Bảo đảm an ninh văn hóa ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

KHÚC THỊ HOÀN

BẢO ĐẢM AN NINH VĂN HÓA Ở VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. BÙI QUẢNG BẠ

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu ghi
trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày tháng

năm 2017

Tác giả luận văn

Khúc Thị Hoàn

dân tộc, quốc gia mà còn là công cụ để bảo vệ quốc gia dân tộc. Một quốc gia hay
dân tộc muốn giữ vững độc lập của mình, trước hết phải giữ gìn tính độc lập về văn
hóa. Một dân tộc nếu đánh mất đi văn hóa của mình sẽ mất đi tất cả.
Trong những năm gần đây, toàn cầu hóa, sự phát triển của công nghệ thông
tin cùng nhiều nhân tố khác, đã tác động tới sự phát triển văn hóa của mỗi quốc gia,
cộng đồng xã hội. Một mặt, các quá trình này tạo ra những nhân tố tích cực, làm gia
tăng sự phát triển ổn định và bền vững về văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc. Mặt
khác, chúng cũng làm nảy sinh những vấn đề văn hóa trong các cộng đồng quốc gia,
dân tộc đó. Đó là sự xói mòn bản sắc dân tộc, chệch hướng phát triển của quốc gia,
…Tất cả những điều này gây tác động trở lại đối với sự phát triển văn hóa nói riêng,
các lĩnh vực khác của đời sống xã hội nói chung, như kinh tế, chính trị, … Nhiều
nước trên thế giới, do ảnh hưởng xấu của lĩnh vực văn hóa mà có sự phát triển
không bền vững, làm cho tính cố kết cộng đồng giảm sút và trong chừng mực nào
đó, làm nảy sinh những mâu thuẫn, xung đột trong cộng đồng.
Vấn đề an ninh văn hóa, với tư cách một lĩnh vực của an ninh quốc gia, nhằm
bảo đảm cho sự phát triển ổn định, bền vững của văn hóa quốc gia trước tác động
bên trong và bên ngoài, đã nhận được nhiều quan tâm chú ý. Việt Nam đã có những
thành công đáng kể trong việc bảo đảm an ninh văn hóa. Đó là tính định hướng xã
hội chủ nghĩa được bảo đảm trong các lĩnh vực đời sống xã hội, truyền thống văn
hóa dân tộc được bảo tồn và phát huy; văn học, nghệ thuật bước đầu có sự phát
triển, … Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc chưa đạt yêu cầu. Nhiều biểu hiện xuống cấp về đạo đức, lối sống gây

1


bức xúc trong xã hội. Nhiều sản phẩm văn hóa, nghệ thuật chất lượng thấp…Tất cả
những điều này gây nguy cơ “chệch hướng”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong
quá trình phát triển, ảnh hưởng tới an ninh văn hóa nói riêng, an ninh quốc gia nói
chung ở Việt Nam hiện nay.

