớn
cho các doanh nghiệp Nhà nước - đặc biệt là năm ngân hàng thương mại quốc doanh -
Mức độ xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam đã được 03 tổ chức lớn về xếp
hạng tín nhiệm quốc tế nâng lên, cho điểm Việt Nam trên một mức tương tự như Thái
Lan, Ấn Độ hoặc Philippines . Việt Nam được công ty Fitch xếp hạng BB- về xếp
hạng quốc gia (ngoại tệ) và BB (nội tệ), công ty Moody xếp hạng Ba2 (về ngoại tệ -
tăng hơn mức Ba3 trong năm 2006) và công ty Standard&Poor’s (S&P) xếp hạng BB+
(về nội tệ -tăng hơn mức BB trong năm 2006) và BB (về ngoại tệ, tăng hơn mức BB-
trong năm 2006).
1.3. Các ưu tiên của chính phủ :
Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) đã được tuyên bố là một ưu tiên của
chính phủ. Để thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển, Chính phủ đã thông
qua một số luật quy định quản lý lĩnh vực tư nhân và phát triển doanh nghiệp như Luật
Đầu tư và Luật Doanh nghiệp hợp nhất.
2. NHU CẦU DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
Người ta biết tương đối ít về nhu cầu thực sự của các dịch vụ tài chính đối với các
doanh nghiệp và hộ gia đình Việt Nam. Nhìn chung, lĩnh vực tài chính của đất nước
được thể hiện tiêu biểu qua mức thâm nhập tài chính thấp.
2
Trong tổng số dân cư là 83
triệu người, ước tính ít hơn 10% sử dụng dịch vụ ngân hàng một cách thường xuyên và
ít hơn 30% mở tài khoản tiết kiệm tại ngân hàng.
3
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
5Tiêu dùng và đầu tư trong nước vẫn giữ ở mức cao trong năm 2006. Chi phí tiêu dùng
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
6
Trong năm 2006, hơn 46.000 doanh nghiệp tư nhân mới được đăng ký, thể hiện mức
tăng vốn là 148 ngàn tỷ đồng so với năm trước. Điều này hứa hẹn sự gia tăng trong
năm 2007 này. Trong sáu tháng đầu năm 2007, khoảng 24.000 doanh nghiệp mới được
đăng ký với tổng mức vốn là 165 ngàn tỷ đồng. Trong suốt giai đoạn từ năm 2000 đến
6 tháng đầu năm 2007, hơn 230.000 doanh nghiệp mới được đăng ký với mức vốn
bình quân là 2,3 tỷ đồng. Khoảng 97% trong số các doanh nghiệp mới đăng ký được
xếp vào hình thức doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quy mô và sự phức tạp của các doanh
nghiệp ngày càng gia tăng cùng với số lượng tổng thể của các doanh nghiệp này.
Những doanh nghiệp này cần được tiếp cận nhiều hơn nữa về mặt tài chính để tăng
trưởng và thành công.
Trong khi đó, các khoản cho vay của ngân hàng tăng trưởng nhanh, chúng chỉ đáp ứng
khoảng 50% nhu cầu tài chính của các công ty(4). Hầu hết các khoản vay cung cấp
trên thị trường đều từ ngắn hạn đến trung hạn, vì các ngân hàng nói chung lại thiếu
nguồn vốn dài hạn và tránh xảy ra tình trạng không tương hợp giữa các kỳ hạn gửi tiền
và cho vay.
Ghi chú :
(4) Theo một nghiên cứu của CIDA ( Cơ quan Phát triển quốc tế của Canada), các
khoản tín dụng mới trong năm 2006 chiếm khoảng 17% - 19 % GDP, trong khi
đầu tư mới chiếm khoảng 38%-42% GDP. Các ngân hàng đang đáp ứng được
khoảng phân nửa các nhu cầu đầu tư.
3. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC TÀI CHÍNH
Lĩnh vực tài chính Việt Nam ít thanh khoản hơn so với một vài nước trong khu vực
Cho vay / Tiền gửi (%) (Tỷ lệ Dư nợ tín
dụng trong doanh số tiền gửi)
90 95 95 87
Tiền mặt/ Tổng số tiền gửi (%) (Tỷ
trọng tiền mặt trong doanh số tiền gửi)
45 30
Các khoản vay trên 1.000 người
Số tiền gửi trên 1.000 người
Số định chế tài chính trên 100.000 người
Số chi nhánh trên 100.000 người
Nguồn : Ngân hàng thế giới và Ngân hàng Nhà nước Việt nam
Cho tới năm 1988, khi hệ thống ngân hàng đã trở thành một hệ thống hai cấp, Việt
Nam đã vận hành một hệ thống ngân hàng một cấp, dẫn đến hệ quả là sự can thiệp
mạnh mẽ của nhà nước trong lĩnh vực tài chính. Kể từ năm 1988, việc chuyển đổi từ
một nền kinh tế kế hoạch tập trung sang một nền kinh tế thị trường đã tạo ra một hệ
thống ngân hàng đa dạng hơn, trong đó các ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân
hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài phục vụ một
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
8
cơ sở rộng lớn khách hàng. Bảng 3 trình bày diễn tiến của mỗi loại hình tổ chức tài
chính trung gian trong những năm qua. Vì Việt Nam gia nhập WTO vào tháng
07/2006, Chính phủ cần phải tự do hóa và mở cửa hơn nữa lĩnh vực tài chính và ngân
hàng để có sự cạnh tranh trực tiếp nhiều hơn từ nước ngoài.
Các ngân hàng sẽ bị ngăn trở hoạt động do không đủ vốn, quy mô hoạt động bị giới
hạn và rủi ro tín dụng cao. Việc cho vay nhắm đến ưu tiên cho các doanh nghiệp Nhà
Về mặt lịch sử, những ngân hàng thương mại quốc doanh đã là một công cụ cho vay
theo chính sách, với việc cho vay bị tác động bởi các mục tiêu xã hội hay chính trị hơn
là xem xét các mục đích thương mại. Mỗi ngân hàng đã tập trung một cách truyền
thống vào một phân đoạn ngành nghề nào đó. Những ngân hàng thương mại quốc
doanh vẫn đóng vai trò là nguồn tài trợ chính cho các doanh nghiệp Nhà nước, trong
đó có nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả và không có năng lực cạnh tranh
theo tiêu chuẩn quốc tế. Mặc dù đã phải đối mặt với nhiều rủi ro từ các doanh nghiệp
này nhưng các ngân hàng thương mại quốc doanh thường không có giải pháp thay thế
nào khác mà vẫn tiếp tục tài trợ.
Trong những năm gần đây, tiến trình đổi mới đã dẫn đến một sự gia tăng đa dạng hơn
cho vay khu vực tư nhân. Vì các ngân hàng thương mại quốc doanh đang tiếp cận việc
cổ phần hóa, họ ngày càng tăng cường tập trung mô hình ngân hàng đa năng cung cấp
một dãy đầy đủ các sản phẩm dịch vụ tài chính. Tất cả những ngân hàng thương mại
quốc doanh trừ Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long hiện đã có công
ty cho thuê tài chính.
Việc cổ phần hóa những ngân hàng thương mại quốc doanh trừ Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNN&PTNT) dự trù sẽ hoàn thành trong năm 2007
và chính phủ cũng lên kế hoặch cổ phần hóa NHNN&PTNT vào năm 2008.
Nhờ vào mạng lưới chi nhánh rộng lớn và uy tín cao với những người gửi tiền trong
nước đã giúp các ngân hàng thương mại quốc doanh có một lợi thế cạnh tranh mạnh
hơn so với các định chế tài chính tư nhân. Việc cho vay được bao cấp và có sự hỗ trợ
của chính phủ cho phép những ngân hàng thương mại quốc doanh thu hút một lượng
lớn khách hàng. Nhưng ngược lại, các ngân hàng này chịu sự can thiệp của chính
quyền và dẫn đến tình trạng dôi thừa nhân viên và dường như họ bị điều khiển hơn là
được quản lý. Tổng số nhân viên của những ngân hàng thương mại quốc doanh là
57.000 người, phần lớn trong số này làm việc trong NHNN&PTNT. Cũng vì thế, họ
thiếu động lực để xây dựng những tầm nhìn dài hạn và thay vào đó là theo đuổi những
thành 26 ngân hàng cổ phần đô thị và 11 ngân hàng cổ phần nông thôn, phản ánh thị
trường kinh doanh chính của các ngân hàng này. Vào cuối năm 2006, các ngân hàng
tương đối nhỏ này có cổ đông chính là tư nhân với mức vốn của mỗi ngân hàng cổ
phần đô thị thay đổi giữa mức 35 triệu USD tới 125 triệu USD
6
. Tầm hoạt động của
các ngân hàng cổ phần vẫn còn bị giới hạn, trong phạm vi từ 6 đến 80 chi nhánh
/phòng giao dịch, chủ yếu trong khu vực đô thị. Cùng với thị phần hoạt động nhỏ, tình
hình mạng lưới hạn chế đặt ra câu hỏi về khả năng cạnh tranh dài hạn của một số
NHCP và việc củng cố hơn nữa trong lĩnh vực này là điều được mong đợi. Các ngân
hàng cổ phần đang chủ động tăng vốn để đẩy mạnh năng lực cạnh tranh của họ.
