Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được Chuyên đề tốt nghiệp này, em đã nhận được sự hướng
dẫn tận tình của TS.Cao Xuân Hòa và sự giúp đỡ của các anh chị tại Trung
tâm Thông tin, Phân tích và Dự báo Chiến lược – Viện Khoa học Lao động và
Xã hội.
Em xin chân thành cảm ơn.
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
1
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
LỜI MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Có rất nhiều quan niệm về tiền lương như quan niệm theo từ điển giải
nghĩa Kinh tế - kinh doanh (Anh – Việt), Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật,
Hà Nội, 1996, như quan niệm theo Einkommen, như quan niệm theo David
Begg, Stanley Fischer và Rudiger Dornbusch. Từ các quan niệm này, có thể
khái quát bản chất của tiền lương trong kinh tế thị trường sau: Tiền lương là
giá cả lao động, hay biểu hiện bằng tiền của giá trị lao động mà người chủ sử
dụng lao động trả cho người lao động làm thuê.
Đối với nước ta, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trước
đây, do không thừa nhận sức lao động là hàng hóa, không thừa nhận có thị
trường lao động, và do vậy tiền lương không được coi là giá cả của hàng hóa
sức lao động. Lúc này tiền lương được coi là một phần của thu nhập quốc dân
được nhà nước phân phối có kế hoạch cho người lao động tương ứng với sự
đóng góp của họ. Bản chất tiền lương trong nền kinh tế này khác căn bản với
tiền lương trong nền kinh tế thị trường. Mặc dù tiền lương cũng có chức năng
là thước đo giá trị, đòn bẩy kinh tế kích thích sản xuất phát triển, nhưng
không triệt để và đúng nghĩa của nó. Chủ nghĩa phân phối bình quân, cào
bằng, chia nhau cái nghèo có thể làm cho tiền lương thực hiện được chức
năng xã hội rất tốt là tạo được sự bình đẳng xã hội, nhưng lại triệt tiêu động
pháp định lượng, cụ thể là sử dụng phương pháp mô tả toán học, đề tài sẽ tập
trung vào tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương của người lao
động trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006.
Trên cơ sở của những phân tích của các Chương Một, Hai và Ba, Kết luận
của đề tài sẽ tóm lược lại những phát hiện chính trong quá trình nghiên cứu.
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
3
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích định lượng kết hợp với
tổng quan tài liệu.
Sử dụng các phầm mềm hỗ trợ trong tính toán như: SPSS, Stata, Eviews.
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
4
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI
LAO ĐỘNG
1.1. KHÁI NIỆM TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG
DOANH NGHIỆP
Tiền lương là một phạm trù kinh tế xuất hiện từ khi có quan hệ sử dụng
sức lao động của một bộ phận dân cư trong xã hội bởi một bộ phận dân cư
khác. Trong thực tế, khái niệm tiền lương còn có nhiều tên gọi khác nhau như
tiền công, thù lao lao động, thu nhập lao động, … Những tên gọi này được sử
dụng đối với những nhóm lao động khác nhau hoặc cho những loại công việc
khác nhau.
Kinh tế học cho rằng quá trình sản xuất là sự kết hợp các yếu tố đầu vào
(vốn, lao động, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, …) để tạo ra các sản phẩm,
mọi tình huống của tiền lương. Giá trị lớn nhất của các lý thuyết này là góp
phân thiết lập nguyên tắc “trả lương như nhau cho công việc có giá trị như
nhau”.
Tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp là sự trả công cho dịch
vụ lao động đã được thực hiện, thể hiện mối quan hệ giữa chủ sử dụng lao
động và người lao động. Về nguyên tắc, tiền lương phải trả đúng giá trị dịch
vụ lao động đã được cung ứng (giá cả sức lao động). Trong kinh tế thị
trường, tiền lương trong doanh nghiệp còn chịu tác động của các mức tiền
lương thịnh hành trên thị trường. Điều này có nghĩa là tiền lương cần đuợc trả
dựa theo quan hệ cung cầu trên thị trường lao động. Tuy nhiên, tại các quốc
gia áp dụng hệ thống tiền lương tối thiểu, các doanh nghiệp không được trả
lương cho người lao động thấp hơn mức tiền lương tối thiểu theo luật định
(luật về tiền lương tối thiểu). Ngoài ra, trong việc hình thành các mức tiền
lương trong doanh nghiệp, ngoài người lao động và người sử dụng lao động
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
6
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
còn có vai trò của tổ chức đại diện người lao động (công đoàn) trong việc
đàm phán và thương thảo tiền lương (thông qua cơ chế thỏa thuận). Trong
khi quy luật cung - cầu lao động chi phối nhiều đến mức tiền lương trong
ngắn hạn, thì khả năng thương thuyết của các bên lại quyết định mức tiền
lương trong dài hạn. Bên cạnh đó, mức lương còn chịu sự tác động điều chỉnh
của chính phủ như luật thuế thu nhập cá nhân, luật bảo hiểm xã hội và quyết
định của trọng tài. Lúc này, tiền lương không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa
kinh tế mà còn có nội dung xã hội. Trong một số trường hợp, tiền lương còn
được dùng trong các cuộc vận động chính trị, tranh cử và thu hút cử tri.
Tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp là số tiền (hoặc hiện
vật) mà người sử dụng lao động trả cho người lao động về sự cung ứng dịch
vụ lao động cho doanh nghiệp. Tiền lương có thể được trả theo thời gian hay
tăng lên 10% thì sẽ làm cho tiền lương tăng lên 1%. Trong phân phối tiền
lương và thu nhập tại doanh nghiệp, việc căn cứ vào hiệu quả sản xuất kinh
doanh là nhằm đảm bào hài hòa lợi ích giữa người lao động với lợi ích của
doanh nghiệp.
Cung cầu lao động và các mức lương trên thị trường lao động.
Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là biều hiện của giá cả sức lao
động. Tiền lương chịu sự chi phối của quan hệ cung cầu lao động, chi phí lao
động trong doanh nghiệp, cũng như các loại chi phí đầu vào khác. Quan hệ
cung cầu lao động ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương của doanh nghiệp và
được thể hiện như sau:
- Khi cung cầu lao động trên thị trường lao động đạt mức cân bằng thì tiền
lương có xu hướng dừng lại ở mức tiền lương cân bằng.
- Khi cầu lao động tăng lên và mức cung không tăng lên tương ứng thì
mức tiền lương sẽ có xu hướng tăng lên, ngược lại tiền lương sẽ có xu hướng
giảm xuống.
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
8
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
Trong thực tế, các mức lương đang thịnh hành trên thị trường đối với từng
loại lao động là căn cứ quan trọng để các doanh nghiệp quyết định của mình.
Trong điều kiện thị trường lao động ngày càng phát triển, việc xác định các
mức lương cạnh tranh ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh
nghiệp.
Mức độ đóng góp lao động của người lao động.
Trong thực tế, việc trả lương cho người lao động phải căn cứ vào mức độ
đóng góp lao động cụ thể của từng người. Yêu cầu này xuất phát từ nguyên
tắc cơ bản trả lương như nhau cho lao động có giá trị như nhau. Giá trị/kết
quả lao động có thể được đo lường thông qua thời gian làm việc thực tế (số
giờ công hay ngày công), khối lượng (nhiệm vụ) công việc hoàn thành (lượng
1.3. PHÂN PHỐI TIỀN LƯƠNG – MỐI QUAN HỆ GIỮA NGƯỜI LAO
ĐỘNG VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
Phân phối tiền lương là nội dung rất quan trọng trong hệ thống quản lý lao
động của doanh nghiệp, nó thể hiện mối quan hệ giữa “làm” và “ăn”, giữa
“đóng góp” và “hưởng thụ”. Phân phối tiền lương có mối quan hệ chặt chẽ
với phân công, bố trí và sử dụng lao động trong doanh nghiệp. Phân phối tiền
lương không chỉ thể hiện mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người
lao động, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa những người lao động với nhau.
Nó không chỉ thể hiện mối quan hệ tiền lương trong nội bộ doanh nghiệp, mà
còn thể hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp với phần còn lại của xã hội, giữa
các doanh nghiệp với nhau, giữa các ngành, các khu vực, các vùng và các
quốc gia với nhau.
Phân phối tiền lương có quan hệ chặt chẽ với mức độ đóng góp lao động
và kết quả lao động (trả lương theo thời gian hay theo sản phẩm). Như vậy,
phân phối tiền lương có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với cả người lao động
và cả doanh nghiệp.
