Luận văn: Nguồn nhân lực Việt Nam: Lợi thế, thách thức và xu hướng phát triển trong tiến trình hội nhập kinh tế - Pdf 11


1Luận văn

Nguồn nhân lực Việt Nam:
Lợi thế, thách thức và xu
hướng phát triển trong tiến
trình hội nhập kinh tế

2
LỜI NÓI ĐẦU

Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một động lực thúc đẩy.Phát
triển kinh tế xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực (nguồn lực con
người), vật lực (nguồn lực vật chất, công cụ lao động, đối tượng lao động,
tài nguyên thiên nhiên, …), tài lực (bao gồm nguồn lực tài chính, tiền tệ)
…song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển.
Từ thời xa xưa con người đã sử dụng công cụ lao động thủ công, đơn giản
để sản xuất ra của cải vật chất thoả mãn nhu cầu của bản thân.Ngày nay, Sản
xuất ngày càng phát triển, phân công lao động xã hội ngày càng chi tiết, hợp
tác ngày càng chặt chẽ, những tiến bộ KHCN được áp dụng vào sản xuất
làm thay đổi tính chất của lao động từ lao động thủ công sang lao động cơ
khí và trí tuệ.
Đối với các quốc gia đang phát triển như chúng ta, dân số đông nguồn lực
dồi dào. Nếu biết khai thác chúng một cách hiệu quả sẽ thúc đẩy kinh tế phát
triển nhanh chóng.Vì vậy hơn ai hết đảng và nhà nước ta hiểu được nguồn
lực quan trọng nhất để phát tiển đất nước đó chính là con người. Nếu như
trước đây con người Việt nam được biết đến với ý chí quật cừơng, sự thông
minh, dũng cảm, thì ngày nay chúng ta được biết đến như một dân tộc nghèo

a) Khái niệm
Có nhiều cách hiểu khác nhau về NNL:
 Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều
khía cạnh. Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội
bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường.
NNL được hiểu với tư cách là tổng thể các cá nhân, những con người cụ
thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật chất và
tinh thần được huy động vào quá trình sản xuất.Với cách hiểu này NNL bao
gồm người bắt đầu bước vào độ tuổi lao động trở lên .
 NNL với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế- xã hội là khả
năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân
cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Cách hiểu này NNL tương
đương với nguồn lao động.
Các cách hiểu này chỉ khác nhau về việc xác định quy mô NNL, song đều
nhất trí với nhau đó là NNL nói lên khả năng lao động của xã hội.
 Phát triển NNL Việt Nam là tạo ra sự thay đổi về mặt chất lượng của
NNL các mặt thế lực, trí lực, chuyên môn khoa học-kỹ thuật, phẩm chất và
nhân cách để đáp ứng những đòi hỏi cao của nền kinh tế, văn hoá- xã hội
trong bối cảnh cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và xu hướng phát
triển của thế giới.
b) Vai trò của phát triển NNL đối với phát triển kinh tế-
xã hội

5
Khai thác tiềm năng trí tuệ, phát huy sáng tạo của con người trở thành
cần thiết và chủ yếu đối với phát triển KT-XH. Trước đây nguồn lao động
(NLĐ) nhiều và rẻ được coi là thế mạnh hàng đầu về nhân lực thì ngày nay,
yếu tố chất lượng ngày càng được nhấn mạnhvà quan tâm. Tri thức trở thành
thế mạnh mũi nhọn đối với nền kinh tế phát triển. Cạnh tranh lành mạnh
trong khoa học- kĩ thuật nói riêng và trong kinh tế thị trường nói chung, suy