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
11
Mặc dù quy mô nhỏ, nhân sự bị giới hạn và mạng lưới chi nhánh chưa đủ tầm khi so
sánh với các ngân hàng thương mại quốc doanh nhưng các ngân hàng cổ phần đã thu
hút nhiều nhà đầu tư sẵn lòng trả mức chênh lệch giá cổ phiếu rất cao nhờ vào sự tăng
trưởng nhanh, khả năng sinh lợi cao và chính sách chia cổ tức rộng rãi.
Bảng 4 bên dưới tóm lược các khoản đầu tư của các ngân hàng nước ngoài vào các
ngân hàng cổ phần trong thời gian gần đây:
Bảng 4
Ngân hàng cổ phần Ngân hàng nước ngoài Tỷ lệ % nắm giữ của ngân
hàng nước ngoài tại ngân
hàng cổ phần
ACB Standard chartered bank 8,56
Sacombank ANZ 10
Techcombank HSBC 10
VP. Bank OCBC 10
(62,8 triệu USD) vào năm 2008 và 3.000 tỷ đồng (187 triệu USD) vào năm 2010.
(6) Nguồn : Tạp chí Thời báo Kinh tế Việt nam (VET)
Các sản phẩm không được khai thác và quá giống nhau với việc thiết kế sản phẩm còn
sơ xài, nếu không nói là kém phát triển (ví dụ tài trợ cầm cố). Tuy nhiên, một vài ngân
hàng đã bắt đầu chuyên môn hóa và cải tiến sản phẩm. Ví dụ, ngân hàng Xuất nhập
khẩu Việt nam (Eximbank) và ngân hàng Đông Á đã tập trung vào các giao dịch ngoại
hối và tài trợ xuất nhập khẩu bao gồm thư tín dụng. Ngân hàng Sài Gòn Thương tín đã
mở một chi nhánh chuyên phục vụ cho giới phụ nữ và ngân hàng ACB đã mở rộng giờ
làm việc, hiện giờ làm việc 7 ngày một tuần tại các chi nhánh ở các siêu thị và trung
tâm mua sắm. Sacombank, ACB và ngân hàng Kỹ thương cũng bắt đầu cung cấp dịch
vụ ngân hàng qua điện thoại di động. Ngân hàng Xuất nhập khẩu và ngân hàng Kỹ
thương đã dẫn đầu việc đưa ra các công cụ phái sinh trên thị trường Việt Nam, cung
cấp các quyền chọn để giảm thiểu rủi ro trong việc định gía hàng hóa. Sacombank và
ACB cũng bắt đầu hoạt động của công ty cho thuê tài chính là công ty con của ngân
hàng.
Trong khi tất cả các ngân hàng cổ phần và ngân hàng thương mại quốc doanh cung cấp
dịch vụ tài trợ thương mại truyền thống thì dịch vụ bao thanh tóan hiện chỉ mới được
11 ngân hàng trong nước cung cấp bao gồm:VCB, ACB, Sacombank, Techcombank
và 11 chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Các ngân hàng nhỏ hơn thì phần lớn thuộc quyền sở hữu của các cá nhân, gia đình
hoặc các doanh nghiệp. Sự tách biệt giữa Hội Đồng Quản Trị và Tổng Giám đốc thì
luôn luôn không rõ ràng và Ban Kiểm soát hoạt động như Phòng Kiểm toán nội bộ
thay vì bảo vệ quyền lợi các cổ đông.
