Tine Gammetoft. 2007. "Prenatal diagnosis in postwar
Vietnam: power,
subjectivity and citizenship". American
Anthropologist, Vo. 109, N0. 1. Pp.
153-163
Chẩn đoán thai sớm ở Việt Nam thời kì sau 1975: Quyền lực,
tính chủ thể và quyền công dân
Tine M. Gammeltoft
Tóm tắt: Trên thế giới, khám thai định kì bao gồm siêu âm hình ảnh bào thai và các kĩ
thuật chẩn đoán thai sớm khác. Tuy có sự phát triển toàn cầu này, hầu như chưa nghiên
cứu nhân học nào tìm hiểuỹem những kĩ thuật mới này đã triển khai ở các nước ngoài Âu
Mỹ như thế nào. Trong bài báo này, tôi nghiên cứu xem những phụ nữ mang thai ở thủ đô
Hà Nội, Việt Nam làm thế nào để có được những chọn lựa đầy khó khăn khi kết quả siêu âm
cho thấy họ đang mang thai bị dị tật và quyết định phải giữ hay chấm dứt thai kì. Trong khi
nghiên cứu ở Bắc Mỹ với bối cảnh xã hội tự do cao và nhấn mạnh chủ nghĩa cá nhân, người
ta coi vấn đề chẩn đoán thai sớm là “sự chủ động về đạo đức” của cá nhân, tôi lại chỉ ra
cách mà phụ nữ Việt Nam chuyển vấn đề phải chọn lựa của mình sang vấn đề chung của
tập thể, dòng họ, các liên hệ xã hội và chia sẻ trách nhiệm. Điểm mấu chốt quan trọng là,
để hiểu biết toàn diện về hành vi và mục đích sinh sản của phụ nữ, cần cân nhắc đến các
yếu tố địa phương như quyền lực, tính chủ thể, và quyền công dân. [Từ khóa: siêu âm, phá
thai, quyền công dân, tính chủ thể, Việt Nam].
Trong ngành nhân học, sự phát triển công nghệ mang tính toàn cầu hiện nay về chẩn
đoán thai sớm đã làm nảy sinh nhu cầu tìm hiểu các vấn đề khác nhau như: các cá nhân và
cộng đồng có thể xác định và bảo lưu những giới hạn xác định như thế nào thì được xem là
một con người bình thường; làm thế nào ngành y và công nghệ có thể ứng dụng để có cách
nhìn chung về một cơ thể và sự sống “bình thường”; làm thế nào để các chính sách hướng
đến tăng chất lượng cuộc sống, con người và loài người trở thành những vấn đề khoa học và
Nam này bạn phải khóc khi có ai đó trong gia đình mất, để thể hiện tình yêu thương của bạn
với người đó. Cháu tôi cũng biết khóc, chứng tỏ nó là con người”.
Sáng ngày 21/2/2004, Tuyết phải làm thủ thuật phá thai sau chẩn đoán khi thai đã
được 29 tuần tuổi. Cuộc phá thai được thực hiện bằng phương pháp không dấu hiệu chuyển
dạ, và vì thuốc phá thai không được dùng ở bệnh viện này, bào thai đã sống được vài phút
sau khi sinh.
Ba ngày trước, tôi gặp Tuyết lần đầu tiên, trong một buổi sáng tháng Hai xám xịt,
khi Lan, y tá đang làm việc ở phòng chẩn đoán hình ảnh ba chiều, bắt tôi tìm cô ở bên ngoài
sân bệnh viện. Tuyết đã đi mất, và Lan vừa nói vừa thở dài: “ Bác sĩ thực hiện ca siêu âm
này thấy có nước ở trong não bào thai, nhưng chúng tôi chưa tin đó là thật. Chị có thể tìm
cô ấy và bảo cô ấy đến gặp tôi nói chuyện không?”
2
Sân bệnh viện khi đó rất đông các bà
bầu, nhưng Tuyết dường như không ở trong số đó. Lan chỉ một người đàn ông trẻ ngồi ở
chiếc ghế nhỏ trong quán cafe: “Kia kìa.Chồng cô ấy đang ngồi đó. Chị đi và nói chuyện
với anh ấy đi”. Tôi đến và tự giới thiệu mình và giải thích nghiên cứu của chúng tôi cho
Huy. Anh kéo chiếc ghế nhựa màu xanh bên cạnh và mời chúng tôi uống café. “Thật tồi tệ
quá,” anh nói, “tôi cứ băn khoăn không hiểu sao lại có việc này. Chị có thể giải thích cho tôi
được không?” Đúng lúc này, Hằng, đồng nghiệp của tôi tới, và ngay sau đó Tuyết cũng
đến. Trông cô rất nặng nhọc. Nhìn cái bụng lùm lùm tôi đoán cô có thai khoảng 7 tháng.
Tuyết cầm chặt tờ giấy in kết quả siêu âm trên tay. Hằng hỏi hai vợ chồng họ định làm gì
trong tình hình này. Huy nói: “Chỉ có hai cách lựa chọn. Giữ hoặc bỏ. Rất khó quyết định.
2
Nhưng chúng tôi phải hỏi ý kiến bác sĩ.” Tuyết khẩn khoản nói với Hằng: “Chị có thể làm
ơn đi với em và hỏi bác sĩ hộ em không? Em không biết phải nói thế nào cả”.