không chú trọng phát triển NNL thì sẽ tụt hậu về kinh tế ngày càng xa đối
với các nước trong khu vực và thế giới. Vì vậy, phát triển NNL đóng vai trò
vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước vì nó quyết
định sự giầu có, hưng thịch của một quốc gia.
2) Các chỉ tiêu đánh giá NNL
a) Chỉ tiêu vế số lượng NNL.
 Quy mô NNL: Đựơc hiểu là tổng số người trong độ tuổi lao động, có khả
năng lao động được xác định tại một thời điểm nhất định.
Quy mô NNL ở các thời điểm khác nhau là khác nhau. Nó phụ thuộc vào
quy mô dân số và tốc độ tăng dân số. Quy mô và tốc độ tăng dân số càng lớn
thì quy mô và tốc độ tăng NNL lớn và ngược lại.
 Tốc độ tăng NNL: Tại một thời kì là sự chênh lệch về quy mô NNL ở thời
điểm đầu và thời điểm cuối của thời kì, tính bằng phần trăm so với NNL ở
thời kì đầu và thường được quy về một năm.
Như đã nói ở trên tốc độ NNL phụ thuộc vào tốc độ tăng dân số, tốc độ tăng
dân số cao thì tốc độ tăng NNL cao và ngược lại.
 Cơ cấu NNL: Cơ cấu NNL là sự phân chia toàn bộ NNL thành các bộ
phận khác nhau theo các tiêu thức khác nhau tạo nên cơ cấu NNL, các đặc
trưng chủ yếu để phân chia là: độ tuổi, giới tính, tôn giáo, vùng, trình độ văn
hoá…
b) Chất lượng NNL.

7
Khái niệm:
Chất lượng NNL là trạng thái nhất định của nguồn lực thể hiện mối quan
hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của NNL.
Chất lượng NNL không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển
kính tế, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã
hội, bởi lẽ chất lượng NNL sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn thúc đẩy kinh
tế, văn hoá, xã hội phát triển.

Trình độ kĩ thuật của người lao thường dùng để chỉ trình độ được đào tạo ở
các trường kĩ thuật, được trang bị kiến thức nhất định, những khả năng thực
hành công việc nhất định. Nó được thể hiện thông qua chỉ tiêu:
_Số người lao động được đào tạo và lao động phổ thông.
_Số người có bằng kĩ thuật và không có bằng.
_Trình độ tay nghề theo bậc thợ.
Trình độ chuyên và kĩ thuật thương được kết hợp chặt chẽ với nhau thông
qua chỉ tiêu số lao động được đào tạo và không được đào tạo trong từng tập
thể NNL.
Chất lượng NNL thể hiện thông qua chỉ số phát triển con người (HDI).
Chỉ số này tính bởi ba chỉ tiêu chủ yếu.
_Tuổi thọ bình quân.
_Thu nhập bình quân đầu người (GDP/người)
_Trình độ học vấn (tỉ lệ biết chữ và số năm đi học trung bình dân cư).
Ngoài các chỉ tiêu trên còn có một số chi tiêu khác như: truyền thống dân
tộc, bảo vệ tổ quốc, truyền thống văn hoá văn minh dân tộc, phong tục tập
quán , lối sống…
Đây là các chỉ tiêu nhấn mạnh đến ý chí tinh thần của người lao động.
II) HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ (HNKTQT) LÀ GÌ ?
1)Khái niệm
HN là là việc các nước đi tìm kiếm một điều kiện nào đó mà họ có thể
thống nhất được với nhau, kể cả dành cho nhau những ưu đãi tạo ra những

9
điều hiện cân bằng, có đi có lại trong quan hệ hợp tác với nhau nhằm khai
thác những khả năng của nhau phục vụ cho nhu cầu của mình.
Như vậy HNKTQT: là tổng thể các quan hệ về kinh tế và khoa học công
nghệ có liên quan đến tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất xã hội diễn
ra giữa các quốc gia cũng như giữa các quốc gia và các tổ chức kinh tế quốc
tế.

công nghiệp phát triển phải giảm thuế xuất nhập khẩu hàng công nghiệp
xuống còn 3.4%, nông sản xuống còn 6%, các nước đang phát triển được
duy trì với thuế xuất ở mức 12.3% và 10%. Điều này làm nhà nước giảm
thu ngân sách từ thuế, hàng hoá nhập khẩu giá rẻ xâm nhập vào trong nước
liên tục gia tăng, tình trạng này gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong
nước( công nghệ lạc hậu, vốn ít…), không còn được sự bảo hộ của nhà
nước nên không thể cạnh tranh được hàng hoá nhập khẩu từ bên ngoài.
Làm cho họ có thể dẫn đến phá sản, tăng tình trạng thất nghiệp.

