Tiểu luận Vai trò của nhà nước trong nền KTTT doc - Pdf 11

Tiểu luận

Vai trò của nhà nước
trong nền KTTT

§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong lịch sử phát triển nền kinh tế của các nước XHCN trên
thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, chúng ta chỉ thấy một
mô hình kinh tế thuần nhất đó là mô hình kinh tế chỉ huy tập trung
bao cấp. Có thể nói đây là một mô hình kinh tế kém năng động và
khó thích nghi với sự phất triển chung của kinh tế thế giới, chính vì
vậy mà một số các quốc gia và cả nước ta khi áp dụng mô hình này
đã gặp phải những khó khăn không nhỏ. Từ việc nhận thức đúng
đắn những ưu khuyết tật trong thực tiễn tồn tại của nền kinh tế lúc
bấy giờ nên đại hội đảng VI đã đi đến quyết định mang tính cách
mạng trong con đường cái cách nền kinh tế. Bắt đầu từ đó mô hình
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị

theo đinh hướng XHCN ở nước ta.
- Phân tích những mục tiêu và chức năng quản lý vĩ mô của
Nhà nước.
- Nêu được một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới và tăng
cường vai trò kinh tế của Nhà nước ta hiện nay.
Trong quá trình nghiên cứu về đề tài này, em đã cố gắng hết
sức, song em tin chắc mình không thể tránh khỏi những thiếu xót.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
3
Dù vậy, em cũng mong rằng bài viết của em được kết quả tốt, được
thầy giáo đánh giá cao.

§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
4
PHẦN I
Lí LUẬN CHUNG VỀ VAI TRề KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XHCN
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

I. Tính tất yếU khách quan vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước
ĐốI với nền kinh tế thị trường.

* Những điều kiện bảo đảm cho nền KTTT hình thành và phát
triển:

Thứ nhất : Phải có nền KTHH phát triển, đIều đó có nghĩa là
phải có sự phân công lao động xã hội phát triển, có các hình thức,
các loại hình sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất.

Thứ hai
Trong một nền kinh tế có nhiều chủ thể cùng sản xuất một
loại sản phẩm; và ngược lại mỗi chủ thể sản xuất và tiêu dùng cũng
cần nhiêu loại hàng hoá khác nhau. Việc tự do lựa chọn, xây dựng
các mối quan hệ bạn hàng là điều kịên không thể thiếu được để các
: Phải có sự tự do trong trao đổi hàng hoá trên thị
trường, tự do lựa chọn bạn hàng giữa các chủ thể sản xuất kinh
doanh.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
6
chủ thể kinh tế lựa chọn cho mình những phương án tối ưu. Đó là
một điều kiện rất quan trọng bảo đảm cho nền KTTT phát triển.
Trước đây trong đIều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung,
toàn bộ yếu tố đầu vào, đầu ra, sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu,
bằng cách nào và phân phối theo địa chỉ nào…tất cả đều theo một
hệ thống pháp lệnh chi tiết, cụ thể theo kế hoạch. Do vậy các quan
hệ thị trường trao đổi ngang giá không còn đúng nghiã nữa mà biến
dạng đi rất nhiều.

Thứ ba
Muốn hình thành và phát triển KTTT, mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh đều phải tuân thủ giá cả thị trường. Đương nhiên giá cả