Hai người đi, và chừng nửa tiếng sau thì quay lại. Hằng nói rằng bác sĩ chỉ đơn giản
khuyên Tuyết thử siêu âm ba chiều lần nữa ở Bệnh viện phụ sản Trung ương và cũng nên
thực hiện phá thai ở đó nếu cô được khuyên như vậy. Trong khi Huy và ba phụ nữ bán café
“chủ động đạo đức”. Rapp viết, “Kĩ thuật y sinh học này cung cấp tình huống để cho những
phụ nữ mang thai phải thực hiện vai trò của những nhà triết học đạo đức: người ta không thể
đối mặt với vấn đề “kiểm soát chất lượng” bào thai mà không cân nhắc đến những tiêu
chuẩn phù hợp với cộng đồng người là của ai và những hạn chế nào mà các cặp bố mẹ tình
nguyện có thể gặp phải (1998:46). Tuy nhiên, trường hợp của Tuyết, và những trường hợp
3
tương tự, đưa đến câu hỏi về tính phổ biến của việc phải đối mặt với các kĩ thuật mới về thai
sản.
Trong khoảng 2 năm, các đồng nghiệp Việt Nam và tôi đã trò chuyện được với 55 phụ
nữ có hoàn cảnh tương tự như Tuyết. Khi phải đối mặt với kết quả siêu âm nói rằng những
đứa trẻ họ đang mang trong mình có gì đó bất thường-chân quá ngắn, thiếu tay, não úng
thuỷ, dị tật tim-những người phụ nữ này đã bất thình lình “bị đẩy vào một thế giới hành
động”, như một phụ nữ mô tả (thảo luận với tác giả, 10/2/2004). Phải quyết định hành động
như thế nào trước kết quả xét nghiệm y học hoàn toàn mâu thuẫn với cảm giác cơ thể rằng
mình mang thai hoàn toàn khoẻ mạnh, những phụ nữ này đứng trước một tình huống văn
hoá chưa từng có: Họ có tin kết quả hay không? Họ nên giữ cái thai lại hay không? Chuyện
gì xảy ra nếu họ giữ lại? Hay không giữ? Họ nên tìm kiếm lời khuyên của ai? Họ nên tin lời
khuyên của ai? Đối mặt với hàng loạt các câu hỏi hoang mang và đau đớn như vậy, hầu hết
phụ nữ đều trải qua quá trình tìm hiểu các ý kiến khác nhau từ những mối quan hệ xã hội
xung quanh trước khi đi đến quyết định. Trong khi ở vào tình huống đau xót về tình cảm-
quyết định để cho đứa trẻ trong bụng chết hay sống- những phụ nữ này hiếm khi có thể giải
quyết vấn đề khó khăn này bằng cách chỉ nhìn vào những tình cảm và quy chuẩn đạo đức
của chính họ. Nhiệm vụ của họ, như hầu hết các phụ nữ bày tỏ, không phải là xác định nên
làm điều gì là tốt nhất trong hoàn cảnh đó, từ trong chính trái tim họ. Nhiệm vụ của họ là
hiểu xem điều gì là đứng đắn trong con mắt của những người khác. Không giống như hầu
hết những phụ nữ New York trong nghiên cứu của Rapp (1999), nhìn chung những phụ nữ
miền Bắc Việt Nam này dường như không có tự do và ý chí cá nhân trong việc học hỏi kinh
nghiệm và trong quan hệ với những người xunh quanh. Không những thế, họ dường như
thuật này đang phát triển nhanh chóng” (2003:17). Phân tích mà tôi trình bày dưới đây bắt
nguồn từ quan niệm này nhưng có tiến đến một bước cao hơn. Không cho rằng các cá nhân
được tự do hành động không phải vì những khó khăn bên ngoài đặt ra với họ, tôi xây dựng
một kiểm chứng sâu sắc về những hình thức và con đường của quyền lực tạo nên những chủ
thể người. Bằng cách phân biệt quá rõ cá nhân và thế giới bên ngoài, người ta có nguy cơ
đồng tình với cách hiểu con người là bản thể học trước thế giới xã hội của mình. Trong bối
cảnh như vậy, cách nhìn của Maurine Merleau-Ponty về các đặc điểm xã hội tiềm tàng của
cá nhân là rất có ích trong việc phân tích mối quan hệ gần gũi giữa cá nhân và môi trường
xã hội: “Quan hệ của chúng ta với xã hội, cũng giống như quan hệ của chúng ta với thế giới,
là sâu sắc hơn bất kì một khái niệm rõ ràng hay bất kì sự phê phán nào…Chúng ta phải quay
trở lại xã hội, nơi chúng ta có những liên hệ với những thực tế cuộc sống, nơi chúng ta thực
hiện những hành động không thể tách rời với mình trước bất kì hiện thực khách quan nào.
Xã hội đã là như vậy trước khi chúng ta đến để nhận biết hay phê phán nó” (1995:362). Nói
cách khác, là con người chúng ta không quan hệ với môi trường xã hội như chủ thể với
khách thể; hơn thế, chúng ta hòa vào nó và là những phần của thế giới. Bài viết này được
soi sáng bởi quan niệm hiện tượng luận của tồn tại xã hội trong thế giới và sự phân tích của
Michel Foucault về quyền lực. Mặc dù lý thuyết hiện tượng học của Merleau –Ponty và hậu
cấu trúc luận của Foucault có thế bị coi là đối chọi nhau, tôi cho rằng họ chia sẻ nhiều điểm
chung-nhất là sự chia sẻ trong việc cố gắng chỉ ra cách mà chủ thể người bị tác động xã hội.