Khi hội nhập kinh tế các nước có cơ hội nhận được nguồn vốn tài trợ,
đầu tư của các tổ chức kinh tế, chính phủ từ các nước khác song bên cạnh
đó điêu này thường đi kèm với các điều kiện vế chính trị. Điều này dẫn đến
sự phụ thuộc vế chính trị dẫn đến phụ thuộc về kinh tế điều này có thể vô
tình dẫn đến cản trở phát triển kinh tế.
Trong quá trình hội nhập kinh tế nếu nhà nước không có chính sách quản
lí tốt thì có thể dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, khai
thác tài nguyên một cách tràn lan, tăng các tệ nạn xã hội như: ma tuý, mại
dâm…

III) MỐI QUAN HỆ GIỮA NNL VÀ HNKTQT

1) NNL tác động đến tiến trình HNKTQT
Hội nhập kinh tế đòi hỏi mỗi tổ chức và quốc gia phải có đầy đủ tiềm lực
về tài chính, khoa học công nghệ đặc biệt là yếu tố NNL cần được coi trọng.

11
Nó là nhân tố cốt lõi, chủ đạo, quyết định sự thành công của mỗi quốc gia
khi tham phân công lao động quốc tế. Thật vậy một tổ chức chỉ đủ khả năng
cạnh tranh hàng hoá trên thị trường khi họ có một đội ngũ nhân lực kĩ thuật
cao, lành nghề,… điều này làm cho sản phẩm của họ có lợi thế hơn so với

sản…. chứ không hề có lợi trong các ngành sử dụng công nghệ cao hoặc
ngành sử dụng nhiều vốn. Bởi vậy, việc không ngừng nâng cao tính cạnh
tranh của NNL đang trở thành cuộc chạy đua giữa các doanh nghiệp, các
nền kinh tế. Có thể nói hội nhập đang tạo ra yêu cầu, động lực và điều kiện
để phát triển NNL. Việc nâng cao tay nghề, đào tạo chuyên môn kĩ thuật cho
NNL trở thành thách thức đối với Việt Nam trong việc phát triển NNL.
Bên cạnh đó hội nhập cũng đã có một số tác động tích cực đến việc nâng
cao chất lượng lao động Việt Nam cụ thể là:
Thứ nhất: HNKTQT kích thích sự phát triển nhanh chóng của khoa học-
công nghệ đòi hỏi người lao động phải không ngừng nâng cao trình độ cho
theo kịp với sự phát triển kinh tế.
Thứ hai: Đối với lao động đang làm việc tai các doanh nghiệp có phương
pháp và quản lí tiên tiến trong và ngoài nước, qua quá trình làm việc họ đã
học tập tiếp thu được tay nghề năng lực quản lí và tác phong làm việc.
Quá trình này cũng làm bộc lộ hạn chế của lực lượng lao động Việt Nam.
Cả nước đang phải chứng kiến một nghịch lí là trong khi ta thừa lao động
trên thị trường thì vẫn thiếu cục bộ đối với mốt số ngành đang có nhu cầu
cao, tại một số khu chế xuất, khu công nghiệp và đặc biệt là thị trường lao
động nước ngoài. Sức cạnh tranh yếu của NNL Việt Nam không chỉ thể hiện
ở trình độ chuyên môn, thiếu ngoại ngữ mà còn ở tinh thần chấp hành kỉ
luật, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, văn hoá ứng xử trong công việc chưa
thích nghi được với nền kinh tế hiện đại. Đó cũng là thách thức lớn với Việt
Nam trong quá trình hội nhập.
3)Vì sao phải HNKTQT
Lý do của HN có cả nhân tố khách quan và chủ quan.
Về mặt chủ quan về mặt chủ quan thì nhờ công cuộc đổi mới, nền kinh tế
nước ta đã phát triển nhanh chóng, trạng thái của nền kinh tế đã thay đổi một