thể từng nhà nghiên cứu đưa ra những quan niệm khác nhau. Các tác giả đưa ra hai
trường phái tiếp cận an ninh phi truyền thống ở Đông Nam Á theo các học giả Việt
Nam đó là: 1. An ninh phi truyền thống là an ninh tổng hợp (gồm các lĩnh vực an
ninh quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường) theo đó, an ninh phi
truyền thống không đối lập với an ninh truyền thống mà mở rộng nội hàm khái niệm
an ninh truyền thống trong đó lấy an ninh quân sự làm trung tâm; 2. Quan niệm an
ninh phi truyền thống đối lập với an ninh truyền thống không bao hàm an ninh quân
sự. Theo các tác giả, ở Việt Nam hiện nay, phần lớn các học giả quan niệm an ninh
phi truyền thống theo trường phái thứ hai.
Cuốn sách Truyền thông giao lưu văn hóa với vấn đề bảo vệ lợi ích và an
ninh văn hóa quốc gia (2015) [7] do Lê Thanh Bình và Vũ Trọng Lâm chủ biên đã
dành hẳn một chương để trình bày lý luận về truyền thông giao lưu văn hóa, lợi ích
và an ninh văn hóa quốc gia. Trong đó, các tác giả đưa ra khái niệm về an ninh văn
hóa là trạng thái vận hành bình thường và phát triển liên tục của hệ thống văn hóa
của một quốc gia, có chủ quyền, trạng thái lợi ích văn hóa không bị đe dọa và nguy
hiểm. Đối chiếu với các công trình, bài viết trước đó, khái niệm an ninh văn hóa
trong cuốn sách này được phân tích khá đầy đủ, đặc biệt các tác giả nhấn mạnh “do
chịu ảnh hưởng của đặc tính văn hóa, an ninh văn hóa là một khái niệm liên quan
đến nhiều mặt, nội hàm phong phú, có thể phân tích từ nhiều góc độ và bình diện”,
trong đó đặc trưng chủ yếu của an ninh văn hóa quốc gia là tính độc lập tương đối,
tính kết hợp mềm và cứng, tính tầng lớp và kết cấu; hai nội dung chủ đạo của an
ninh văn hóa trong cuốn sách này là an ninh chính trị và an ninh văn hóa dân tộc.
Nhìn chung, các tác giả phân tích khái niệm an ninh văn hóa trong mối tương quan
với lợi ích quốc gia khi tập trung vào hệ thống và lợi ích văn hóa thông qua hoạt
động truyền thống văn hóa. Từ đó, các tác giả đã khảo sát kinh nghiệm của một số
quốc gia như Mỹ, Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản về truyền thông văn hóa với
vấn đề bảo vệ lợi ích và an ninh văn hóa quốc gia cũng như việc gia tăng sức ảnh
hưởng văn hóa đến khu vực và quốc tế nhằm rút ra một số bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam. Bên cạnh đó, các tác giả đã dành một chương để chỉ rõ thực trạng và đề


tộc”. Đến V.I. Lênin, trong một số tác phẩm, ông đã phản ánh quan điểm về an ninh
văn hóa và cho rằng đó là công việc nhằm bảo đảm sự an toàn cho phát triển văn
hóa theo đúng hướng vì lợi ích của dân tộc, của cộng đồng xã hội và bảo đảm “các

4


quyền sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa của con người, bảo đảm các giá trị
văn hóa của nhân loại được bảo tồn và phát huy”. Ngay trong tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan niệm về an ninh văn hóa cũng được hiểu là “bảo đảm các điều kiện an
toàn cho sự phát triển văn hóa dân tộc và tiếp thu các giá trị văn hóa thế giới”. Bên
cạnh đó, tác giả Kim Cúc còn đề cập đến một số hướng nghiên cứu về an ninh văn
hóa của các nhà nghiên cứu Nga, Trung Quốc và Châu Âu giai đoạn hiện nay. Từ
đó, tác giả đã rút ra được một số nhận xét chính về bản chất và vai trò của an ninh
văn hóa, khẳng định đó là “sức mạnh mềm” trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Bài viết “Bảo vệ an ninh văn hóa trong hội nhập kinh tế quốc tế” [26] trên
Tạp chí Cộng sản (5/2007) của tác giả Hoàng Hiệp đã chỉ ra và phân tích ba thách
thức chính mà bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế đặt ra đối với văn hóa dân
tộc, đó là: một bộ phận cán bộ coi nhẹ việc kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống;
nguy cơ đồng hóa văn hóa; mối đe dọa bởi “diễn biến hòa bình” chống chủ nghĩa xã
hội. Để bảo vệ an ninh văn hóa trong bối cảnh hiện nay, đồng thời tiến tới xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tác giả cho
rằng, chính quyền và đoàn thể cần phải đẩy mạnh sáu hoạt động chính: một là, chỉ
đạo nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý, điều hành đối với lĩnh vực văn hóa, gắn
nhiệm vụ bảo vệ xây dựng và phát triển văn hóa với việc xây dựng và chỉnh đốn
Đảng, thể chế hóa chính sách và chủ trương của Đảng về văn hóa, bồi dưỡng tài
năng, tôn trọng những người hoạt động văn hóa; hai là, phát huy vai trò của các tổ
chức, đoàn thể đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, xây dựng đời sống, môi
trường, thiết chế văn hóa và con người Việt Nam có đủ năm đức tính cơ bản; ba là,
đẩy mạnh hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức chính trị chống