Như Nick Crossley đã chỉ ra, “Có điểm chung giữa hai tác giả này và nó giúp nghiên cứu
của họ -nhất là phân tích về sự thể hiện cá nhân, quyền lực, và chủ thể -được gắn kết và làm
phong phú thêm vốn hiểu biết” (1996:99).
Quan điểm trung tâm của Foucault là không thể hiểu chủ thể nếu tách rời khỏi
những câu hỏi về đặc điểm quyền lực trong xã hội. Vào thế kỉ 18, ông cho rằng, có một thứ
quyền lực mới, “có tính lan truyền” đã xuất hiện, một hình thức quyền lực được thực hành
trong cơ thể xã hội hơn là bên ngoài nó: “Quyền lực với đến được tính cách riêng của các cá
nhân, chạm đến cơ thể họ và chuyển thành hành động, quan điểm, quan hệ cá nhân, các quá
5
cũng như lợi ích của “sự lựa chọn” vào tận trái tim của những người trải nghiệm” (Rapp,
1997:45, nhấn mạnh thêm). Phân tích của Rapp vì thế cung cấp dẫn chứng cho “tính chính
trị của chính cuộc sống” (Rose 2001) được đặc thù ở những xã hội tự do bậc cao trong đó
các chủ thể hành động tự do có trách nhiệm phải tự đưa ra quyết định quan trọng. Nhưng
nếu xu hướng khái niệm hóa tự do cá nhân là gắn bó chặt chẽ với một hình thức cụ thế của
xã hội, thì các hình thức khác của xã hội có thể tạo ra những ý tưởng khác về tính chủ động
và hành động con người. 6
Đặc điểm đất nước: chẩn đoán thai sớm ở Việt Nam
Trong vài thập niên trước đây, chính phủ Việt Nam đã coi vấn đề tăng trưởng dân số
là điểm trung tâm trong các chương trình chính trị, có những cố gắng phi thường trong việc
giảm và kiểm soát số lượng dân số (cf. Gammeltoft, 1999). Ngày nay, những thông điệp của
chính phủ tiếp tục coi dân số và phát triển là những vấn đề có mối quan hệ qua lại và tác
động lẫn nhau, xem việc phát triển dân số ổn định, có chất lượng là tiền đề cơ bản cho tăng
trưởng và phát triển quốc gia. Sự chú ý gần đây dường như chuyển từ việc tập trung hẹp vào
kế hoạch hoá gia đình và sinh sản sang những khái niệm rộng và có chất lượng hơn như
“sức khoẻ sinh sản”, “phúc lợi trẻ em”, và “chất lượng dân số”. Mục tiêu trọng tâm của
Chiến lược Dân số quốc gia mới được thông qua gần đây nhất (2001) là nhằm tăng cường
“chất lượng dân số” bằng cách không ngừng cải thiện “các khía cạnh thể chất, tinh thần và
trí tuệ của dân số” (NCPFP 2001:13). Việc tăng cường này được coi là tiền đề cơ bản cho
kế hoạch hiện đại hoá và công nghiệp hoá đất nước. Chính phủ sử dụng Chỉ số Phát triển
Con người của UNDP để thao tác hoá khái niệm “chất lượng dân số” vốn hay bị lảng tránh.
Các chỉ số chất lượng dân số của Việt Nam tuy nhiên không hoàn toàn giống như các chỉ số
HDI. Một trong những điểm khác biệt là một trong những mục tiêu quan trọng đến 2010 là
giảm số trẻ sinh bị dị tật bẩm sinh. Như một văn bản nhà nước đã nêu rõ: “Hoàn cảnh sống
của những người bị dị tật bẩm sinh rất đau đớn, cuộc sống của thành viên gia đình họ cũng
khoảng 5 năm qua, siêu âm ba chiều, được hiểu phổ biến là “siêu âm dị tật” đã trở thành
nhu cầu chung của các phụ nữ có thai ở vùng đô thị
4
.