13
cách cơ bản: nếu như trong những năm 70-80 của thế kỷ 20 hầu như cái gì

CHƯƠNG II

ĐÁNH GÍA THỰC TRẠNG NNL VIỆT NAM
TRONG TIẾN TRÍNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

15

01/07/2004

16
Như vậy qua bảng số liệu ta có thể thấy quy mô dân số và quy mô NNL
có quan hệ mật thiết với nhau. Quy mô dân số tăng thì quy mô NNL tăng.
Năm 2001 dân số nước ta là 78.68 triệu dân thì trong đó có tới 39.49 triệu
người tham gia lực lượng lao động. Năm 2002 dân số cả nước là 79.73 triệu
dân tăng 1,35% thì có tới 40.69 triệu tham gia lực lượng lao động tăng
3.04%. Năm 2003 dân số cả nước là 80.90 triệu dân tăng 1.47% thì trong đó
có đến 42.13 triệu lao động tăng 3,53%. Năm 2004 dân số cả nước là
khoảng 82.1 triệu người tăng 1.45% thì trong đó có đến 43.25 triệu dân số
tham gia lực lượng lao động, tăng 2.59%. Có thể nhận thấy NNL nước ta
năm sau đều tăng so với các năm trước đó chỉ có duy nhất năm 2004 thì tốc
độ nay tăng chậm hơn. Nguyên nhân của hiện tượng tăng nay là do sự tăng
dân số của các năm trước đó chậm hơn, bởi dân số tăng xẽ kéo theo NNL
tăng theo. Ta cũng nhận thấy dân số củâ nước ta năm 2004 tăng chậm hơn
so vơí các năm trước. Điều này nói lên ta đã làm tương đối tốt công việc
tuyên truyền công tác kế hoạch hoá gia đình. Quy mô dân số và NNL nước
ta tương đối lớn đó, là tiêm năng mà nhiều nước không thể có, với tốc độ
tăng như vây thì nó có thể hoàn toàn đảm bảo cho nước ta có một LLLĐ dồi
dào, năng động dảm bảo sự phát triển kinh tế trong tương lai. Tuy nhiên bên
cạnh đó cúng có nhiều bất lợi bởi tốc độ tăng NNL quá nhanh gây ra sức ép
về việc làm quá lớn cầu lao động, gây nên hiện tương mất cân đối cung- cầu
về lao động, làm tăng tỉ lệ thất nghiệp ơ nước ta.
1)Cơ cấu NNL
a)Cơ cấu NNL theo tuổi

Bảng 2: Cơ cấu NNL theo tuổi ( Đơn vị: %)
tao nâng cao trình độ chuyên môn kĩ thuậ, khi tham gia thị trường lao động
mà đặc biệt là thị trường lao động quốc tế. Song đôi khi cũng gặp nhiều khó
khăn vì NNL trẻ nước ta nhiều song lại thiếu trình độ chuyên môn kĩ thuật,
thiếu kĩ năng kĩ xảo, thiếu kinh nghiệm mà đặc biệt là những ngành lao động
công nghệ cao lại càng thiếu trần trọng.

18
b)Cơ cấu NNL theo giới tính
So với cùng thời điểm 1/7/2003 thì tỉ lệ nam giới năm 2004 tăng 0.3%
chiếm 51% LLLĐ của cả nước, tỉ lệ nữ giới năm 2004 giảm 0.3% chiếm
49% LLLĐ của cả nước (năm 2003 là 49.3%). Ta nhận thây rằng đã có sự
thay đổi rõ ràng trong cơ cấu giới tính NNL. Nếu như thời gian trước tỉ lệ
nam lao động thường ít hơn nữ giới thì trong thời gian này nam tham gia
nhiều hơn. Nguyên nhân trong thời kì nàylà do tỉ lệ sinh con trai nhiều hơn tỉ
lệ sinh con gái nam, đây là do ảnh hưởng của những tàn dư phong kiến để lại
do thái độ trọng nam khinh nữ, đẻ con trai để nỗi dõi tông đường dẫn đên tỉ
lệ nam lao động cao hơn.
Như vậy qua phân tích vấn đề trên ta nhận thấy quy mô NNL nước ta là
rất lớn, theo dự báo trong thời gian tới mức tăng dân số trong độ tuổi lao
động tư 2006-2010 hàng năm sẽ tăng 1.092 triệu lao động tức tăng trung
bình hàng năm là 2% năm, bên cạnh đó còn có hàng triệu lao động người già
cao tuổi song vẫn mong muốn được làm việc. Vì vậy mà vấn đề đào tạo
nâng cao chất lượng NNL cho người lao động la vấn đề hết sức quan trọng
và to lớn đối với nước ta và cần có sự quan tâm củ toàn thể các ban nghành,
đảng và nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội.
2) Chất lượng NNL
NNViệt Nam đựơc đánh giá là cần cù chụi khó , thông minh sáng tạo tiếp
thu khoa học-kĩ thuật- công nghệ nhanh song bên cạnh đó cũng còn có
nhiều hạn chế thách thức mà ta cân quan tâm:
a) Thể lực,thể trạng NNL còn nhiều hạn chế .