tế, gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế là một yêu cầu
khách quan. Không thể có một nền KTTT nào phát triển được nếu
hoạt động của nó bó hẹp trong khuôn khổ một quốc gia nhất định.
Do vậy việc tham gia phân công lao động quốc tế, mở rộng quan hệ
với bên ngoài, gắn thị trường trong nước với thị trường nước ngoài
là điều kiện quan trọng cho sự phát triển kinh tế nói chung và nền
KTTT mang mầu sắc Việt Nam nói chung.
2. Các giai đoạn phát triển của nền KTTT.
*Giai đoạn 1 : Những yêú tố cơ bản nhất của nền KTTT được
tạo ra với ưu thế của bàn tay vô hình của thị trường, cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa quan liêu đòi chế độ tự quản.v.v Nhưng ngay từ
đầu đã có sự can thiệp của bàn tay hữu hình của Nhà nước, đồng
thời phải tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
8
bản trong các hình thức tổ chức thị trường về cơ cấu quản lý KTTT.
Sự tác động qua lại và quy định lẫn nhau đó, theo nguyên tác tự
dovà được kết hợp chặt chễ theo khuôn khổ mục tiêu của nền
KTTT có sự quản lý của Nhà nước.
*Giai đoạn 3: Những yếu tố mới của sự tiến bộ xã hội (khoa
học công nghệ, dân trí, quốc tế hoá) càng đòi hỏi ở nền KTTT sự
phát triển cao, tính xã hội của nền KTTT càng tăng ,vai trò cuả Nhà
nước càng lớn và tương ứng với nó là sự thay đổi phương thức quản
lý thích hợp.
3. Những ưu, khuyết điểm của nền KTTT.
a/ Những ưu điểm của nền KTTT.
Thứ nhất: Thúc đẩy sản xuất, gắn sản xuất với tiêu thụ-mục
tiêu của sản xuất. Do đó người ta tìm mọi cách rút ngắn chu kì sản
xuất, thục hiện tái sản xuất mở rộng, áp dụng những thành tựu khoa

sống dân cư, một bộ phận dẫn đến phá sản, phân hoá giầu nghèo
dẫn đến khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp và số đông người lao
động lâm vào cảnh nghèo khó.
Thứ ba: Xã hội phát sinh nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội gắn
liền với hiện trạng nền kinh tế sa sút, gây rối loạn xã hội. Nhà kinh
doanh thường tìm đủ thủ đoạn, mánh khoé làm hàng giả, buôn lậu,
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
10
trốn thuế, không từ bỏ một thủ đoạn nào nhằm thu được lợi nhuận
tối đa.
Thứ tư: Vì mục tiêu lợi ích cá nhân, dẫn đến sự sử dụng bừa
bãi, tàn phá các nguồn tài nguyên và huỷ diệt một cách tàn khốc tài
nguyên môi trường sinh thái, không còn giữ lại cho đời sau, sự phát
triển không bền vững.
Thứ năm: Nền KTTT vận hành theo CCTT, có chế này có thể
gây ra sự mất ổn định thường xuyên, phá vỡ sự cân đối trong nền
sản xuất xã hội. Hậu quả tiêu cực của nó thường đi liền với những
vấn đề nan giải. Thực tế phát triển nền KTTT trong mấy chục năm
qua chỉ rõ vấn đề lạm phát, thất nghiệp và chu kỳ kinh doanh là
những căn bênh kinh niên không thể khắc phục được nếu không có
sự can thiệp của Nhà nước.
Thêm nữa, trong nền KTTT thường tồn tại những ngành nghề
kinh tế thiếu sự cạnh tranh vì ở đó có mức lợi nhuận thấp, số vốn
đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn rất chậm nhưng rất cần cho sự ổn
định phát triển kinh tế và rất cần cho việc giải quyết những vấn đề
xã hội như: y tế, giáo dục, xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình
công cộng khác.
Qua trên ta thấy, nền KTTT có khả năng tập hợp tự động được
hành động, trí tuệ và tiềm lực của hàng triệu con người và hướng