Phân phối tiền lương không chỉ quan trọng đối với người lao động, mà cả
đối với người sử dụng lao động và chính phủ.
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
10
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
- Đối với người lao động: Tiền lương là nguồn thu nhập chính hay duy
nhất, là sự hoàn trả toàn bộ đầu tư vào vốn nhân lực (giáo dục và đào tạo) và
là thước đo phản ánh địa vị xã hội của mỗi người. Ở nhiều nước phát triển,
nơi mà số người làm công ăn lương chiếm đa số trong lực lượng lao động,
tiền lương trả cho người lao động có thể đến 60% thu nhập quốc dân (national
income). Người lao động và gia đình họ chủ yếu dựa vào tiền lương để trang
trải các chi phí cho cuộc sống như ăn, ở, mặc và các nhu cầu thiết yếu khác
cho cuộc sống. Tại các nước đang phát triển, mặc dù còn hiện tượng tiền
các cá nhân và tập thể. Chính vì thế mà Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định
phải thực hiện nguyên tắc phân phối “Áp dụng hình thức trả lương gắn chặt
với kết quả lao động và hiệu quả kinh tế”. Như vậy, để đảm bảo công bằng
trong phân phối tiền lương cần thực hiện nguyên tắc làm công việc gì thì
hưởng lương theo công việc đó.
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
12
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở
VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2004 - 2006
Chương này mô tả một số đặc điểm cơ bản về tiền lương của người lao
động trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006 theo một số chỉ tiêu sau:
+ Giới tính của người lao động
+ Nhóm tuổi của người lao động
+ Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và số năm đi học của
người lao động
+ Địa bàn cư trú của người lao động
+ Vùng kinh tế của người lao động
+ Ngành kinh tế của người lao động
+ Kinh nghiệm làm việc của người lao động
Chương này tập trung trả lời các câu hỏi sau:
- Ở từng năm tiền lương của người lao động trong các nhóm là bao nhiêu
và biến động như thế nào qua các năm?
- Sự biến động này nói lên điều gì?
Trả lời những câu hỏi này sẽ cung cấp những thông tin rất hữu ích cho việc
đánh giá ảnh hưởng của nó đến tiền lương của người lao động ở Việt Nam
trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006.
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM CÔNG ĂN LƯƠNG
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra Mức sống 2004-2006
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế 46
14
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
Xét tiền lương bình quân của người lao động chia theo thành thị nông
thôn và theo giới tính.
Tiền lương bình quân của người lao động nói chung khu vực nông thôn
luôn thấp hơn so với khu vực thành thị. Năm 2004 tiền lương bình quân tháng
của lao động nữ khu vực nông thôn là 627.51 nghìn đồng, năm 2006 là 838.73
nghìn đồng, trong khi đó ở khu vực thành thị tương ứng là: 1,014.91 nghìn
đồng và 1,297.04 nghìn đồng. Như vậy tiền lương bình quân của lao động nữ
nông thôn năm 2004 chỉ bằng 61.83 % tiền lương bình quân của lao động nữ
thành thị, năm 2006 tỷ lệ này tiếp tục tăng lên còn 64.67 %.
Năm 2004 tiền lương bình quân tháng của lao động nam khu vực nông
thôn là 748.76 nghìn đồng, năm 2006 là 1,006.92 nghìn đồng, trong khi đó ở
khu vực thành thị tương ứng là: 1,258.43 nghìn đồng và 1,562.04 nghìn đồng.
Như vậy tiền lương bình quân của lao động nam nông thôn năm 2004 chỉ
bằng 59.50 % tiền lương bình quân của lao động nam thành thị, năm 2006 tỷ
lệ này tiếp tục tăng lên còn 64.46 %.
Tốc độ tăng tiền lương bình quân của lao động nữ nông thôn cao hơn so
với lao động nữ thành thị. Bình quân mỗi năm tốc độ tăng tiền lương bình
quân của lao động nữ khu vực thành thị giai đoạn 2004-2006 là 13.05 %/năm
so với khu vực nông thôn_15.61 %/năm.