Địa điểm và mấu nghiên cứu: phụ nữ mang thai ở Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
Bệnh viện Bà mẹ và Trẻ em Hà Nội được thành lập năm 1979, do tổ chức phụ nữ
quốc tế tài trợ với như một sự bày tỏ thiện ý đoàn kết với phụ nữ Việt Nam “chịu nhiều khó
khăn” (TS. Nguyễn Huy Bạo, phỏng vấn cá nhân, 23/1/2006). Lịch sử của bệnh viện này,
giống như nhiều bệnh viện công lớn khác ở miền Bắc Việt Nam, là không thể tách rời với
lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc của đất nước. Sau khi giành độc lập năm 1954, chính
phủ xã hội chủ nghĩa mang tên Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã có những nỗ lực vượt bậc
trong việc thành lập hệ thống chăm sóc sức khoẻ mới, dành 1/3 ngân sách quốc gia cho
ngành y tế (Craig 2002).Trong các chiến dich tuyên truyền của nhà nước, xây dựng đất
nước và nâng cao sức khoẻ có quan hệ gần gũi với nhau. Như một khẩu hiệu: “Vệ sinh là
yêu nước” (xem Craig 2002:56). Ở Việt Nam ngày nay, các thông điệp của chính phủ vẫn
duy trì mối liên hệ gần gũi giữa xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, khoa học,và y học, coi
việc nâng cao sức khỏe là nỗ lực tập thể của toàn dân. Chẳng hạn, trong lễ kỉ niệm 30 năm
ngày độc lập dân tộc 30/4/2005, một bài báo đăng trên trang nhất tạp chí Sức khỏe và Cuộc
sống của Bộ Y tế đã gắn liền “nhân dân” với “đơn vị chăm sóc sức khỏe”: “Con đường mà
ngành y tế đi trong 30 năm qua từ 1975-2005 cũng giống như con đường mà nhân dân ta đi
qua. Đây không phải là con đường thẳng trải đầy ‘hoa hồng và hoa thơm cỏ lạ’. Chúng ta đã
phải vượt qua nhiều khó khăn gian khổ. Chúng ta đã nếm trải ngọt ngào, rơi nước mắt, và
thậm chí đổ máu để có được thành tựu ngày hôm nay” (Trâm 2005:1).
Bệnh viện Bà mẹ và Trẻ em Hà Nội có dịch vụ máy siêu âm hai chiều từ giữa những
năm 1980, và năm 2003, bệnh viện mua máy siêu âm 3 chiều. Mẫu nghiên cứu bao gồm 55
phụ nữ của chúng tôi có 30 phụ nữ lấy từ danh sách của phòng siêu âm 3 chiều trong thời
gian từ 12/2003 đến 4/2004 và có 25 phụ nữ được lấy từ khoảng tháng 6 đến tháng 10 năm
2005. Trong những tháng đầu tiên của nghiên cứu, hằng ngày chúng tôi đến phòng siêm âm
Trong những phần tiếp theo, trước tiên tôi sẽ tìm hiểu phụ nữ trong nghiên cứu của
chúng tôi làm thế nào để quyết định phải làm gì khi có kết quả chẩn đoán thai.Vì tất cả phụ
nữ mà chúng tôi nghiên cứu đều tham vấn với các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe
và người thân trước khi quyết định phải làm gì, chúng tôi tập trung thảo luận các quyết định
y học và gia đình ảnh hưởng đến sự trả lời và phản ứng của phụ nữ. Tiếp theo, dựa trên
phân tích các thông tin dân tộc học đó, chúng tôi tìm hiểu làm thế nào mà những tri thức,
chủ thể, quyền lực (subjectivities và governmentalities) có xu hướng hình thành khác nhau
trong một khu vực Đông Á và đất nước xã hội chủ nghĩa như Việt Nam.
Chấp nhận phá thai: sự tin cậy vào quyết định y học như một biểu hiện của sự thuộc
vào
“Nhìn này, đây chẳng phải là một em bé xinh xắn sao!” bác sĩ siêu âm kêu lên. Gật
đầu xác nhận, ông dừng ảnh ba chiều để có một hình ảnh rõ nét của khuôn mặt bào thai. Tôi
9
nhìn Tâm, người phụ nữ đang siêu âm, cô dường như không hưởng ứng với sự nhiệt tình
của bác sĩ siêu âm. Trông cô lo âu, hết liếc nhìn màn hình lại nhìn bác sĩ và ngược lại. Vài
phút sau, tôi hiểu ra vì sao. Khi bác sĩ quét lên phần bụng của bào thai, thái độ của bác sĩ đột
nhiên thay đổi. Ông không nói chuyện nữa mà tập trung toàn bộ vào việc siêu âm. “Có cái
gì đó không ổn ở đây”, ông nói. Hình ảnh trên màn hình cho thấy khoảng đen lớn che gần
như toàn bộ phần bụng của bào thai. Sau đó, Tâm cho chúng tôi biết kết quả siêu âm ở bệnh
viện địa phương nói rằng bào thai có nhiều nước ở trong dạ dày. “Thai bị dị tật rồi,” bác sĩ
siêu âm thông báo đơn giản với cô như vậy. Chồng cô không tin vào kết quả này và đưa cô
lên Hà Nội để siêu âm lại.Chỉ khi siêu âm lần thứ hai ở Bệnh viện Bà mẹ Trẻ em Hà Nội và
lần thứ ba ở Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Tâm và chồng mới tin rằng thực sự có vấn đề
nghiêm trọng.
Cũng giống như các cặp vợ chồng trẻ khác, hầu hết phụ nữ và họ hàng đều tỏ ra
không tin vào kết quả khi lần đầu tiên được thông bao là bào thai “bất thường”. Hầu hết
trong khi một phụ nữ quyết định bỏ mặc dù bác sĩ khuyên là nên giữ lại. Tuy nhiên, đại bộ
phận tuân theo chỉ định của bác sĩ, giống như Tuyết và họ hàng của cô, thấy rằng tốt nhất họ
nên tin tưởng ý kiến của các chuyên gia.
Những cuộc trò chuyện của chúng tôi với những phụ nữ và gia đình họ cho thấy, tin
tưởng vào kết luận y học không phải là quá trình tự động hay định sẵn mà nó đòi hỏi sự cố
gắng nhận thức và nâng dần niềm tin một cách có chủ tâm của phụ nữ và họ hàng.