§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
12
Sự can thiệp của Nhà nước một mặt nhằm định hướng thị trường,
phục vụ tốt các mục tiêu kinh tế-xã hội trong từng thời kỳ; mặt
khác, nhằm sửa chữa, khắc phục những khuyết tật vốn có của
KTTT, tạo ra những công cụ quan trọng điều tiết thị trường mà
không vi phạm cơ chế tự đIều chỉnh ở tầm vĩ mô. Bằng cách đó,
Nhà nước kiềm chế sưc mạnh nguy hiểm của tính tự phát chứa
đựng trong lòng thị trường, đồng thời phát huy được những ưu thế
vốn có của KTTT.
Cũng từ những khuyết tật mà ta phân tích ở trên của nền KTTT ,
ta nhận thấy tính tất yếu khách quan vai trò của Nhà nước đối với
nền KTTT mà không cần thiết phải đi sâu phân tích quá trình lịch
sử rồi mới đi đến kết luận.
ii. cơ chế thị trường ở nước ta và Các đặc đIểm, đặc trưng của
kttt định hướng XHCN .
1. Đặc điểm của cơ chế thị trường hiện nay.
Có nhiều cách tiếp cận, phân tích, lý giải khác nhau khi nhìn
vào sự vận động của nền kinh tế hiện nay. Trong mục này em xin
được trinh bày những đặc trưng của cơ chế thị trường trên cơ sở
nhìn lại những năm đổi mới, đồng thời có liên hệ đến bước đi,
những quá trình có tính quy luật của bước chuyển từ nền kinh tế chỉ
huy sang nền kinh tế thị trường có cự quản lý của Nhà nước theo
định hướng XHCN.
Với cách tiếp cận như trên, những đặc điểm lớn của nền kinh
tế thị trường_cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta là:
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
13

CCTT còn thiếu đồng bộ, có sự không ăn khớp giữa hai thị
trường: thị trường hàng hoá thì phát triển khá mạnh mẽ trong khi thị
trường các nhân tố sản xuất thì có sự lạc hậu khá lớn.
Thêm nữa, sự hình thành và vận động của nềnn KTTT còn
mang nhiều yêu tố tự phát, cơ chế vận hành thô sơ tạo điều kiện cho
làm ăn bất chính; cơ chế quản lý thì đổi mới thiếu triệt để tạo mội
trường thuận lợi cho tệ nạn tham nhũng và các mặt tiêu cực của thị
trường phát sinh, phát triển.
c/ CCTT có sự quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế định hướng
XHCN là vấn đề vẫn còn mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử và
không có mô hình vạch sẵn. Do vậy không thể ngay từ đầu hình
dung toàn bộ các chi tiết của mô h ình thị trường; cũng không thể
vạch ngay được một lịch trình cứng nhắc của bước chuyển mà phải
vừa thực hiện CCTT vừa tổng kết để tiếp tục thực hiện.
d/ Chúng ta chủ chương chuyển sang CCTT trên cơ sở ổn định
chính trị; lấy ổn định chính trị làm tiền đề cho ổn định và cải cách
kinh tế; mặt khác cũng cũng nhận thức rõ phải đổi mới mạnh mẽ
trong kĩnh vực hành chính, trên cơ sở đổi mới quản lý Nhà nước,
tiếp tục ổn định chính trị đưa cải cách tiến lên một bước tiến mới,
kiên định phát triển kinh tế-chính trị theo con đường XHCN.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
15
Định hướng XHCN là không thay đổi, tuy vậy cũng có những
nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội, khẳng định rằng CNXH có thể
sử dụng những công cụ phổ biến mà CNTB đã từng sử dụng như thị
trường , các quan hệ hàng hoá-tiền tệ, quy luật giá trị v.v cho mục
tiêu của mình.
Xuất phát từ thực tế thị trường nước ta đang trong thời kì hình
thành và phát triển, trong nó còn tồn tại những yếu tố mất ổn định.