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
13
ại diện của các ngân
hàng quốc tế lớn và việc vốn hóa không phải là một vấn đề. Các ngân hàng nước ngoài ch
ủ
yếu cung cấp dịch vụ cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp nhà nư
ớc
lớn và các cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Một số các ngân hàng nước ngo
ài (Citibank,
ANZ, và HSBC) cũng hướng vào đối tượng là khách hàng người Việt Nam giàu có. Họ đ
ã
nỗ lực tung ra thị trường Việt Nam các sản phẩm mới như: các d
ịch vụ cho vay thế chấp
(ANZ) và chứng chỉ tiền gửi trung hạn (HSBC). Đồng thời họ đã thâm nhập vào thị trư
ờng
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
14
bán lẻ qua việc cung cấp dịch vụ cho vay mua xe ô tô, mua nhà và thẻ tín dụng quốc tế.
Các ngân hàng nước ngoài như Citibank, ANZ và HSBC cung c
ấp đầy đủ nhiều loại dịch vụ
ngân hàng qua Internet tương phản với chức năng yêu cầu còn h
ạn chế của các dịch vụ
Internet do các ngân hàng thương mại lớn của nhà nước cung cấp.
Các ngân hàng như Citibank và HSBC đang phát triển các hoạt động ngân hàng đầu tư m
ột
cách nhanh chóng để đáp ứng thị trường chứng khoán quốc gia đang bùng nổ.
Tuy nhiên, nh
ững hạn chế trong việc huy động tiền gửi Đồng Việt Nam gây cản trở cho một
sân chơi bình đẳng và việc mở rộng thị phần của các ngân hàng nước ngoài đã b
ị chậm lại.
ột
công cụ xã hội chống lại sự nghèo khổ và tín dụng vi mô như m
ột công cụ cho vay theo
chính sách cần được hỗ trợ bằng các khoản tiền trợ cấp. Điều này tạo ra một s
ố méo mó về
chính sách thêm vào đó là một khuôn khổ pháp lý và quản lý theo qui định còn trong th
ời kỳ
quá độ và yếu kém về tổ chức.
Lĩnh vực này bao gồm 3 loại thể chế chính thức, bán chính thức và phi chính th
ức. Khoảng
70-80% người nghèo ở Việt Nam đã tiếp cận với các dịch vụ tài chính vi mô, tối thiểu l
à tín
dụng và tiết kiệm được chủ yếu cung cấp bởi các tổ chức chính thức nh
ư: Ngân hàng Nông
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
15
nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, và Qu
ỹ
tín dụng Nhân dân. Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ và số lượng sản phầm cung ứng chưa tho
ả
mãn yêu cầu. Lĩnh vực bán chính thức bao gồm các tổ chức chính phủ và các t
ổ chức phi
chính phủ quốc tế. Lĩnh vực bán chính thức và phi chính th
ức gồm khoảng 57 tổ chức phục
vụ cho khoảng 164.000 khách hàng tại 547 xã và chiếm khoảng 7% thị trường t
ài chính vi
mô. Lĩnh vực phi chính thức, bao gồm những người cho vay tiền, ROSCAs, bạn bè và ngư
ời
Hoạt động trên thị trường cho thuê tài chính còn bị giới hạn một cách tương đ
ối, với tổng giá
trị tài sản đang cho thuê dưới 1% trong GDP, một phần do thiếu nguồn vốn dài h
ạn bằng
đồng Việt Nam với chi phí thấp của các công ty tư nhân cho thuê tài chính. Kh
ả năng thu hút
nguồn vốn với chi phí thấp bị kiềm chế do pháp luật hiện hành, điều này gi
ới hạn khả năng
huy động vốn trực tiếp từ công chúng của các công ty cho thuê tài chính. Ho
ạt động bị giới
hạn có thể quy cho quan niệm sai lệch về công cụ này của cơ quan giám sát, người cho thu
ê
và người đi thuê, tất cả những người này đều xem việc cho thuê tài chính như một hình th
ức
phụ của dạng cho vay có tài sản đảm bảo thông thường ở Việt Nam. Không có chế độ ưu đ
ãi
đặc biệt về thuế dành cho người đi thuê và cho thuê.
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
16
Tình hình tăng trưởng chậm trong lĩnh vực cho thuê tài chính có thể một phần là do s
ự thiếu
hiểu biết về công cụ này của công chúng.