7
Mặc dù
rất ít phụ nữ thể hiện rõ ràng-và thậm chí là ít bộc lộ hành động hơn-cảm giác hoài nghi về
kết luận của bác sĩ, sự nghi ngờ về tính chính xác của chẩn đoán y học là thường thấy ở hầu
hết các trường hợp phá thai mà chúng tôi biết. Ở một số trường hợp, không hề có sự tác
động của chúng tôi, phụ nữ và họ hàng họ tuyên bố là họ chắc chắn tin vào ý kiến chuyên
gia và không nghi ngờ điều gì về độ tin cậy của kết quả siêu âm và sự cần thiết của việc phá
thai. Điều mà họ quan tâm dường như là nói về một điều mơ hồ nào đó, trên tất cả, một nỗi
lo lắng về một sự đau đớn vô cùng và sự mất mát mà họ gánh chịu có thể nằm ở một chẩn
đoán y học sai lầm. Chẳng hạn, khi chúng tôi nói chuyện với Tuyết hai năm sau khi phá
thai, mẹ cô vẫn khăng khăng nói rằng mặc dù đứa bé có khóc khi sinh và trông hoàn toàn
bình thường, đầu của nó dường như dài hơn bình thường. Bà dường như vẫn cố tự thuyết
phục mình là quyết định của bác sĩ là đúng đắn. Một số phụ nữ thể hiện sự nghi ngờ của
mình rõ ràng hơn, chẳng hạn My, 29 tuổi, người phải phá thai ở tháng thứ năm vì bào thai
bị phù (giữ nước bất thường). Khi chúng tôi gặp lại cô hơn một năm sau khi bỏ thai, My vẫn
cảm thấy đau đớn: “Tôi cứ suy nghĩ mãi, đầu tôi hỗn độn như mớ bòng bong. Làm thế nào
mà tôi lại tin kết quả siêu âm là chính xác chứ? Họ đọc kết quả sai thì sao? Tôi cảm thấy tôi
đã hành động sai lầm, tôi đã sai lầm khủng khiếp. Tôi cứ nghĩ đến con trai tôi, tôi ngủ mơ
thấy nó. Nếu còn nó đã được mười tháng rồi đấy” (trò chuyện với tác giả, 19/1/2006).
Vì thế, trong rất nhiều trường hợp mà chúng tôi biết trong hoàn cảnh đau đớn này, câu
hỏi còn lại đến giờ là liệu kết luận của bác sĩ có tin tưởng được hay không. Vì mối quan hệ
giữa ngành sinh y học và đảng-nhà nước là rất gần gũi, việc ra quyết định đặt thêm nhiều
mối quan hệ vượt ra ngoài quan hệ thầy thuốc-bệnh nhân. Trong bối cảnh chính trị xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, việc không tuân theo lời khuyên của bác sĩ được xem gần như sự phản
học, chúng tôi biết tin ai? [trò chuyện với tác giả, 22/12/2003]
Như bà nội của Mai tâm sự, việc tin vào lời khuyên của bác sĩ giống như sự thể hiện
sự trung thành, một sự nhận thức là thành viên của cộng đồng có nguồn gốc lịch sử từ chiến
tranh nhân dân giành tự do và độc lập. Bằng cách chấp nhận kết quả chẩn đoán thai sớm,
người ta cũng tự mình trở thành một công dân theo đúng nghĩa của nó-người có thể nhận
thức và biết ơn những nỗ lực xây dựng đất nước Việt Nam ngày nay. Quyết định phá thai vì
thế không đơn thuần là việc bà mẹ đang mang thai có chấp nhận đứa con tật nguyền hay
không được hoàn thiện mà còn cho thấy cô muốn trở thành một công dân kiểu gì
8
.
Thế nhưng việc có tin hay không kết luận và chỉ định của bác sĩ ít khi chỉ do cá nhân hay vợ
chồng quyết định. Hầu như tất cả các phụ nữ đều bàn bạc kết quả siêu âm với gia đình và họ
hàng trước khi ra quyết định. Thông thường, như trường hợp của Tuyết, người phụ nữ và
gia đình nhanh chóng đồng ý với quyết định của bác sĩ. Nhưng vẫn có một vài phụ nữ cảm
thấy phải giằng co giữa các loại quyền lực khác nhau: một mặt là giữa gia đình và họ hàng,
mặt khác là ngành y học được nhà nước hỗ trợ.
Tật nguyền như một vấn đề của dòng họ
“Gia đình tôi bắt tôi giữ cái thai. Tất cả dòng họ cũng bắt tôi giữ cái thai” (trò
chuyện với tác giả, 7/10/2005). Tiếng nói của Xuân trầm hơn hầu hết các phụ nữ khác, và
12
âm sắc có vẻ buồn bã. Trong ba ngày ở thực địa, tối nào tôi cũng nhận được điện thoại của
cô. Trong lần gọi đầu tiên, cô nói rằng kết quả siêu âm ba chiều cho thấy cái thai bảy tháng
tuổi của cô thiếu tay trái. Kết quả siêu âm tiếp theo cho cùng một kết quả. Tuy nhiên, vì bào
thai cân nặng 1.4 kg, nên bác sĩ không khuyên phá thai. Họ nói rằng chấm dứt thai kì bây
giờ là cho đẻ non chứ không phải là phá thai. Ngoài việc thiếu tay, bào thai không có dấu
hiệu bất thường nào khác. Nhưng điều mà Xuân sợ lại là vấn đề liệu sóng siêu âm có cho
Tuy nhiên, không phải tất cả phụ nữ đều để gia đình quyết định theo mức độ hoàn toàn như
Lan. Chúng tôi thấy có những khác biệt lớn trong cách mà phụ nữ phản ứng với các quan hệ
gia đình và dòng họ. Trong khi một số người gần như hoàn toàn giao quyền quyết định cho
họ hàng, số khác-nhất là phụ nữ thành thị, phụ nữ trong độ tuổi từ ba mươi đến bốn mươi,
13
và phụ nữ đã có một con và có xây dựng cuộc sống gia đình mình độc lập với gia đình
chồng-có xu hướng hình thành quyết định trong đầu trước, sau đó tham khảo ý kiến của
chồng và sau đó đơn giản là chắc chắn rằng các thành viên quan trọng trong gia đình đồng ý
với họ.