đó, và do đó có những đặc điểm riêng phân biệt với nền KTTT của
các nước khác. Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam có
những đặc trưng sau đây.
Thứ nhất : Nền kinh tế dựa trên cơ sở cơ cấu đa dạng về hình
thức sở hữu. Trong đó sở hữu Nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Do
đó nền kinh tế gồm nhiều thành phần,trong đó kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo.
Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, thành phần
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Việc xác định thành phần kinh
tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là sự khác biệt có tính chất bản chất
giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với KTTT của
các nước khác. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường
ở nước ta đã quy định kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo
trong cơ cấu kinh tế.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
17
Thứ hai : Trong nền KTTT định hướng XHCN ,thực hiện
nhiều hình thức phân phối thu nhập; phân phối theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế, phân phối dựa trên mức đóng góp các
nguồn lực vào sản xuất kinh doanh. Phân phối thông qua các quỹ
phúc lợi xã hội, trong đó phân phối theo kết quả lao động giữ vai
trò nòng cốt, đi đôi với chính sách điều tiết thu nhập một cách hợp
lý. Chúng ta không coi bình đẳng xã hội như là một trật tự tự nhiên,
là điều kiện của sự tăng trưởng kinh tế, mà thực hiện mỗi bước tăng
trưởng kinh tế gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ
và công bằng xã hội.
Như đã biết, mỗi chế độ xã hội có một chế độ phân phối
tương ứng với nó. Chế độ phân phối do quan hệ sản xuất thống trị,
trước hết là quan hệ sản xuất quyết định. Phân phối có liên quan

mà là xu hướng chung của nền kinh tế thế giới hiện nay. Trong
điều kiện hiện nay chỉ có mở cửa kinh tế hội nhập vào kinh tế thế
giới và khu vực mới thu hút được vốn, kỹ thuật công nghệ hiện đại,
kinh nghiệm quản lý tiên tiến để khai thác tiềm năng và thế mạnh
của nước ta, thực hiện phát triển kinh tế thị trường theo kiểu rút
ngắn. thực hiện mở cửa kinh tế theo hướng đa phương hoá và đa
dạng hoá. Các hình thức kinh tế đối ngoại hướng mạnh về xuất
khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm kỳ mức sản
xuất có hiệu quả.
PHầN II
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
19
THựC TRạNG và giảI pháp nhằm tăng cường VAI TRò QUảN
Lý KINH Tế CủA NHà NƯớC trong nền kttt.

i/ thực trạng vai trò quản lý kinh tế của nhà nước
1/ Thành tựu.
Trong những năm qua nhờ sự quản lý kinh tế chặt chẽ và
đúng đắn của Nhà nước mà nền kinh tế của nước ta đã có những
bước phát triển mạnh mẽ.
1.1. Công nghiệp.
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 2 năm 2005 ước đạt 29.261
tỷ đồng, tăng 2% so với tháng 2 năm 2005. Tính chung cả 2 tháng,
giá trị sản xuất công nghiệp đạt khoảng 65.414 tỷ đồng, cao hơn
mức kế hoạch và tăng 16,1% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 15,6%),
trong đó khu vực ngoài quốc doanh có mức tăng trưởng cao nhất
(tăng 27,2%), khu vực có vố n đầu tư nước ngoài và khu vực doanh
nghiệp nhà nước đều tăng thấp hơn mức tăng chung của toàn ngành
(tương ứng là 13,5% và 10,5%).