Năm 1999 2000 2001

2002 2004
HDI 0.682 0.686 0.688

0.691 0.691
Xếp 101 109 112 112 112
Tổng các nư
ớc
162 172 175 177 177
Nguồn: Báo cáo chỉ số phát triển con người của UNDP năm 2004

20
Như vây năm 2004 nước ta đạt HDI=0.691 trong đó thành phần tuổi thọ
là 0.733 chỉ số tri thức 0.815, chỉ số thu nhập 0.523. Theo số liệu này ta thấy
HDI của nước ta trrong những năm qua tăng nhưng không đáng kể. Năm
1999 xếp trên 61 nước, năm 2000 xếp trên 64 nước, năm 2001 xếp trên 63
nước, năm 2002 và năm 2004 xếp trên 65 nước, có thể nói đây là con số
tăng rất chậm so với tiềm lực dân số nước ta. Tuy nhiên nếu dựa vào phương
pháp tính của LHQ thì thực chất năm 2002 HDI của nước ta là 0.709 xếp
thứ 107/177 nước, xếp trên nhiều nước trong khu vực ( tương đựơng với U-
dơ-mê-kxi-tan, sau Xiri, trên An-giê-ri , đứng trên 70 nước) đây có thê coi là
niềm tự hào đối với nước ta khi mà điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó
khăn, thu nhập thấp. Như vậy ta đã có những bước tiến nhất định trong việc
phát triển con người, tuy nhiên trong thời gian tới cần phải nỗ lực hơn nữa
để theo kịp với các nước trong khu vực và thế giới. Cần chú trọng các
chương trình nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao tuổi thọ, học vấn và thu
nhập cho người dân, đó là cơ sở để thay đổi HDI.
b) Cơ cấu NNL theo trình độ văn hoa Phổ thông

LLLĐ cả nước giảm nhẹ từ 32.08% năm 1996 xuống còn 30.40% năm 2003.
Như vậy có thể thấy cơ cấu LLLĐ của nước ta trong giai đoạn 1996-2003
chuyển dịch theo hướng tăng lao đông có trình độ văn hoá phổ thông đồng
thời giảm lao động không có trình độ văn hoá. Có thể nói đây là tín hiệu
đáng mừng đối với nền kinh tế nươc ta trong giai đoạn hiên nay, giai đọan
mà nền kinh tế đang thiếu lao động có trình độ lành nghê, tay nghề cao. Tuy
nhiên có điều đang cần bàn tới đó là LLLĐ chủ yếu tập trung ơ thành thị,
cac khu công nghiệp, chế xuất lớn trong khi đó ở nông thôn nơi tập trung đa
số lao động nông nghiệp thì lại rất hạn chế về trình độ. Năm 2003 có đến
40.06% lao động tốt nghiệp cấp III tập trung thành thị trong khi đó ở nông
thôn là 11.43%. Vì vậy, để phát triên kinh tế đồng đều giữa các khu vực,
cần phải giảm bớt chênh lệch kinh tế giữa các vung cân phải có chính sách
phân bổ NNL có trinh độ một cách hợp lí hơn, đặc biệt là các nơi vùng sâu
vùng xa cần có chính sách thu hút, khuyến khích người lao động có trình độ
chuyên môn tham gia, trong đó cần chú trọng về chính sách tiên lương, tiền
công, các chế độ phúc lợi xã hội.
 Cơ cấu trình độ chuyên môn kĩ thuật.
Bảng 5: Cơ cấu trình độ chuyên môn kĩ thuật 1996-2003. (Đơn vị %)