nước; bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân
dân và chế độ xã hội trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi phải sẵn sàng ứng phó với các
nguy cơ đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống mang tính toàn cầu, trong
đó, bảo đảm an ninh văn hóa quốc gia là một nội dung trọng yếu, thường xuyên
trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia cũng như công việc xây dựng, phát triển
văn hóa của quốc gia, dân tộc. Bài viết thứ hai là “Kinh nghiệm bảo đảm an ninh
văn hóa của một số nước trên thế giới” [5] trên tạp chí Thông tin khoa học lý luận
chính trị (số 12/2015). Trong đó, hai tác giả đã đưa ra kinh nghiệm một số nước, cụ
thể như sau: thứ nhất, kinh nghiệm của Anh đối với vấn đề bảo tồn di sản văn hóa
và sở hữu trí tuệ, thứ hai, kinh nghiệm của Nga trong việc bảo đảm an ninh văn hóa

6


thể hiện qua chính sách trọng dụng nhân tài, ngăn chặn chảy máu chất xám cũng
như việc thực hiện chính sách ngoại giao văn hóa theo nguyên tắc bình đẳng, thực
tế và tôn trọng lẫn nhau, bảo vệ bản sắc dân tộc và chủ quyền quốc gia của tất cả
các nước thành viên, công tác bảo đảm an ninh thông tin; thứ ba, kinh nghiệm của
Mỹ đối với việc đề cao giáo dục văn hóa chất lượng, tôn trọng và thừa nhận vai trò
quan trọng của việc bảo vệ các tri thức truyền thống và văn hóa dân gian cũng như
công tác an ninh thông tin; thứ tư, kinh nghiệm của Nhật Bản về bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa truyền thống và cách tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân
loại nhằm làm phong phú thêm cho nền văn hóa của mình, bên cạnh đó là chính
sách ngoại giao văn hóa với nguồn “sức mạnh mềm” để tăng cường ảnh hưởng của
Nhật Bản trên trường quốc tế; thứ năm, kinh nghiệm của Trung Quốc về chiến lược
bảo đảm an ninh văn hóa theo hai phương thức chính là “phòng vệ” và “tấn công”,
công tác cải cách thể chế văn hóa và bộ máy quản lý văn hóa từ trung ương đến địa
phương. Từ việc tiếp cận kinh nghiệm hoạt động bảo đảm an ninh văn hóa của một
số nước tiêu biểu trên thế giới, hai tác giả đề xuất những bài học kinh nghiệm có thể
áp dụng được cho Việt Nam như sau: “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và nhà

Tác giả Vũ Phương Hậu có bài viết “Đường lối của Đảng về bảo đảm an
ninh văn hóa”. Trong bài viết tác giả đã trình bày quá trình hình thành và hoàn
thiện đường lối của Đảng về bảo đảm an ninh văn hóa. Cụ thể: Từ Đề cương văn
hóa Việt Nam đề ra 3 nguyên tắc của nền văn hóa mới: dân tộc hóa, đại chúng hóa,
khoa học hóa. Tiếp đến là bước phát triển đột phá về xây dựng và phát triển văn hóa
được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội năm 1991, xác định đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới là tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Tiếp tục chủ trương tăng cường bảo
đảm an ninh về văn hóa, Đại hội XI của Đảng đã xác định sáu chủ trương về xây
dựng và phát triển nền văn hóa thời kỳ đổi mới. Tác giả cũng khẳng định, mặc dù
không đề cập đến thuật ngữ “an ninh văn hóa” nhưng đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam về văn hóa từ khi thành lập đến nay nhất quán khẳng định vai trò của văn
hóa với sự phát triển đất nước.
Ngoài ra thì còn có các đề tài khoa học, luận văn, luận án nghiên cứu về lĩnh
vực này dưới cách tiếp cận công tác công an, tuy nhiên do tính bảo mật của ngành
công an nên không công bố rộng rãi.
Với những trình bày sơ khai như trên có thể thấy an ninh văn hóa bắt đầu được
nghiên cứu. Những nghiên cứu trước đó là tài liệu tham khảo hữu ích cho đề tài. Mặt