cả nước đó gieo cấy được gần 2.475 nghỡn ha lỳa Đông Xuân, bằng
103,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh miền Bắc gieo
cấy được gần 702 nghỡn ha, tăng hơn cùng kỳ năm trước 21,4%;
các tỉnh phía Nam đó cơ bản gieo cấy xong lúa đông xuân, đạt gần
1.773 nghỡn ha, bằng 98,3% so với cùng kỳ năm 2004. Lúa sinh
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
21
trưởng và phát triển khá; các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long
đó thu hoạch 384,3 nghỡn ha lỳa đông xuân, chiếm 26% diện tích
gieo cấy. Năng suất thu hoạch ban đầu tương đối khá.
Về thuỷ sản: Tổng sản lượng thuỷ sản 2 tháng đầu năm 2005 ước
đạt 507 nghỡn tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó
sản lượng khai thác hải sản ước đạt gần 272 nghỡn tấn, bằng 15,5%
kế hoạch, tăng 0,35% so với cùng kỳ; sản lượng nuôi trồng và khai
thác nội địa ước đạt 235 nghỡn tấn, đạt 15% kế hoạch và tăng 2,6%
so với cùng kỳ năm trước.
Về lõm nghiệp: Hai tháng đầ u năm 2005 trồng rừng tập trung ước
đạt 32,5 nghỡn ha; trồng cõy phõn tỏn ước đạt 64 triệu cây; chăm
sóc rừng trồng 33,2 nghỡn ha; khoanh nuụi tỏi sinh và trồng dặm
161,2 nghỡn ha.
1.3. Dịch vụ.
Tháng 2 năm nay trùng với Tết Nguyên đán; thu nhập của các
tầng lớp dân cư được cải thiện một bước, nên sức mua của dân cư
vào dịp trước và trong Tết tăng khoảng 20 -30% so với Tết năm
trước.
Các doanh nghiệp sản xuất và thương mại trong nước đó chủ động
sản xuất và chuẩn bị nguồn hàng dự trữ từ trước Tết nên cung vẫn
đáp ứng đủ nhu cầu. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch
vụ tháng 2 ước đạt 33,59 nghỡn tỷ đồng; tính chung cả hai tháng đạt

phụ tùng phục vụ cho sản xuất như xăng dầu ước đạt 850 nghỡn tấn,
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
23
thộp cỏc loại 320 nghỡn tấn, mỏy múc thiết bị, phụ tựng 400 triệu
USD.
Nhập siêu 2 tháng đầu năm 2005 ước khoảng 825 triệu USD, chiếm
20,2% so với tổng kim ngạch xuất khẩu, cao hơn so với cùng kỳ
nhiều năm trước (cùng kỳ năm 2003 là 5,5%; năm 2004 là 9,3%).
1.5. Đầu tư phát triển.
Thực hiện vốn đầu tư XDCB thuộc Ngân sách Nhà nước (chủ
yếu là nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung) tháng 2 đạt
khoảng 3.037,8 tỷ đồng, bằng 5,9% kế hoạch; tính chung 2 tháng
đầu năm ước đạt 7.003,4 tỷ đồng, bằng 13,5% kế hoạch, thấp hơn so
với cùng kỳ (cùng kỳ năm 2004 đạt 14,3% kế hoạch). Vốn tín dụng
đầu tư theo kế hoạch tháng 2 ước đạt 1.600 tỷ đồng. Tính chung 2
tháng, nguồn vốn tín dụng đầu tư đạt 2.800 tỷ đồng, bằng 9,3% kế
hoạch năm, trong đó nguồn vốn trong nước cho vay theo kế hoạch
thực hiện thấp, chỉ đạt 700 tỷ đồng, bằng 3,8% kế hoạch năm;
nguồn vốn ODA đạt 600 tỷ đồng, bằng 10% kế hoạch năm; nguồn
vốn đầu tư hỗ trợ xuất khẩu đạt 1.000 tỷ đồng.
Thu hút vốn ODA: Từ đầu năm đến 21/2/2005 nguồn ODA được
hợp thức hoá bằng việc ký kết các Hiệp định với các nhà tài trợ đạt
trị giá khoảng 21 triệu USD, toàn bộ là dự án viện trợ không hoàn
lại. Tính chung 2 tháng đầu năm 2005, ước tổng giá trị giải ngân
ODA đạt khoảng 158 triệu USD (trong đó vốn vay khoảng 123 triệu
USD, vốn viện trợ không hoàn lại khoảng 35 triệu USD), đạt
khoảng 9% so với kế hoạch giải ngân năm 2005. Trong tổng mức
giải ngân 2 tháng, phần vốn vay của 3 nhà tài trợ lớn (JBIC, WB,
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status