Báo cáo " Tố tụng lao động ở Việt Nam trong bối cảnh có Bộ luật tố tụng dân sự" potx - Pdf 12



§Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
62 T¹p chÝ luËt häc
TS. L−u B×nh Nh−ìng *
1. Đặt vấn đề
Tố tụng lao động ở Việt Nam, xét về
phương diện thực tiễn, là loại hình tố tụng
ra đời muộn hơn so với tố tụng hình sự và
tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế. Sở dĩ có
việc như vậy là do những yếu tố lịch sử-
xã hội-pháp lý chi phối.
Từ năm 1947, với Sắc lệnh số 29/SL
ngày 12/3/1947 về sự làm công, tố tụng
lao động đã được quy định chính thức
trong hệ thống pháp luật. Nhưng sau đó
Việt Nam bước vào công cuộc kháng
chiến trường kỳ và tiếp tục thời kỳ hơn 30
năm tiến hành cuộc kháng chiến chống
Mỹ xâm lược, với chính sách lao động
thời chiến phục vụ Nhà nước nên quan hệ lao
động đã không được xác lập và phát triển
theo các quy định của Sắc lệnh số 29/SL. Nền
kinh tế-xã hội những năm 1950, 1960,
1970, 1980 và đầu những năm 1990 được

động đã làm xuất hiện loại hình giải quyết
mới, đó là cơ chế giải quyết tranh chấp lao
động, trong đó, tố tụng lao động là một
lĩnh vực đặc biệt.
Điều đặc biệt đó được thể hiện rõ nét
nhất là kể từ khi Quốc hội thông qua Bộ
luật lao động (1994) và Uỷ ban thường
vụ quốc hội thông qua Pháp lệnh thủ tục
* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế
Trường Đại học Luật Hà Nội §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
T¹p chÝ luËt häc

63
giải quyết các tranh chấp lao động. Tố
tụng lao động ra đời như một tất yếu
khách quan gắn với sự ra đời và phát triển
của quan hệ lao động trong nền kinh tế thị
trường. Đó là xu thế mang tính xã hội và
nhân văn sâu sắc.
2. Các nội dung cơ bản của hình
thức tố tụng lao động
Khi bàn về sự tồn tại và phát triển của
tố tụng lao động, thông thường người ta
chỉ đề cập hệ thống tố tụng của toà án,
thậm chí cũng chỉ đề cập hoạt động giải
quyết tranh chấp lao động của toà án nhân
dân các cấp mà bỏ qua các hình thức khác.

của người lao động có phù hợp với pháp
luật hay không.
- Việc giải quyết các tranh chấp lao
động tại các cơ cấu trọng tài lao động:
Đây là hình thứ tố tụng lao động được sử
dụng ưa chuộng trong lĩnh vực lao động.
Sở dĩ có hiện tượng như vậy là vì trọng tài
lao động luôn được giao nhiệm vụ giải
quyết các tranh chấp mà các toà án tư
pháp rất khó quyết định bởi giới hạn
quyền lực của nó. Các tranh chấp về lợi
ích giữa các bên trong quan hệ lao động
chính là đối tượng cần được giải quyết
qua con đường trọng tài hơn là con đường
toà án. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn
người ta thường phân biệt giữa toà án lao
động (toà án trọng tài lao động - Industrial
Court/ Labour Court) với toà án tư pháp
(Court of Law/ Court of Justice) vì chúng
khác nhau về tính chất. Tuy nhiên, hoạt
động của cả hai đều được coi là các hoạt
động tố tụng nếu xét về phương diện hành
vi pháp lý.
- Việc công nhận cho thi hành quyết
định và bản án của trọng tài và toà án
nước ngoài về lao động tại Việt Nam: Đây
là loại hình tài phán lao động được sử
dụng nhằm giải quyết yêu cầu của người
được toà án hoặc trọng tài nước ngoài về
vụ việc lao động nay có nhu cầu công

công dụng không giống nhau do đối tượng
của nó không giống nhau. Việc giải quyết
các vụ tranh chấp lao động khác với việc
giải quyết đình công. Và mặc dù liên quan
đến tranh chấp lao động hoặc đình công
nhưng việc xem xét công nhận cho thi
hành tại Việt Nam các bản án, quyết định
của trọng tài nước ngoài, như đã đề cập ở
trên, là loại tố tụng chỉ thiên về mặt hình
thức, thuộc loại “tố tụng chồng” hay là “tố
tụng của tố tụng”.
3. Tố tụng lao động trong bối cảnh
Quốc hội thông qua Bộ luật tố tụng dân sự
Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội
thông qua (15/6/2004) được coi là sự kiện
lớn trong lĩnh vực lập pháp của Việt Nam.
Tuy nhiên, nó cũng gây ra không ít băn
khoăn đối với các chính trị gia, luật gia,
các nhà khoa học và người dân.
(1)
Ưu
điểm lớn nhất của Bộ luật tố tụng dân sự
là đã đưa ra được một văn bản pháp luật
tố tụng phi hình sự ở tầm cao nhất (bộ
luật) làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng.
Tuy nhiên, ở đây tôi sẽ không bàn nhiều
tới ưu điểm của nó mà tập trung nêu ra
một vài ý kiến liên quan đến sứ mạng của
nó trong mối liên hệ với tố tụng lao động.
Có nhiều quan điểm trước, trong và