8


khác chưa có một công trình nào nghiên cứu việc bảo đảm an ninh văn hóa trong bối
cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Đây chính là nội dung nghiên cứu của luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
an ninh văn hóa, đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả bảo
đảm an ninh văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Nhiệm vụ: Từ mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài là
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về an ninh văn hóa và bảo

ninh văn hóa và bảo đảm an ninh văn hóa; góp phần bổ sung, phát triển lý luận về vấn đề
này.
- Đánh giá thực trạng bảo đảm an ninh văn hóa ở Việt Nam hiện nay, những
thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó.
- Đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả bảo đảm an ninh văn
hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu văn hóa và
an ninh văn hóa; giảng dạy các chuyên đề lý luận chính trị trong và ngoài lực lượng
công an nhân dân.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1. Nhận thức chung về an ninh văn hóa và bảo đảm an ninh văn hóa
Chương 2. Thực trạng bảo đảm an ninh văn hóa ở Việt Nam trong bối cảnh
toàn cầu hóa
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm an ninh văn hóa ở Việt
Nam trong xu thế toàn cầu hóa

10


Chương 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ AN NINH VĂN HÓA VÀ
BẢO ĐẢM AN NINH VĂN HÓA
1.1. Những vấn đề lý luận chung về bảo đảm an ninh văn hóa
1.1.1. An ninh văn hóa
1.1.1.1. Các quan niệm về văn hóa
Văn hóa là sản phẩm của con người, nhờ có văn hóa mà con người trở nên
khác biệt so với những loài động vật khác trong thế giới động vật. Tuy nhiên, văn

cách trực tiếp hoặc kín đáo) đặc thù hoạt động người.
Theo PGS, VS. Trần Ngọc Thêm khi nghiên cứu về văn hóa có đưa ra định
nghĩa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [42, tr.10]. Định nghĩa này đã
chỉ ra 4 đặc trưng cơ bản của văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh,
tính lịch sử.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt
hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát
minh đó tức là văn hóa” [36, tr.458]. Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ
những gì do con người sáng tạo và phát minh ra. Cũng giống như định nghĩa của E.B.
Taylor, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về
những lĩnh vực liên quan đến đời sống tinh thần của con người.
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế
giới khi đề cập văn hóa thường vận dụng định nghĩa văn hóa của UNESCO nêu
trong “Tuyên bố về chính sách văn hóa” tại Hội nghị quốc tế về chính sách văn hóa
của UNESCO từ ngày 26/7 đến 6/8/1982 ở Mexico: “Văn hóa là tổng thể những nét
đặc thù về tinh thần vật chất, về trí tuệ và xúc cảm quy định tính cách của một xã
hội hay của một nhóm xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những
lối sống, những quyền cơ bản của tồn tại (tồn tại - being) người, những hệ thống giá
trị, những truyền thống và tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy
xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt con người, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn
hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương

12


án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm kiếm

13


được hiểu như khả năng của một quốc gia có thể ngăn chặn được các cuộc xâm lược
vũ trang đến từ bên ngoài, một khuynh hướng áp đảo trong lý thuyết quan hệ quốc
tế là đồng hóa an ninh với sự bảo vệ hay bảo đảm chủ quyền của mỗi nước trước sự
tấn công hay ảnh hưởng của các nước khác. Nhà nước - người đại diện cao nhất cho
đất nước bên ngoài - đóng vai trò là người duy nhất sở hữu, bảo vệ và duy trì an
ninh, thông qua sức mạnh quân đội, hay liên minh quân sự với các đồng minh.
Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa, hội
nhập kinh tế với những ưu tiên đa dạng hơn. Một mặt, khả năng xảy ra các cuộc
xung đột hay xâm lược từ bên ngoài vẫn còn, nhưng ngày càng suy giảm, trong khi
đó lại xuất hiện nhiều mối đe dọa từ các lĩnh vực đời sống khác. Hiện thực đó đòi
hỏi một cách tiếp cận khác trong nghiên cứu về an ninh. Các học giả chia ra thành
hai loại: an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Trong khi an ninh truyền
thống chủ yếu nhấn mạnh về đe dọa quân sự bảo vệ quốc phòng, cùng với những
biện pháp bảo đảm an ninh mà chính phủ quốc gia cần làm để đương đầu trước các
nguy cơ đó, thì giá trị cơ bản của an ninh phi truyền thống xoay quanh tất cả vấn đề
khác có khả năng trở thành một mối đe dọa đối với cuộc sống của một quốc gia hay
một cộng đồng. Những mối đe dọa này không phải chỉ đến từ bên ngoài mà còn từ
bên trong; không những đến từ súng ống, tàu chiến, máy bay, mà còn từ kinh tế, văn
hóa, xã hội. Những vấn đề ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh,
nghèo đói, di dân… đã trở thành tiêu điểm chính trong các vấn đề an ninh phi truyền
thống. Mặt khác, chủ quyền vẫn là khái niệm chủ yếu, nhưng cách diễn dịch về nó có
sự “mềm hóa” đi. Mô hình nhà nước đứng trước hai thách thức: Một là, không còn tồn
tại “chủ quyền quốc gia tuyệt đối”, vì trong quá trình hợp tác, nhà nước quốc gia phải
tuân theo các thể chế quốc tế để được hưởng những lợi ích chung; hai là, nhiều vấn đề
lâu nay dường như chỉ gói gọn trong khuôn khổ hành xử quốc gia thì nay đã vượt biên
giới trở thành vấn đề xuyên quốc gia, thậm chí là vấn đề toàn cầu khiến cho không một
chính phủ nào - cho dù đó là chính phủ giàu và mạnh nhất thế giới - có khả năng tự giải

tính tiêu cực, thụ động. Ở mức hai là loại an ninh có mục tiêu ngăn chặn các nguy
cơ, hiểm họa từ xa, không cho tiếp cận đối tượng bảo vệ; nó tuy mang tính tích cực,
nhưng vẫn còn thụ động. Ở mức ba là loại an ninh có mục tiêu phát triển đối tượng
bảo vệ, tăng cường sức đề kháng cho nó để nó có khả năng “miễn dịch” đối với các
hiểm họa; đây là hình thức an ninh vừa tích cực, vừa chủ động.
An ninh văn hóa theo nghĩa hẹp ở dạng tiêu cực, thụ động bao gồm việc trực
tiếp bảo vệ các di sản chống lại sự xâm hại của tự nhiên và con người. Ở Việt Nam