Trình độ chuyên
môn kĩ thuật
Năm
1996 2002 2003

22
Cả nước 100 100 100
Không có CMKT 89 81.27 78.85
Có CMKT(sơ cấp, hoc nghề) 11 18.78 21.15
CMKT có bằng 7.26 11.79 11.83


ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc. Điều này được thể
hiện rõ trong các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, khu CN-KCX.
4) Phân bố lao động
Tại thời điểm 1/7/04 LLLĐ của nước ta là 43225.3 triệu người tăng 2.7 %
so với năm 2003 cùng tời điểm, quy mô tăng thêm 1130.6 nghìn người.
Trong đó có lao động cụ thể ở các vùng như sau. Bảng6: Quy mô LLLĐ chia theo vùng Đơn vị %

Vùng

t
ổng số năm
2004
2003

2001

Cả nước 100 100 100
ĐB.Sông Hồng 22.5 22.37 22.02
Đông Bắc 11.9 11.95 16.38
Tây Bắc 3.2 3.15 2.79
Bắc Trung Bộ 12.1 12.12 11.87
DH Nam Trung B


8.3


số lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, Công nghiệp-Xây
dựng là 6.758.590 người chiếm 16.41%, nhóm nghành Dịch vụ là
10.109.923 người chiếm 24.55%.
So với năm 2002, lao động có việc làm trong cả nước tăng thêm 686.546
người. Về số lượng lao động có việc làm trong khu vực I, II và III đều tăng
song tỉ lệ lao động làm việc trong khu vực I tiếp tục giảm 1.63%, tỉ lệ lao
động làm việc trong khu vực II và trong khu vực III tăng 1.28% và 0.35%.
Cơ cấu lao động chia theo nghành năm 2003 và 2002 vẫn tiếp tục giảm theo
hướng có lợi. Trong đó, tỉ lệ lao động làm việc trong các nghành CN-XD
tăng nhanh hơn so với nhóm nghành dịch vụ. Với tốc độ chuyển dịch như

25
thế này cho đến năm 2010 tỉ lệ lao động nông nghiệp sẽ còn khoảng 50%
như mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội IX đề ra.
Theo tỉ lệ lao động làm việc trong nhóm nghành Nông-Lm-Ngư nghiệp theo
8 vùng như sau:
Vùng có tỉ lệ lao động làm Nông-Lâm-Ngư nghiệp dưới 30% là Đông
Nam Bộ (29.99%) hai vùng có tỉ lệ trên 54% đến gần 57% là Duyên Hải
Nam Bộ 54.74% và Đồng Bằng Sông Hồng 56.13%, Tây Nguyên 73.18%,
Đông Bắc 76.28% và Tây Bắc 86.81%. Lao động tập trung trong khu vực
Nông Nghiệp quá nhiều, trong khi đó số lượng đất đai lại hạn chế, điều này
ảnh hươngr đến việc tăng năng xuất lao động, ảnh hưởng đến quá trình thực
hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá và hội nhập kinh tế đât nước. Vì vậy, ta
cần phải phân bố NNL cho các khu vực hợp lí hơn tạo điều kiện thuận lợi
cho việc phát triển kinh tế
6) Tình trạng việc làm của LLLĐ.
Năm 2004 LLLĐ từ 15 tuổi trở lên nói chung ở thành thị có tới 94.6% có
việc làm và có 5.6% là thất nghiệp, khu vực nông thôn có 98.9% là có việc
làm và 1.1% là thất nghiệp. Tỉ lệ tương ứng với nữ là 93.5% và 6.5% ở
thành thị, 98.8% và 1.2% ơ nông thôn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status