hạn hiến pháp là nguồn của tất cả các
ngành luật khác. Và tương tự, Bộ luật dân
sự cũng là nguồn của nhiều ngành luật
khác như luật thương mại, luật lao động
Điều đó càng khẳng định mối quan hệ gắn
bó giữa các ngành luật trong hệ thống
pháp luật.
Tuy nhiên, không phải vì vậy mà suy
luận và cho rằng, khi có một đạo luật nào
đó ra đời, đưa vào hệ thống quy định của
nó những vấn đề liên quan tới lĩnh vực
khác, tức là tạo nên một ngành luật mới và
tiêu diệt các ngành luật cũ. Nếu tư duy
như vậy thì chắc chắn sẽ không có ngành
luật nào tồn tại ngoài các loại là: Luật
hình sự, luật tố tụng hình sự, luật hành
chính, luật tố tụng hành chính, luật dân sự
và luật tố tụng dân sự.
Như vậy có thể hiểu rằng, với tư cách
là đạo luật đưa ra những nguyên tắc cơ
bản cho các lĩnh vực tố tụng phi hình sự
nhưng Bộ luật tố tụng dân sự không thể là
sự đại diện duy nhất cho các hình thức tố
tụng phi hình sự. Bộ luật tố tụng dân sự
có thể là nguồn của luật tố tụng dân sự
(nghĩa hẹp), luật lao động (gồm cả tố tụng
lao động) nhưng nó không phải là đại diện
duy nhất, không phải là thứ thay thể vạn
năng
(2)

lao động đã giải quyết, nếu có việc chống
án thì toà án phúc thẩm hoặc toà án tối cao
sẽ xem xét lại về việc áp dụng luật mà
không có thẩm quyền xem xét về chứng cứ
hoặc vấn đề nội dung. Điều đó cho thấy tố
tụng lao động không thể là một nội dung
của tố tụng dân sự.
4. Xung quanh sự kiện ra đời của Bộ
luật tố tụng dân sự, có một số điểm cần có
định hướng phát huy và khắc phục
- Thứ nhất, phải thấm nhuần quan
điểm coi Bộ luật tố tụng dân sự là những §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
66 T¹p chÝ luËt häcquy tắc chung, những “quy tắc mẫu” đối
với mọi hoạt động tố tụng phi hình sự.
Các quy tắc tố tụng dân sự (nghĩa hẹp)-
hôn nhân và gia đình - thương mại - lao
động sẽ tuỳ vào đối tượng giải quyết mà
áp dụng theo nguyên tắc chung và tương
thích hoá (có điểm không thể máy móc).
Ví dụ, nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ
chứng minh là nguyên tắc mà bất kỳ hình
thức tố tụng phi hình sự nào cũng phải
tuân theo. Tuy nhiên, việc bố trí thành
phần xét xử sơ thẩm với 1 thẩm phán và 2

hành chính tư pháp phục vụ cho hoạt động
tố tụng. Có thể nói đây là những khâu đã
được quan tâm, đã có sự cải tiến nhất định
nhưng nhìn chung vẫn còn chậm chạp.
Yêu cầu chung, có tính nguyên tắc là: cần
phải biến nền hành chính tố tụng thành
nền hành chính mẫu mực, hoạt động tố
tụng phải tạo nên không chỉ là sự mãn
nguyện của nhân dân mà còn phải trở
thành biểu tượng của công lý xã hội. Một
phiên toà dân sự, lao động, hôn nhân luộm
thuộm với sự thể hiện quá cứng nhắc hoặc
quá nghèo nàn về nghiệp vụ, chuyên môn,
hoặc với sự lộ liễu về sự thiên vị v.v. sẽ là
điều khó lấy lại được lòng tin của Nhà
nước, của xã hội. Với một Bộ luật tố tụng
dân sự bề thế, hoành tráng thì đi theo nó
phải là các hoạt động tương xứng.
Xung quanh vấn đề tố tụng lao động
của toà án nhân dân
Về mặt hình thức, việc quy định thủ
tục giải quyết các tranh chấp lao động, các
việc lao động trong Bộ luật tố tụng dân sự
đã thể hiện như là một giải pháp làm giảm
bớt đi sự rắc rối trong hệ thống các quy
định hiện hành với các pháp lệnh riêng rẽ
cho từng hình thức tố tụng.
(3)
Tuy nhiên,
việc làm như vậy đã gây nên một số bế tắc