Một vài phụ nữ, như Xuân, phàn nàn rằng gia đình họ “bắt” họ sinh con trong khi
chính họ muốn phá thai hơn. Nhưng khi chúng tôi trò chuyện kĩ hơn với những phụ nữ này,
chúng tôi hiểu rằng điều này ở mức độ nào đó chỉ là bề nổi-nó được hình thành trong bối
cảnh văn hóa trong đó các bà mẹ thường bị quy trách nhiệm khi sinh sản có trục trặc.
Những gì mà những bà mẹ này nói với họ hàng là: “Nếu đứa bé sinh ra bị tật nguyền hoàn
toàn và là gánh nặng cho gia đình, đừng có đổ lỗi cho tôi. Chính mọi người đã nói tôi giữ
lại”.
Theo dõi quá trình ra quyết định của các gia đình, chúng tôi nhận thấy rõ ràng là
việc ra đời của đứa bé tật nguyền có những hậu quả xã hội và đạo đức cho toàn thể gia đình-
và đặc biệt, cho cha mẹ và anh chị em của người phụ nữ mang thai và chồng cô. Trong một
hoàn cảnh xã hội mà những giải thích về nghiệp chướng thường xuất hiện khi có điều gì
không may xảy ra, quan điểm đạo đức của địa phương thường cho việc tật nguyền bẩm sinh
có quan hệ trực tiếp với phúc đức của gia đình: Dị tật cơ thể là một chỉ báo cho tội lỗi đạo
đức của ông bà, cha mẹ đứa trẻ. Khi đó, vấn đề với cha mẹ của đứa bé không chỉ là những
dị tật có thể có với cơ thể đứa con của họ mà còn là nguy cơ ảnh hưởng đến thanh danh của
dòng họ. Ngoài ra, mặc dù ai cũng biết bà mẹ sẽ là người chăm sóc đứa bé tật nguyền hằng
ngày, người ta cũng cho rằng nhiệm vụ này không một bà mẹ nào có thể tự mình xoay sở
nếu không có sự hỗ trợ xã hội và tài chính từ gia đình và dòng họ. Sự ra đời của đứa con tật
nguyền vì thế có ảnh hưởng đến cộng đồng gia đình rộng lớn mà nó thuộc vào, cả về mặt xã
trong xã hội họ đang sống. Trong khi mở của với nền kinh tế thị trường, Việt Nam vẫn còn
duy trì hệ thống chính trị đơn đảng do Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền. Đây là tổ chức
chính trị mà tầm nhìn của đảng về xã hội và những gì thể hiện trên các phương tiện thông
tin đại chúng có xu hướng đồng nhất và giao nhau mạnh mẽ (Drummond 2004; Pettus
2003). Theo chủ trương của chính phủ, các giá trị về nghĩa vụ xã hội, sự trung thành, và chủ
nghĩa tập thể là tối thượng. Trên tất cả, các cá nhân thích thú được nhìn thấy chính mình,
khi trở thành những cá nhân có trách nhiệm xã hội: như những thành viên của gia đình mà
họ có nghĩa vụ; như những công dân của đất nước mà họ yêu mến và gắn bó. Nhất là với
phụ nữ, những phẩm chất như sự hi sinh, có trách nhiệm, lòng hiếu thảo, sự chung thủy
được đặc biệt nhấn mạnh (Gammetoft 1999; Pettus 2003). Vì sự biến đổi kinh tế nhanh
chóng đã tạo ra sự lo lắng là “các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam” sẽ biến mất khi
bước vào hội nhập với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa toàn cầu, các tạp chí khoa học và
thường thức liên tục mô tả gia đình và đất nước như là các thiết chế mãi mãi và vĩnh viễn
không thay đổi và có trách nhiệm chung, như một bài báo gần đây do Bà chủ tịch Ủy ban
Dân số, Gia đình và Trẻ em viết:
Trong nhận thức của nhà nước Việt Nam, gia đình luôn luôn là ngôi nhà thân yêu, một
môi trường quan trọng sản sinh và nuôi dưỡng các phẩm chất và tạo nên tính cách
của con người Việt Nam. Các giá trị truyền thống trước đây của đất nước Việt Nam
như tình yêu đất nước, tinh thần đoàn kết, tính hiệu quả và sáng tạo trong công việc, ý
chí kiên cường, bất khuất vượt qua khó khăn, thử thách sẽ được gia đình Việt Nam duy
trì và phát triển qua lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước. [Lê 2004:4]
Sự toàn vẹn văn hóa và trường tồn của dân tộc Việt Nam được xem như là phụ thuộc
vào khả năng của mỗi cá nhân trong việc thực hiện các trách nhiệm xã hội của họ trong gia
đình và cộng đồng; những cá nhân không làm tròn bổn phận này sẽ làm ảnh hưởng không