3.7. Các Công ty bảo hiểm
Việt Nam đã tích cực phát triển ngành bảo hiểm. Luật bảo hiểm được ban h
ành tháng 4/2001
cho phép các công ty liên doanh nước ngoài và các chi nhánh công ty con c
ủa các công ty
nước ngoài được hoạt động tại Việt Nam. Kết quả là có 16 công ty cổ ph
Mặc dù có sự tăng trưởng đáng kể nhưng Vi
ệt nam có mức tỷ trọng thấp nhất so với Châu Á
trong năm 2005 về; (i) tổng phí bảo hiểm trên đầu người là 11 USD so với mức b
ình quân
của Châu Á là 198 USD và (ii) tỷ lệ thâm nhập thị trường (tỷ lệ % tổng phí trong GDP) l
à
2% so với mức bình quân của Châu Á là 6,8% (còn thấp nhất lần lượt là 11 USD so v
ới mức
trung bình của Châu Á là 198 USD và 2% so với mức trung bình của Châu Á l
à 6,8%.).
Chính phủ đang nhắm mục tiêu tăng mức độ thâm nhập thị trư
ờng của hoạt động bảo hiểm
lên 4,2% đến năm 2010. Tuy nhiên, có một vài trở ngại để đạt đến mục tiêu tham vọng n
ày,
bao gồm:
+ Thiếu những khoản đầu tư nội tệ dài hạn, suất thu lợi cao, chất lư
ợng tốt. Đặc biệt
là ngành bảo hiểm nhân thọ chịu ảnh hưởng cụ thể bởi sự phát triển yếu kém của thị trư
ờng
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
17
vốn quốc gia, tính không ổn định của thị trường trái phiếu và sự trì trệ của thị trư
ờng bất
động sản.
+ Tính sẵn có của sản phẩm bị giới hạn vì kh
ả năng tiếp cận sản phẩm của khách
hàng chỉ giới hạn trong khu vực thành thị (cả nhân thọ và phi nhân thọ) v
à khách hàng
ưu trí do nhà
nước quản lý (quỹ bảo Hiểm xã hội nhà nước) với số dư đang hoạt động là 2,5 tỷ USD v
ào
cuối năm 2006. Quỹ bảo hiểm xã hội Nhà nước này cho NHNNVN và ngân hàng đầu t
ư
phát triển vay để cho vay chính sách và đầu tư vào trái phiếu, trái phiếu kho bạc , trái phi
ếu
ngân hàng và các khoản tiền gửi ngân hàng. G
ần đây chính phủ vừa ra quyết định thực hiện
một kế hoạch hưu trí tự nguyện cho những nguời làm việc không có hợp đồng dài hạn, ngo
ài
việc đẩy mạnh kế hoạch hưu trí hiện tại. AON Việt Nam cũng đang chủ động h
ợp sức với
một công ty quản lý quỹ Việt Nam để quản lý quỹ hưu trí cho các công ty Việt Nam.
3.9. Các định chế tài chính phi ngân hàng khác
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
18
Bên cạnh các ngân hàng, công ty cho thuê tài chính và công ty bảo hiểm, Việt Nam c
òn có 6
công ty tài chính và 18 công ty quản lý vốn đang hoạt động trên thị trư
ờng. Có tổng cộng 59
công ty chứng khoán và môi giới chứng khoán đăng ký tại Uỷ ban Chứng khoán nhà nư
ớc
Việt Nam, là cơ quan quản lý hai trung tâm giao dịch chứng khoán tại TPHCM và Hà Nội.
Cho đến tháng 8/2006, công ty đầu tư vốn nhà nước (SCIC) đã được thành lập như m
ột công
ty tài chính chuyên môn hoá. Đây là công ty nắm giữ mọi tài sản nhà nước, đư
ợc ủy quyền
ệc
quản lý rủi ro không có vấn đề.
4.2. Tài sản Nợ
Các ngân hàng TM nhà nước có tổng tài sản nợ chiếm 70% trên thị trư
ờng (xem biểu đồ 2).
Do mạng lưới chi nhánh hoạt động rộng khắp và uy tín tốt, các ngân hàng TM nhà nư
ớc có
khả năng thu hút các khoản tiền gửi ngắn hạn và dài hạn trên khắp cả nước.
