Khái niệm về mầu sắc
Các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp cũng như nghiệp dư luôn luôn t
ìm
m
ọi cách nắm vững mầu sắc, để thể hiện một cách chính xác các mầu
sắc đối tượng mô tả mang lại. Nói một cách khác, các nhà nhi
ếp ảnh
phải nắm bắt được mầu sắc tốt nhất để làm nổi bật trạng thái m
à anh ta
nhìn thấy qua hình ảnh có trong tự nhiên. Muốn vậy nhà nhi
ếp ảnh phải
sử dụng thành thạo nguồn sáng, góc độ chiếu sáng cũng như n
ắm vững
nguyên tắc xử lý của quá trình in, tráng phim.
Như chúng ta đã biết một khi ánh sáng thay đổi thì m
ầu sắc cũng thay
đổi theo. Muốn nắm được nguyên tắc cơ bản đó, đòi hỏi nhà nhi
ếp ảnh
phải học cách quan sát mầu sắc một cách nhạy cảm để ghi nó l
ên phim
được trung thực nhất với một sự hiểu biết sâu sắc, và kinh nghiệm đ
ã
tích luỹ được. Chìa khóa dẫn tới sự hiểu biết vè mầu sắc ngư
ời nghệ sĩ
không chỉ phải nhận thức được đặc tính của vật chụp, mà còn ph
ải hiểu
sâu sắc bản chất ánh sáng tác động lên đối tượng.
Chúng ta có thể khẳng định rằng, nhà nhiếp ảnh n
ào luôn luôn quan
tâm chú ý tới s
ững khác biệt rất quan trọng, đồng thời cũng cần nắm
vững sự tăng, giảm mầu sắc trong công nghệ sao chép các m
àu khác
nhau trên truyền hình, trong hội hoạ cũng như trong phim mầu.
Đ
ể đi đến định nghĩa một cách đúng đắn về mầu sắc, chúng ta phải bắt
đầu với chính ánh sáng tự nhiên, vì chúng ta nhìn thấy mầu s
ắc trong
thiên nhiên chính là nhờ có ánh sáng, dù nguồn sáng đư
ợc tạo ra bởi
ánh sáng mặt trời, đèn chớp hay đèn r
ọi. Một minh chứng ngoạn mục
về sự tồn tại mầu sắc trong ánh áng mặt trời đư
ợc biểu hiện bằng cầu
vồng mà từng màu riêng biệt được trộn cùng nhau.
Trong ánh sáng tự nhiên (ánh sáng trắng), chúng ta nhìn th
ấy các vật
phô bày màu sắc của chúng đúng với thực tế, như qu
ả táo đỏ, bông hoa
thuỷ tiên vàng, đó là do chúng hấp thụ được một vài ánh sáng và ph
ản
xạ những màu khác. Do sự thêm, bớt và pha trộn của các màu s
ắc cầu
vồng trong hàng nghìn hoán vị đã làm tồn tại toàn bộ trên th
ế giới mầu
sắc của chúng ta.
Mầu sắc của ánh sáng
ặt trời
bị “lệch hướng” khi đi qua lăng kính để toả ra một ch
ùm ánh sáng
nhiều màu sắc giống như màu sắc cầu vồng gồn bảy màu chính c
ủa
quang phổ đó là: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím.
Newton kết luận rằng ánh sáng là s
ự trộn lẫn của các loại ánh sáng
màu, mỗi loại là một màu nguyên chất và qua lăng kính các màu này b
ị
phân tích thành những tỷ lệ số lượng khác nhau trong đó tia đỏ l
à ít
nhất, tia tím chiếm tỷ lệ nhiều nhất, còn các m
ầu khác chiếm tỷ lệ trung
bình. Ông nhận thấy khi trộn các màu trong quang ph
ổ, rồi chiếu ánh
sáng của nó tới một tiêu điểm của thấu kính, ông nhận đư
ợc ánh sáng
trắng. Và bằng cách chọn ra một vài màu trư
ớc khi hỗn hợp với các
màu khác, ông nhận được một hỗn hợp m
àu. Nhưng màu này khác xa
với màu trong quang phổ.
Những gì mà Newton khám phá ra đã khẳng định rằng màu s
ắc của bất
cứ vật gì trong thiên nhiên đều phụ thuộc vào loại ánh sáng tác độ
ng
vào mắt. Điều này phụ thuộc vào loại ánh sáng chiếu vào m
ột vật thể
và các màu riêng biệt trong ánh sáng đó, mà v
ánh sáng chiếu lên nó và hấp thụ mạnh các màu khác. Nếu l
à màu đen
thì nó đang hấp thụ hoàn toàn tất cả các màu trong quang phổ.
Rõ ràng vật chất không chỉ hấp thụ một số năng lư
ợng ánh sáng chiếu
vào chúng mà nó còn phát ra ánh sáng của các m
àu khác nhau. Và
những vật chất này được gọi là “phát quang”. Chẳng hạn viên ng
ọc
ruby sẽ hấp thụ sắc xanh trong ánh sáng và phát ra sắc đỏ.
Ánh sáng là một thứ vật chất thay đổi theo sức nóng h
ấp thụ. Năm
1800, nhà thiên văn học người Anh William Herschel (1750 – 1848) đ
ã
khám phá ra một thành phần không nhìn tháy đư
ợc trong ánh sáng mặt
trời bởi tác động sức nóng cúa nó lên nhiệt kế. “Thành ph
ần không
nhìn thấy đó” nằm ngoài vùng tia đỏ ở cuối cùng trong quang phổ, v
ì
vậy William Herschel đã đặt tên cho nó là tia hồng ngoại. Có m
ột loại
phim đặc biệt thích ứng với loại tia này.
Đối với những vật thể trong suốt, màu sắc đư
ợc toả sáng, khi ánh sáng
chiếu qua một vật trong suốt, thì môt màu trong suốt trông giống nh
ư
màu của tia phản xạ và hấp thụ một tổ hợp màu và phát ra những m