chỉ đến dòng họ mà cả dân tộc. Trong cách nhìn nhận của chính phủ, thay vì xem quan hệ
15
giữa người và người là tự do và độc lập, các cá nhân được hình dung là có quan hệ hữu cơ
chúng tôi thấy vô số các ví dụ về những cách mà phụ nữ lẩn tránh hoặc chống đối giới chức
trong các tình huống khác nhau để phù hợp với mục tiêu của họ nhất. Chẳng hạn, An khăng
khăng đòi mang từ bệnh viện về nhà đứa con gái hai tuổi bị tật nguyền, bỏ qua lời khuyên
của mẹ chồng là bỏ rơi nó. Hi vọng có đứa con trai, Quý mang thai lần thứ tư, mặc dù hiểu
rất rõ là cô đang tự đưa mình và chồng-đảng viên và cán bộ chính quyền-đến sự phản đối
của chính quyền sở tại. Để giữ bí mật về cái thai, cô được giấu kín trên tầng thượng khi
đồng nghiệp của chồng tới nhà chơi. Như vậy, khi những phụ nữ mang thai trong nghiên
16
cứu của chúng tôi bị đưa vào tình huống phải ra quyết định đau đớn khó khăn là tôn trọng
chỉ định y khoa hay bổn phận xã hội với họ hàng, điều này không đơn thuần được xem như
một sự phục tùng thụ động và mù quáng với quyền lực hay là tinh thần tập thể mà hơn thế,
như một sự trả lời thực tế với tình huống cá nhân khó khăn đau đớn. Như Bích nói, phụ nữ
nhận thức được rằng họ đang ra những quyết định mà có thể ám ảnh họ suốt đời-và vì thế
họ muốn dựa trên ý kiến tập thể chứ không chỉ là quan niệm cá nhân. Như vậy, họ có thể
được
Kết luận
Các kĩ thuật thai sản mới hiện nay đang đặt con người trên toàn thế giới trước những
tình thế tiến thoái lưỡng nan mới. Trong khi đại đa số các nghiên cứu nhân học về chẩn
đoán thai sớm đã được tiến hành ở các quốc gia Âu-Mỹ, bài báo này tìm hiểu những phụ nữ
Hà Nội, Việt Nam đã hành xử như thế nào để có được quyết định khó khăn khi kết quả siêu
âm cho thấy họ đang mang bào thai dị tật. Phân tích cũng cho thấy các thiết chế xã hội xung
quanh phụ nữ trong tình huống này không chỉ tìm ra phương án hành động khi nhận được
kết luận y học có vấn đề, mà còn cho thấy họ giải quyết tình huống khó khăn của họ theo
cách cho phép họ chia sẻ trách nhiệm với người khác.
Trái ngược với công dân các xã hội nhấn mạnh quyền tự trị cá nhân và chủ nghĩa cá
nhân, phụ nữ ở miền Bắc Việt Nam sống trong một thế giới xã hội cho phép họ đưa vấn đề
Quốc tế Đan Mạch (DANIDA) tài trợ. Tôi muốn được bày tỏ sự cảm ơn với những đóng
góp của đồng nghiệp Việt Nam trong quá trình thu thập thông tin và phân tích, cụ thể là
Nguyễn Thị Thúy Hạnh, Nguyễn Huy Bạo, Đỗ Thị Thanh Toàn, Bùi Kim Chi, Trần Minh
Hằng, Hoàng Hải Vân, và Nguyễn Thị Hiệp. Tôi cũng gửi lời cảm ơn cán bộ Bệnh viện Phụ
sản và Trẻ em Hà Nội, những phụ nữ mang thai và gia đình đã tham gia vào nghiên cứu
này. Cuối cùng, tôi bày tỏ sự biết ơn tới Benjamin Blount, bốn nhà biên tập AA, và cuối
cùng như thường lệ, Susan Reynolds Whyte, vì những phê bình mang tính xây dựng cho
bản thảo đầu tiên của bài viết này.
1. Tất cả tên của những người cung cấp thông tin đã được thay đổi
2. Dự án nghiên cứu này được một nhóm gồm 11 nhà nghiên cứu thực hiện, một người
Đan Mạch và 10 người Việt Nam. Những người cung cấp thông tin hầu hết đều bị
sốc, khủng hoảng trầm trọng, phải vật lộn với hàng loạt câu hỏi, suy nghĩ và cảm
xúc. Làm việc theo cách tiếp cận dân tộc học với những phụ nữ trong hoàn cảnh này
vì thể là một thách thức không nhỏ, khiến cho những vấn đề về đạo đức nghề nghiệp
trở thành một bộ phận cấu thành của quá trình thực địa. Vì thấy rằng không được
phép cũng như không thể cho những phụ nữ này lời khuyên mà họ, họ hàng và cả
những nhân viên y tế đề nghị, chúng tôi đã cố gắng hỗ trợ họ về mặt tinh thần, đồng
thời cũng giúp cho việc liên lạc với các bác sĩ ở bệnh viện sản nơi tiến hành nghiên
cứu hoặc với các cơ sở y tế chuyên khoa hơn như Viện Nhi Quốc gia, Bệnh viện Phụ
sản Trung ương và Đại học Y Hà Nội.