15


đây là việc mà Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và cơ quan công an, an ninh văn
hóa đã và đang làm. Trong việc bảo vệ chống lại sự xâm hại của tự nhiên, sự đầu tư
của nhà nước và các địa phương là rất ít ỏi. Sự đầu tư, giúp đỡ của các tổ chức quốc
tế và nước ngoài không phải lúc nào cũng được sử dụng một cách hữu hiệu. Sự xâm
phạm an toàn văn hóa từ phía con người ở Việt Nam vô cùng phong phú và đa
dạng. Ở mức thấp nhất là sự tàn phá một cách vô thức của người dân. Ở mức cao
hơn là sự tàn phá có ý thức để trục lợi. Ở mức cao nhất, cũng là đáng buồn nhất, là
nhiều cán bộ quản lý, cán bộ lãnh đạo chính quyền địa phương các cấp, trong nhiều
hợp đã tỏ ra hoàn toàn thiếu hiểu biết trong lĩnh vực văn hóa và bảo vệ văn hóa, do
vậy đã trực tiếp hoặc gián tiếp phá hủy các giá trị văn hóa. Năm 2002, Quốc hội
Việt Nam đã thông qua Luật di sản văn hóa, đó là một bước tiến quan trọng trong
việc gìn giữ và bảo vệ các di sản văn hóa, truyền thông văn hóa ở Việt Nam.
An ninh văn hóa với việc chống lại các luồng văn hóa độc hại từ nước ngoài
thâm nhập vào là an ninh văn hóa theo nghĩa rộng ở dạng tích cực, thụ động. Biện
pháp thực hiện chủ yếu lâu nay là thông qua hệ thống kiểm tra văn hóa ở hải quan
các cửa khẩu như sân bay, bến cảng, bưu điện và cái gọi là “bức tường lửa” ở các
máy chủ của các mạng internet quốc gia …
Để chống lại những nguy cơ đe dọa đến an ninh con người và an ninh dân
tộc về mặt văn hóa trong thế giới toàn cầu hóa này, những biện pháp bảo vệ an ninh

vệ bản sắc văn hóa dân tộc và thể chế văn hóa quốc gia gắn với thể chế chính trị.
Thứ hai, an ninh văn hóa là việc sáng tạo và truyền bá những giá trị văn hóa
khoa học, tiến bộ, dân chủ, nhân văn; xây dựng môi trường văn hóa và nền tảng tinh
thần tiến bộ và lành mạnh của xã hội; bảo đảm quyền tự do sáng tạo và hưởng thụ
văn hóa của nhân dân.
Thứ ba, an ninh văn hóa là việc đấu tranh chống lại sự xâm hại của tự nhiên
và con người đối với văn hóa, đấu tranh chống lại việc xâm nhập của các luồng tư
tưởng, truyền bá sản phẩm phi văn hóa, thiếu lành mạnh đi ngược lại với đường lối,
quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh chống lại các
phản giá trị, phản văn hóa, bảo tồn và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc.
An ninh văn hóa trước hết phải là sự bảo đảm cho việc xây dựng một môi
trường văn hóa lành mạnh, ở đó, các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại được
gìn giữ và phát huy; hệ thống thể chế và thiết chế văn hóa được xây dựng và hoàn

17


thiện, tiếp theo đó là việc chống lại những hành vi phản văn hóa, phản giá trị và
những hoạt động phá hoại văn hóa, tư tưởng của các thế lực thù địch.
Mục tiêu mà an ninh văn hóa hướng đến hết sức nhân văn, vì con người, vì
sự bảo đảm cho con người có cơ hội phát triển toàn diện, có đời sống tinh thần
phong phú, lành mạnh, thấm nhuần bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời không xa lạ
với tinh hoa văn hóa nhân loại. An ninh văn hóa không chỉ là chống mà trước hết và
cuối cùng là xây dựng một đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh cho mỗi cá nhân
và cộng đồng; xây dựng nền văn hóa quốc gia phát triển, hội nhập với thế giới
nhưng vẫn giữ được bản sắc của dân tộc. Về phương diện quốc gia, an ninh văn hóa
là nhằm phục vụ yêu cầu chính trị, đối ngoại, phát triển kinh tế đất nước. Phát triển
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và bảo vệ an ninh ninh văn hóa luôn
được đặt trong mối quan hệ biện chứng với phát triển và bảo đảm sự ổn định về

1.1.2.2. Nội dung bảo đảm an ninh văn hóa
Toàn cầu hoá là một xu thế khách quan, đã và đang tác động mạnh mẽ đến
mọi mặt trong đời sống xã hội của các quốc gia, dân tộc. Xét về lĩnh vực văn hoá,
toàn cầu hoá không chỉ tạo ra cơ hội cho các quốc gia, dân tộc mở rộng sự giao lưu,
hiểu biết và xích lại gần nhau, mà còn đặt những giá trị văn hoá truyền thống của mỗi
dân tộc trước nhiều thách thức to lớn. Mặt khác, do đặc thù về thể chế chính trị, kinh
tế, nên ở Việt Nam nội dung và nhiệm vụ của bảo đảm an ninh văn hóa bao gồm:
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng; chính sách,
pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng.
Giữ gìn, kế thừa và phát huy truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc; tăng
cường giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống cách mạng của dân tộc; đẩy
mạnh việc giáo dục pháp luật; xác lập bản lĩnh văn hoá Việt Nam trong quá trình hội
nhập quốc tế.
Bảo đảm an ninh, an toàn cho các hoạt động và dịch vụ văn hóa, tạo điều kiện
cho sự sáng tạo, phổ biến, truyền bá văn hóa theo định hướng tư tưởng của Đảng, luật
pháp của nhà nước và truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc.
Đấu tranh chống âm mưu, hoạt động phá hoại về tư tưởng - văn hóa của các thế
lực thù địch; phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật và tình trạng vi phạm, sai phạm
gây mất trật tự an ninh trong các hoạt động và dịch vụ văn hóa.

19


Trong công tác bảo đảm an ninh văn hóa lực lượng công an thường đối mặt
đấu tranh với các đối tượng có hoạt động phá hoại, xâm phạm an ninh văn hóa sau đây:
- Các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có âm mưu, hoạt động phá hoại
văn hóa - tư tưởng, vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, báo chí,
xuất bản, giáo dục, đào tạo, như: Các cơ quan đặc biệt nước ngoài, các trung tâm
phá hoại tư tưởng, các tổ chức phản động người Việt lưu vong chống phá Việt Nam
trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” hoạt động phá hoại văn hóa - tư tưởng.

thực hiện như một chỉnh thể thống nhất, có quan hệ chặt chẽ với nhau và có quan hệ
chặt chẽ với an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh con người.
1.1.2.3. Biện pháp bảo đảm an ninh văn hóa
Vận dụng tổng hợp các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của
pháp luật. Trọng tâm là:
- Biện pháp vận động quần chúng: Biện pháp vận động quần chúng trong
công tác bảo vệ an ninh quốc gia là cách thức lực lượng Công an sử dụng các lực
lượng, phương tiện, phương pháp để tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn, động viên
thuyết phục, tổ chức quần chúng tham gia vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia,
giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Trong bảo
đảm an ninh văn hóa, nội dung biện pháp vận động quần chúng gồm các nội dụng:
Nghiên cứu nắm tình hình, xây dựng kế hoạch tham mưu cho cấp ủy, chính quyền
tổ chức vận động quấn chúng tích cực tham gia xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc, phòng chống tội phạm vi phạm pháp luật về văn hóa; sử dụng
linh hoạt các hình thức, phương tiện tuyên truyền, hướng dẫn, vận động nhân dân
tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh phòng, chống phản giá trị, văn hóa phẩm độc
hại; phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, các ngành, các cơ quan nhà nước, các tổ
chức xã hội để tổ chức vận động quần chúng tham gia vào công tác bảo đảm an ninh
văn hóa; xây dựng điển hình và nhân điển hình tiên tiến như gia đình văn hóa, làng
văn hóa, khu phố văn hóa làm động lực để tổ chức vận động quần chúng tham gia
xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.
Biện pháp pháp luật: nội dung của biện pháp pháp luật trong bảo đảm an
ninh văn hóa là: Đưa yêu cầu bảo vệ an ninh văn hóa vào xây dựng pháp luật, ký
kết, gia nhập điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, hoàn thiện thể chế; phát hiện,
ngăn chặn, xử lý hành vi lợi dụng hoạt động xây dựng pháp luật, hợp tác quốc tế về
pháp luật để xâm hại đến nền văn hóa Việt Nam; sử dụng pháp luật, điều ước quốc

21



của Nhà nước. Chẳng hạn, Nhà nước cần tạo ra những sinh hoạt văn hóa, phố biến
những tinh hoa văn hóa của đất nước và nhân loại cho nhân dân. Đồng thời, cần tạo

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status