Các ngân hàng TMCP đang tăng nỗ lực của mình để huy động tiền gửi và tri
ển khai nhiều
sản phẩm để thu hút tiền gửi tiết kiệm, hướng mục tiêu vào các cá nhân ngư
ời Việt Nam để
đẩy mạnh huy động tiền gửi. Ngân hàng Quân Đội, Eximbank, ACB đã đi tiên phong v
ới
sản phẩm tiết kiệm kèm theo các giải thưởng, trong khi VIB và EAB cung c
ấp sản phẩm tiết
kiệm với lãi suất bậc thang và ngân hàng VP đã đưa ra s
ản phẩm tiết kiệm bằng đồng nội tệ
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
19
được đảm bảo theo chỉ số ngoại hối. Trong khi điều này đã dẫn đến thị phần tăng l
ên, thì
thời hạn tiền gửi tiết kiệm vẫn hầu hết là ngắn hạn và tốt nhất là trung hạn.
5. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG
Theo dữ liệu của NHNNVN, thành quả hoạt động của lĩnh vực ngân h
àng trong năm 2006
đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt nổi bật là các NHTMCP. Tổng nợ vay không sinh lời-
NPL của toàn ngành trong năm 2006 ước lượng xấp xỉ 3% theo tiêu chu
2001 là 13% và năm 2002 là 8% (xem bảng 5):
Bảng 5: Nợ quá hạn và chưa thanh toán/ tổng nợ (NPL)
Năm
NHTMNN
Ngân hàng chính sách xã hộ
i và
MHB
NH TMCP không
thuộc sở hữu Nhà nư
ớc
Tổng cộng
2003
0,00% 0,00% 0,00% 0,00%
2004
2,92% 4,92% 1,91% 2,77%
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
20
2005
3,81% 3,52% 1,42% 3,17%
ên, các ngân
hàng có thời gian ân hạn là 3 năm để thực hiện theo điều khoản này. B
ắt đầu từ năm 2008,
tất cả các ngân hàng buộc phải tuân theo qui định này.
5.2. Thành quả Hoạt động của các NHTMNN
Theo như bảng 6, trong năm 2006 tình hình tăng trư
ởng nợ vay tại hầu hết các NHTMNN
tăng trưởng chậm chạp hơn so v
ới năm 2005. Các NHTMNN tiếp tục mất thị phần cả về tiền
gửi và cho vay. Thị phần tiền gửi đã giảm từ 75% trong năm 2005 xuống c
òn 68,67% trong
năm 2006 và thì phần nợ vay giảm từ 87% trong năm 2005 xuóng còn 80% trong năm 2006.
Về lợi nhuận, chỉ riêng Vietcombank là có chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên tổng tài s
ản (ROA)
có thể so sánh với tiêu chuẩn của khu vực (trung bình của các ngân hàng Châu Á là x
ấp xỉ
1,11%
8
). Chỉ tiêu ROE trung bình của các ngân hàng Châu Á là khoảng 11%. Nhìn b
ề
ngoài, chỉ Vietcombank và Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam vư
ợt qua mốc chuẩn
này . Tuy nhiên, báo cáo Kiểm Toán của hầu hết các NHTMNN thường là đánh giá có b
ảo
lưu điều này có nghĩa là lợi nhuận thực sự hoặc các tỷ số thậm chí có thể xấu hơn .
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
21
2005 2006*
2005 2006
2005 2006
2005
2006
2005
Tăng trư
ởng danh
mục cho vay (%)
11 31 17,72
14 24 24 20 54
Chỉ tiêu lợi nhuận
+ ROAA (%)
+ ROAE (%)
+ Biên độ L
ãi ròng
(%)
+ Chi phí/thu nh
ập
(%)
3,36
34,76
0,39
8,08
NA
45 0,16
45,9
NA
57 0,47
8,33
1,34
64,86
0,5
6,39
7,27
59,07 4,82
67,29 3,97
65,35 4,36
ợ cho vay gộp
(%)
2,2 231,6 3,4
2,2 544,3 8,81
5,26 130,8 27,9
ên
đáng kể tính bình quân là 68% trong năm 2006. Một vài ngân hàng tăng hơn g
ấp đôi danh
mục cho vay của mình. Trong khi tăng trưởng tín dụng phản ánh sự năng động c
ủa các
NHTMCP trong việc chiếm lấy thị trường các Doanh nghiệp nhỏ và v
ừa (SME) đang tăng
trưởng cao và đa dạng hóa các sản phẩm cho vay của mình, thì m
ột phần của việc tăng
trưởng tín dụng có liên quan đến việc cho vay kinh doanh chứng khoán – một hoạt đ
ộng
mang tính rủi ro rất cao và dễ bị tổn hại do tính bất ổn định cao của thị trư
ờng chứng khoán.
( chứa đựng đầy rủi ro và yếu điểm trong một thị trư
ờng chứng khoán đầy biến động. Tại
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
23
một số NHTMCP, tình hình cho vay kinh doanh chứng khoán được báo cáo là lên cao đ
ến
40-50% tổng dư nợ).
So với các NHTMNN, các NHTMCP đạt được nhiều lợi nhuận hơn dù r
ằng chi phí huy
động vốn cao hơn với ROE bình quân là 16%và ROA bình quân là 1,85%. Lãi ròng t
ăng
đáng kể bình quân lên đến gần 3 lần trong năm 2006 so với năm 2005. Chi
ếm tỷ trọng cao
trong lợi nhuận đạt được này phải kể đến là l
ợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chứng khoán
(Tỷ đồng)
Vốn CSH
(Tỷ đồng)
Dư n
ợ cho
vay khách
hàng (%)
Tăng trư
ởng
danh m
ục
cho vay (%)
T
ổng NPL (nợ
quá hạn v
à
chưa thanh
toán) (%)
Lợi nhuận ròng
(Tỷ đồng)
NHTMCP
2006 2005 2006*
2005
2006 2005 2006 2005 2006
2005 2006 2005
81
71
59
40
41
28
0,194
0,723
NA
0,2984
0,5579
NA
505
470
259
299
234
21
Báo cáo chẩn đoán lĩnh vực tài chính Việt Nam – Tài liệu của IFC
Bản dịch của P. Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế
24
Techcombank
VIB
NHTMCP Q. Đội
NH Đông Á
Habubank
SaigonBank(SCB)
9116
6441
6240
4379
4181
4014
3884
3114
827
6344
10666
8968
8215
8516
5525
4032
6125
6090
6411
4020
4291
4379
2358
2307
1605
680
377
3873
246
316
369
186
188
45
234
8811
9111
5906
7986
5983
8207
3363
5007
4665
4661
4811
2333
2730
2659
2048
1131
602
2764
5380
5255
4300
5960
3330
49,16
55
137
24
31
41
85
153
77
56
52
36
40
24
29
57
126
55
39,32
3,11
NA
NA
NA
NA
0,853
NA
NA
NA
NA
211
152
185
154
98
113,42
145
104
119
33
53
67,87
39
58
18,16
57
206
69
109
101
75
47
40
56
77
50
80
33
32
35
ROAE(%)
Chỉ số sinh lời
trên vốn chủ sở
hữu bình quân
Cho vay
ròng/Tổng tài
sản (%)
Capital
Adequacy Ratio
(CAR) (%)
Chỉ số an toàn
vốn tối thiểu
NPLs/ Tổng
dư nợ cho
vay(%)
Nợ không
sinh lời/ /
Tổng dư nợ
gộp
NGÂN
HÀNG
TMCP
2006 2005 2006 2005 2006 2005 2006 2005 2006 2005 2006 2005
Trung
bình
0,63 0,41 1,85 1,49 15,91 17,66 53,28 59,60 19,94 14,43 0,85 1,08
ACB
1,3 1,6
2,8 1,9
0,5 0,4
0,9 n.a.
0,2 0,2
0,5 0,5
0,3 0,2
1,2 1,8 1,1 1,1
0,7 0,7
0,8 0,8
1,47 1,51
2,40 1,88
1,74 0,21 1,84 2,25
1,94 1,48
14,55 17,66
19,49 21,25 17,23 23,22
13,41 14,38
15,4 14,75
38,11 38,65
58,10 58,28
55,68 56,58 50,85 50,44
43,65 52,34
74,79 83,26
55,13 58,60
66,13 69,99
72,36 71,92
32,87 22,04
49,29 54,11
10,54 10,54
19,37 17,01
0,19 0,30
0,72 0,56
n.a. n.a. 3,11 1,82
n.a. n.a.
0,85 1,16
n.a. n.a.
n.a. n.a.
n.a. 9,55
n.a. n.a.
n.a. n.a. n.a. 1,08
n.a. n.a.