3. Trong những bài báo tiếp theo, tôi sẽ phân tích bằng cách nào và tại sao việc giữ hay
bỏ cái thai “bị dị tật” lại có nhiều ý nghĩa với phụ nữ và họ hàng họ như vậy. Tất cả
những phụ nữ mà chúng tôi trò chuyện đều cân nhắc rất lâu những vấn đề đạo đức,
phúc phận, xã hội có liên quan đến sự sống còn mà kết quả siêu âm đặt họ vào. Tuy
nhiên, những phân tích về những cân nhắc này sẽ vượt quá khuôn khổ bài báo này.
4. Sự phát triển này cũng phải được xem xét trong bối cảnh nền kinh tế chăm sóc sức
khỏe cá nhân hóa, tự do hóa và cạnh tranh đang tăng, trong đó siêu âm được cung
cấp cho cả hệ thống y tế công và tư (Gammeltoft và Nguyễn, in press).
Tài liệu tham khảo Anagnost, Ann 1997 National past-Times: Narrative, Representation,and Power in Modern
China, Durham, NC: Duke University Press
Bauman, Zygmunt, 1998 Freedom. Minneapolis: University of Minnesota Perss
Brower, Carole H., and Nancy Press, 1995 Normalization of Prenatal Diagnostic Testing. In
Conceiving the New World Order: The Global Politics of Reproduction. Faye D. Ginsburg
and Rayna Rapp, eds. Pp. 307-322. Berkeley: University of California Press.
19
Craig, Davis 2002 Familiar Medicine: Everyday Health Knowledge and Practive in Today’s
Vietnam. Honolulu: University of Hawai’i Press.
Crossley, Nick 1996 Body-Subject/Body Power: Agency, Inscription and Control in
Foucaul and Merleau-Ponty. Body and Society 2 (2): 99-116.
Drummond, Lisa 2004 The Modern “Vietnamese Woman”: Socialization and Women’s
Magazines. In Gender Practices in Contemporary Vietnam. Lisa Drummond and Helle
Rydstrom, eds. Pp 158-178. Singapore: Singapore University Press
Dumont, Louis 1986 Essays on Individualism. Modern Ideology in Anthropological
Perspective. Chicago: University of Chicago Press.
Erikson, Susan L 2003 Post-Diagnostic Abortion in Germany: Reproduction Gone Awry,
Again? Social Science and Medicine (56): 1987-2001.
Foucault, Michel 1980 Prison Talk. In Power/Knowledge: Selected Interviews and Other
Writings 1972-1977. Colin Gordon, ed. Pp. 37-54. NewYork: Pantheon.
Gammeloft, Tine 1999 Women’s Bodies, Women’s Worries: Health and Family Planning in
a Vietnamese Rural Community. Richmond: Curzon Press.
2002 Between “Science” and “Superstition”: Moral Perceptions of Induced Abortion among
Young Adults in Vietnam. Culture, Medicine and Psychiatry (26): 313-338.
21
Milwertz, Cecilia Nathansen 1997 Accepting Population Control: Urban Chinese Women
and the One-Child Family Policy. Richmond: Curzon Press.
National Committee for Population and Family Planning 2001 Vietnam Population Strategy
2001-2010. Hanoi: National Committee for Population and Family Planning .
Ong, Aihwa 2003 Buddha is Hiding: Refugees, Citizenship, the New America. Berkeley:
University of Californial Press.
Pettus, Ashley 2003 Between Sacrifice and Desire: National Identity and the Governing of
Femininity in Vietnam. New York: Routledge.
Rapp, Rayna 1997 Real-Time Fetus: The Role of the Sonogram in the Age of Monitored
Reproduction. In Cyborgs and Citadels: Anthropological Intervention in Emerging Sciences
and Technologies. Gary Lee Downey and Joseph Dumit, eds. Pp. 31-48. Santa Fe, NM:
School of American Research Press.
1998 Refusing Prenatal Diagnostic: The Meanings of Bioscience in a Multicutural World.
Science, Technology and Human Values 23(1): 45-70.
1999 Testing Women, Testing the Fetus: the Social Impact of Amniocentesis in America.
New York: Routledge.
Rose, Nikolas 1999 Powers of Freedom: Reframing Political Thought. Cambridge:
Cambridge University Press.
2001 The Politics of Life Itself. Theory, Culture and Society 18(6): 1-30.
Schweder, Richard A., and Edmund J. Bourne 1984 Does the Concept of the Person Vary
Cross Cuturally? In Culture Theory: Essays on Mind, Self and Emotion. Richard A.
Schweder and Robert A. LeVine, eds. Pp. 158-199. Cambridge. Cambridge University
Press.
Taylor, Philip 2004 Godness on the Rise: Pilgrimage and Popular Religion in Vietnam,
Honolulu: University of Hawai’i Press.
Trâm, Quyên 2005 30 Năm Thành tựu Ngành Y (30 years of achivements for the health
care sector). Sức khoẻ và đời sống, April 30:1
Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em 2003 Những Nội dung Chủ yếu của Pháp lệnh Dân số