Tốc độ tăng tiền lương bình quân của lao động nam nông thôn cao hơn so
với lao động nam thành thị. Bình quân mỗi năm tốc độ tăng tiền lương bình
quân của lao động nam khu vực thành thị giai đoạn 2004-2006 là 11.41
%/năm so với khu vực nông thôn_15.96 %/năm.
Xét cơ cấu lao động làm công ăn lương chia theo thành thị nông thôn
và theo giới tính.
Cơ cấu lao động làm công ăn lương khu vực nông thôn luôn cao hơn so
16
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
Biểu 2.2. Tiền lương bình quân của người lao động chia theo thành thị nông thôn và theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi
Tiền lương bình quân tháng
2004 2006
Khu vùc Khu vùc
Thµnh ThÞ N«ng th«n
Tæng sè
Thµnh ThÞ N«ng th«n
Tæng sè
Từ 15-19
688.26 510.34 545.40 739.17 694.11 703.41
Từ 20-24
856.63 679.68 739.17 1,107.72 882.32 958.75
Từ 25-29
1,160.12 750.41 922.99 1,414.16 1,014.24 1,179.85
Từ 30-34
1,244.07 776.44 968.23 1,528.56 1,019.27 1,244.27
Từ 35-39
1,181.64 764.61 922.65 1,508.39 1,110.24 1,264.48
Từ 40-44
1,302.69 737.15 981.94 1,562.32 997.68 1,221.14
Từ 45-49
1,342.14 763.59 1,070.79 1,758.54 1,031.24 1,426.27
Từ 50-54
1,272.86 810.32 1,052.62 1,725.56 989.27 1,366.04
Từ 55-59
1,151.06 659.57 936.23 1,490.85 860.67 1,195.36
Từ 60 trở lên
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế 46
18
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
Ở mỗi năm, tiền lương bình quân ở mỗi khu vực tăng dần lên theo cấp độ
học vấn từ Chưa đi học tới Từ cao đẳng, đại học trở lên. Cá biệt năm 2004,
Tốt nghiệp tiểu học có mức tiền lương bình quân ở khu vực thành thị thấp
hơn so với tiến trình “tăng dần lên”. Đồng thời, đây cũng là cấp độ học vấn có
mức tiền lương bình quân thấp nhất (719.86 nghìn đồng/tháng). Chênh lệch
giữa cấp độ học vấn có mức tiền lương bình quân cao nhất và thấp nhất ở khu
vực nông thôn tăng dần song chậm hơn so với tốc độ tăng chênh lệch này ở
thành thị. Năm 2004, mức chênh lệch đó ở khu vực nông thôn là 2.56 lần, cao
hơn chênh lệch ở thành thị (2.19 lần). Đến năm 2006 chênh lệch tiền lương
bình quân ở khu vực nông thôn tăng lên còn 2.92 lần, trong khi chênh lệch
tiền lương bình quân ở thành thị là 3.08 lần.
Cấp độ học vấn Tốt nghiệp tiểu học có mức tiền lương bình quân tháng ở
khu vực thành thị năm 2004 thấp nhất cả nước (719.86 nghìn đồng) nhưng
năm 2006 Chưa đi học lại thay thế với mức tiền lương bình quân tháng thấp
nhất (679.44 nghìn đồng).
Chưa đi học là cấp độ học vấn có mức tiền lương bình quân tháng ở khu
vực nông thôn luôn thấp nhất: từ 448.83 nghìn đồng năm 2004 lên 589.76
nghìn đồng năm 2006 nhưng lại là cấp độ học vấn có tốc độ tăng tiền lương
bình quân/năm thấp nhất ở thành thị-đạt –5.78 %/năm. Con số này chứng tỏ
rằng bình quân mỗi năm tiền lương ở khu vực thành thị với Chưa đi học giai
đoạn 2004-2006 giảm với tốc độ 5.78 %/năm.
Từ cao đẳng, đại học trở lên là cấp độ học vấn có mức tiền lương bình
quân tháng ở cả 2 khu vực luôn cao nhất: ở khu vực nông thôn, từ 1,148.39
nghìn đồng năm 2004 lên 1,720.24 nghìn đồng năm 2006; ở khu vực thành
thị, từ 1,579.00 nghìn đồng năm 2004 lên 2,092.78 nghìn đồng năm 2006
đồng thời là cấp độ học vấn có tốc độ tăng tiền lương bình quân/năm cao nhất
ở cả 2 khu vực (Nông thôn: 22.39 %/năm_Thành thị: 15.13 %/năm).