động theo Bộ luật tố tụng dân sự đã không
gắn kết, ngược lại, đã vô hình tách rời
việc giải quyết tranh chấp lao động và giải
quyết đình công, trong khi phần lớn các
cuộc đình công đều có nguồn gốc từ tranh
chấp lao động. Việc không thể “ôm” cả
việc giải quyết đình công đã cho thấy sự
lúng túng của các nhà làm luật trong việc
cho ra đời Bộ luật tố tụng dân sự “vạn
năng”. Cả một cơ chế thống nhất đã được
Bộ luật lao động dày công tạo nên theo xu
hướng hiện đại, nay bị phá vỡ. Một hệ
thống luật hình thức (tố tụng) đã xâm hại
một hệ thống luật nội dung (luật điều
chỉnh quan hệ gốc) buộc chúng ta phải tìm
biện pháp khắc phục. Và điều đó đã chỉ ra
rằng, rõ ràng là công tác xây dựng pháp
luật nói chung và xây dựng Bộ luật tố
tụng dân sự nói riêng vẫn chưa được cân
nhắc một cách kỹ lưỡng và chưa đảm bảo
tính khoa học.
Thông thường, ở nhiều nước trên thế
giới, tố tụng lao động là hình thức tố tụng
đặc biệt, toà án lao động cũng được quy
định là toà án đặt biệt và trên hết vẫn
thuộc lĩnh vực luật lao động. Vì lao động
là lĩnh vực đặc biệt nhất của con người và
quan hệ lao động thuộc hệ quan hệ công
nghiệp, thuộc một hệ thống riêng, phức
tạp.

hội. Xu hướng chung ngày nay là đề cao
chuyên môn hoá, hiện đại hoá. Từ một §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
68 T¹p chÝ luËt häctrường ngày xưa nay thành nhiều trường,
từ một lĩnh vực, nay thành nhiều lĩnh vực
v.v. đó là hệ quả tất yếu của các quá trình
xã hội.
Nói như vậy không có nghĩa là cái gì
cũng có thể tách ra hoặc không có gì có
thể gộp lại. Điều đáng quan tâm ở đây là,
cần xem xét cẩn trọng khi quyết định, phải
lấy tính hợp lý để đảm bảo cho sự tồn tại.
Trong khi xung quanh ta, khắp trên thế
giới người ta đang duy trì tính độc lập của
tố tụng lao động và phát triển tố tụng lao
động thành hoạt động hợp lý, có hiệu quả
hơn nhằm đáp ứng đòi hỏi của lao động và
của xã hội; trong khi đang có những quan
điểm khoa học đảm bảo cho sự tồn tại
khác biệt cần được trân trọng của loại
hình tố tụng lao động đặc biệt thì Bộ luật
tố tụng dân sự đã trở thành một rào cản
đối với nó.
Vậy đâu là phương pháp khả dĩ cho
hiện thực không mấy hấp dẫn này?

20/11/2003.
(2). Chính vì điều này mà đại biểu Quốc hội Lê Thị
Nga, Nguyễn Đình Lộc, Lê Xuân Thân… đã đặt ra
nhiều vấn đề tại phiên họp toàn thể tại Hội trường Ba
Đình ngày 19/11/2003.
(3). Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao
động, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế,
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.
(4). Điều 158.4 Bộ luật lao động 1994 (sđ-bs 2002)
(5). Cơ chế ba bên là cơ chế đặc dụng, đặc thù của
luật lao động. Theo tinh thần đó, từ việc xây dựng
chính sách, pháp luật, giải quyết tranh chấp lao động
v.v. đều phải chú trọng và thực thi.
(6). Luật lao động của các nước đặt tên và điều chỉnh
quan hệ công nghiệp (vẫn được gọi là quan hệ lao
động). Thuật ngữ “Industrial Relations” ngụ ý quan
hệ đó xuất phát, gắn với hoạt động công nghiệp, công
xưởng.
(7). Philipin có Uỷ ban quan hệ lao động (toà án lao
động) ở cấp quốc gia và cấp vùng, có quy tắc tố tụng
riêng; theo luật lao động Thái Lan, toà án lao động
cũng là toà án đặc biệt, được tổ chức theo vùng, có
quy tắc tố tụng riêng; Malayxia cũng có hệ thống giải
quyết tranh chấp lao động và đình công độc lập so với
toà án thường v.v


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status