1,245.29 1,077.53 1,174.15 1,786.57 1,403.26 1,610.58
Từ thạc sỹ, tiến sỹ trở lên
1,670.31 1,196.55 1,562.00 2,177.29 1,994.46 2,138.33
Tổng số
1,153.44 705.90 885.09 1,447.62 944.01 1,146.38
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra Mức sống 2004-2006
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế 46
21
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
Không có bằng cấp là cấp độ CMKT có mức tiền lương bình quân tháng ở
cả 2 khu vực luôn thấp nhất: ở khu vực nông thôn, từ 524.91 nghìn đồng năm
2004 lên 682.14 nghìn đồng năm 2006; ở khu vực thành thị, từ 726.60 nghìn
đồng năm 2004 lên 839.96 nghìn đồng năm 2006 đồng thời là cấp độ CMKT
có tốc độ tăng tiền lương bình quân/năm thấp nhất ở thành thị-đạt 7.52
%/năm.
Từ thạc sỹ, tiến sỹ trở lên là cấp độ CMKT có mức tiền lương bình quân
tháng ở cả 2 khu vực luôn cao nhất: ở khu vực nông thôn, từ 1,196.55 nghìn
đồng năm 2004 lên 1,994.46 nghìn đồng năm 2006; ở khu vực thành thị, từ
1,670.31 nghìn đồng năm 2004 lên 2,177.29 nghìn đồng năm 2006 đồng thời
là cấp độ CMKT có tốc độ tăng tiền lương bình quân/năm cao nhất ở nông
thôn-đạt 29.11 %/năm.
Đã tốt nghiệp cấp 3 là cấp độ CMKT có tốc độ tăng tiền lương bình
quân/năm thấp nhất ở nông thôn, đạt 10.30 %/năm.
Cao đẳng, đại học là cấp độ CMKT có tốc độ tăng tiền lương bình
quân/năm cao nhất ở thành thị, đạt 19.78 %/năm.
Ở mỗi năm, tiền lương bình quân ở mỗi khu vực tăng dần lên theo cấp độ
chuyên môn kỹ thuật từ Không có bằng cấp tới Từ thạc sỹ, tiến sỹ trở lên.
Ngoại trừ năm 2006, Công nhân kỹ thuật nghề có mức tiền lương bình quân ở
cả hai khu vực đều thấp hơn so với tiến trình “tăng dần lên” (Nông thôn:
1,143.88 nghìn đồng, Thành thị: 1,441.76 nghìn đồng). Chênh lệch giữa cấp
2004 2006
Khu vực Khu vực
Thành thị Nông thôn Tổng số Thành thị Nông thôn Tổng số
Đồng bằng sông Hồng
1,168.28 677.57 839.48 1,509.81 937.58 1,142.31
Đông Bắc
1,033.49 812.67 904.70 1,387.58 1,036.93 1,185.27
Tây Bắc
1,138.23 690.90 883.05 1,307.39 1,047.67 1,180.39
Bắc Trung Bộ
934.78 699.54 767.82 1,216.52 827.87 955.30
Duyên hải Nam Trung Bộ
994.30 730.73 838.44 1,289.55 1,017.13 1,130.91
Tây Nguyên
985.20 634.52 785.03 1,278.73 935.07 1,081.36
Đông Nam Bộ
1,367.23 873.21 1,190.71 1,679.53 1,186.29 1,477.81
Đồng bằng sông Cửu Long
875.09 626.61 689.45 1,096.45 794.39 870.65
Tổng số
1,153.44 705.90 885.09 1,447.62 944.01 1,146.38
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra Mức sống 2004-2006
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế 46
24
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
2.3. NGÀNH KINH TẾ
Nông, lâm nghiệp là ngành kinh tế có mức tiền lương bình quân tháng ở cả
2 khu vực luôn cao nhất (Nông thôn, từ 499.20 nghìn đồng năm 2004 lên
653.16 nghìn đồng năm 2006; Thành thị, từ 540.26 nghìn đồng năm 2004 lên
752.42 nghìn đồng năm 2006). Nếu Vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc là