Biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở Cty Dụng cụ cắt và đo lường CK - Pdf 11

LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế thị trường là việc tổ chức nền kinh tế xã hội dựa trên cơ sở một nền
sản xuất hàng hóa. Thị trường luôn mở ra các cơ hội kinh doanh mới những đồng
thời cũng chứa đựng những nguy cơ đe dọa các doanh nghiệp. Để có thể đứng vững
trước quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh
nghiệp luôn vận động, tìm tòi một hướng đi mới cho phù hợp. Vì vậy các doanh
nghiệp phải quan tâm, tìm mọi biện pháp để nâng cao hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là mối quan tâm hàng đầu của
các doanh nghiệp. Có nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp mới
tồn tại và phát triển, qua đó mở rộng sản xuất, nâng cao đời sống cán bộ công nhân
viên và tạo sự phát triển vững chắc của doanh nghiệp.
Vấn đề nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh vẫn là bài toán khó đối với
nhiều doanh nghiệp. Ở nước ta hiện nay số doanh nghiệp đạt được hiệu quả trong
quá trình sản xuất kinh doanh vẫn chưa nhiều. Điều này có nhiều nguyên nhân như:
Hạn chế trong công tác quản lý, hạn chế về năng lực sản xuất hay kém thích ứng với
nhu cầu của thị trường. Do đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh càng ngày
càng phải được chú trọng đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Nhà nước.
Qua quá trình thực tập ở Công ty Dụng cụ cắt và đo lường cơ khí, với những
kiến thức đã tích luỹ được cùng với sự nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề này
em đã chọn đề tài: "Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh ở Công ty Dụng cụ cắt và đo lường cơ khí" làm đề tài cho chuyên đề tốt
nghiệp của mình.
Nội dung của chuyên đề gồm 3 phần như sau:
Phần I: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh - Điều kiện tiên quyết để
doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Phần II: Thực trạng và công tác đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh ở Công ty Dụng cụ cắt và đo lường cơ khí.
Trang 1Trang 1Trang 1
Phần III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của Công ty Dụng cụ cắt và đo lường cơ khí.

hưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và
mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội. Và hai loại hiệu quả này có vị trí
quan trọng trong việc phát triển đất nước một cách toàn diện và bền vững. Hiệu quả
chính trị, xã hội phản ánh trình độ phát triển nền kinh tế xã hội ở các mặt: trình độ tổ
chức sản xuất, trình độ quản lý, mức sống bình quân.
Phải luôn có sự cân đối giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả chính trị, xã hội.
Đây là một nguyên tắc để phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia một cách liên
tục và lâu dài. Bất kỳ một sự mất cân đối nào sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm
trọng.
Dưới góc độ của doanh nghiệp thì ta có khái niệm hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh có bản chất của hiệu quả kinh tế và cũng có
bản chất của hiệu quả chính trị, xã hội (đời sống người lao động…). Dưới đây là
một số quan điểm về hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị, xã hội. Nếu áp dụng
những quan điểm đó vào phạm vi của doanh nghiệp thì ta có thể coi đó là các quan
điêmr về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Qua một số quan điểm này chúng ta sẽ hiểu
rõ hơn về khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.1.3. Một số quan điểm về hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Mặc dù đã có sự thống nhất rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh
phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng vẫn chưa có sự
thống nhất trong quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Các nhà kinh tế và thống kê có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sản
xuất kinh doanh do điều kiện lịch sử và giác độ nghiên cứu là không giống nhau.
Quan điểm 1: Trước đây người ta coi "Hiệu quả là kết quả đạt được trong
hoạt động kinh tế, là doanh thu trong tiêu thụ hàng hóa"
1
[Xem trang 9]. Theo quan
điểm này thì hiệu quả là tốc độ tăng của kết quả đạt được như: Tốc độ tăng của
doanh thu, của lợi nhuận. Như vậy hiệu quả được đồng nhất với các chỉ tiêu kết quả
hay với nhịp độ tăng của các chỉ tiêu ấy. Quan điểm này thực sự không còn phù hợp
với điều kiện ngày nay. Kết quả sản xuất có thể tăng lên do tăng chi phí, mở rộng sử

Tóm lại quan điểm này là chính xác, độc đáo nhưng nó mang tính chất lý
thuyết thuần tuý, lý tưởng, thực tế rất khó đạt được.
Quan điểm 4: Quan điểm này cho rằng "Hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội
là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng của nó chứ
không phải là giá trị"
4
[Xem trang 9]. Theo tác giả của quan điểm này, mức độ thỏa
mãn nhu cầu phụ thuộc vào các tác dụng vật chất cụ thể chứ không phải giá trị trừu
tưoựng nào đó. Tuy nhiên quan điểm này gặp phải trở ngại là khó (nếu không muốn
nói là không thể) tính được tính hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra. Và nếu vậy
thì chúng ta không thể so sánh được tính hữu ích giữa các sản phẩm, do đó cũng
không đánh giá được tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh,.
Quan điểm 5: Quan điểm này cho rằng "Hiệu quả kinh tế được xác định bởi
quan hệ tỷ lệ giữa sự tăng lên của đại lượng kết quả và chi phí"
5
[Xem trang 253].
Công thức biểu diễn phạm trù này:
H =
C
K


(1)
∆K: Phần gia tăng của kết quả sản xuất
∆C: Phần gia tăng của chi phí sản xuất
H: Hiệu quả sản xuất kinh doanh
Quan điểm này phản ánh hiệu quả chưa đầy đủ và trọn vẹn. Nó chỉ đề cập
đến hiệu quả của phần tăng thêm bằng cách so sánh giữa phần gia tăng của kinh
doanh sản xuất và phần gia tăng của chi phí sản xuất chứ chưa đề cập toàn bộ phần
tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Xét trên quan điểm triết học Mác Lênin

nghiệp thì phải quan tâm cả kết quả cũng như hiệu quả của doanh nghiệp đó.
Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ lợi dụng các nguồn lực ở
mọi điều kiện "động" của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc tính toán hiệu quả hoàn toàn có thể thực hiện được trong sự vận động
và biến đổi không ngừng của hoạt động sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào
quy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng.
1.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động
kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị, máy móc,
tiền, nguyên vật liệu) để đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp. Bản chất
của hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là sự thực hiện yêu cầu của quy
luật tiết kiệm thời gian.
Các Mác đã cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan
trọng đặc biệt. Mọi hoạt động của con người đều phải tuân theo quản lý đó. Con
người tạo ra của cải vật chất bằng sức lao động. Lao động được đo lường bằng thời
gian. Với một mục tiêu nhất định con người phải thực hiện trong một thời gian lao
động ít nhất hay nói một cách khác thì trong một thời gian lao động nhất định kết
quả đạt được phải cao nhất.
Vì vậy yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt
kết quả tối đa với chi phí tối thiểu (thời gian hao phí lao động thấp nhất). Điều này
có nghĩa là với mức chi phí nhất định thì doanh nghiệp phải đạt kết quả tối đa hoặc
ngược lại, đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu.
Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động
sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và
kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Trước đây trong lý luận cũng như thực
tiễn đã tồn tại sự nhầm lẫn giữa hai phạm trù hiệu quả và kết quả của hoạt động sản
xuất kinh doanh, khi đó đã coi kết quả là mục tiêu mục đích và coi hiệu quả của hoạt
động sản xuất kinh doanh là mục tiêu. Từ quan niệm nhầm lẫn đó dẫn đến sự hạn
chế trong phương pháp luận giải quyết vấn đề, đôi khi người ta hay coi đạt được kết
quả là đạt được hiệu quả và rõ ràng điều đó có nghĩa là không cần chú ý đến hiệu

doanh (doanh nghiệp thương mại, dịch vụ…) và chi phí bỏ ra để thực hiện các hoạt
động sản xuất kinh doanh đó. Trong khi cả hai đại lượng kết quả và chi phí đều khó
xác định chính xác.
Về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chúng ta thấy hầu như rất ít khi
các doanh nghiệp xác định được chính xác các kết quả mà doanh nghiệp thu được ở
một thời điểm nào đó do các quá trình tạo ra kết quả diễn ra trong các doanh nghiệp
thường có sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,… Trong nền kinh tế thị trường,
doanh nghiệp không phải chỉ tạo ra kết quả (sản phẩm, dịch vụ) mà còn phải bán
được các kết quả đó và quá trình bán hàng và quá trình tạo ra kết quả luôn không
trùng nhau. Một doanh nghiệp ở một thời điểm nào đó có thể có nhiều sản phẩm
được sản xuất ra nhưng lại tiêu thụ được rất ít, như thế chưa thể nói doanh nghiệp
đã đạt được kết quả (mục tiêu). Nếu xét trên góc độ giá trị, đại lượng kết quả của
sản xuất kinh doanh không phải là đại lượng đánh giá dễ dàng vì ngoài các nhân tố
ảnh hưởng trên, kết quả sản xuất kinh doanh còn chịu ảnh hưởng của thước đo giá
trị (đồng tiền với những thay đổi của nó trên thị trường). Mặt khác, chính hoạt động
của con người là luôn nhằm đến và đạt đến kết quả nhất định, song không phải lúc
nào con người cũng nắm chắc được, biết hết được các kết quả do chính hành động
của họ. Như vậy, phạm trù kết quả là một phạm trù phức tạp mà không phải lúc nào
chúng ta cũng đánh giá đầy đủ được nó.
Việc xác định đại lượng chi phí cũng không dễ dàng. Nếu xét trân phương
diện lý thuyết thì chi phí tính bằng đơn vị hiện vật là chi phí sử dụng tài nguyên, chi
phí "thực" để tạo ra kết quả của doanh nghiệp song điều đó không thể xác định được
trong thực tiễn. Ở mọi doanh nghiệp, việc kiểm kê, kiểm tra xem đã sử dụng bao
nhiêu đơn vị nguyên nhiên vật liệu mỗi loại cũng không phải lúc nào cũng tiến hành
được. Trong khi đó, ở mọi doanh nghiệp lại còn nhiều loại nguồn lực đầu vào không
chỉ liên quan đến một quá trình tạo ra sản phẩm nào đó mà nó liên quan đến nhiều
quá trình kinh doanh khác nhau. Điều này dẫn tới việc xác định hao phí một cách
chính xác vào một quá trình kinh doanh cụ thể gặp nhiều khó khăn. Nếu xét trên
phương diện giá trị, chi phí kinh doanh thường được hiểu là giá trị của toàn bộ tài
nguyên đã sử dụng trong kinh doanh. Bản thân việc sử dụng các yếu tố đầu vào dưới

Thị trường là nơi diễn ra quá trình trao đổi hàng hóa. Nó tồn tại một cách
khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan nào. Bởi vì, thị trường ra đời và
phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Ngoài ra, thị
trường còn có một vai trò quan trọng trong việc điều tiết và lưu thông hàng hóa.
Thông qua nó các doanh nghiệp có thể nhận biết được sự phân phối các nguồn lực
thông qua hệ thống giá cả trên thị trường.
Trên thị trường luôn luôn tồn tại các quy luật vận động của hàng hóa, giá cả,
tiền tệ… như các quy luật thặng dư, quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh… Các quy
luật này tạo thành một hệ thống thống nhất và hệ thống này chính là linh hồn là cha
đẻ của cơ chế thị trường. Như vậy, cơ chế thị trưởng được hình thành bởi sự tác
động tổng hợp của các quy luật trong sản xuất, trong lưu thông trên thị trường.
Thông qua các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường cơ chế thị đường
tác động đến việc điều tiết sản xuất, tiêu dùng, đầu tư và làm thay đổi cơ cấu sản
phẩm, cơ cấu ngành… Nói cách khác cơ chế thị trường điều tiết quá trình phân
phối, phân phối lại các nguồn trong sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu xã
hội một cách tối ưu nats.
Tóm lại, sự vận động đa dạng, phức tạp của cơ chế thị trường dẫn đến sự
biểu hiện gần đùng nhu cầu thị trường của xã hội. Song các doanh nghiệp không
được đánh giá quá cao hoặc tuyệt đối hóa vai trò của thị trường, coi cơ chế thị
trường là hoàn hảo. Bởi lẽ thị trường luôn chứa đựng những khuyết tật của nó như:
Đầu cơ, lừa lọc, độc quyền… Do vậy mỗi doanh nghiệp phải xác định được cho
mình một phương thức hoạt động riêng phù hợp với doanh nghiệp. Cụ thể là:
Doanh nghiệp phải xác định cho mình một cơ chế hoạt động trên hai thị
trường đầu vào và đầu ra để đạt một kết quả cao nhất và kết quả này không ngừng
phát triển nâng cao hiệu quả về mặt chất cũng như về mặt lượng. Như vậy, trong cơ
chế của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh có vai trò đối với doanh nghiệp.
- Thứ nhất: Nâng cao hiệu quả kinh tế trong kinh doanh là mục tiêu phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần VII nếu rõ: "Một thành tựu khác về đổi
mới kinh tế là bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ

phải đảm bảo có tích lũy đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng và một lẫn nữa nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh được nhấn mạnh.
- Thứ ba: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là nhân tố thúc đẩy cạnh
tranh và sự tiến bộ trong kinh doanh.
Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh. Trong khi thị trường
ngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng khốc liệt hơn.
Sự cạnh tranh lúc này không phải là các mặt hàng mà cạnh tranh cả chất lượng, giá
cả… Trong khi mục tiêu chung của các doanh nghiệp đều là phát triển thì cạnh tranh
là yếu tố làm cho doanh nghiệp mạnh lên nhưng cũng có thể bóp chết doanh nghiệp
trên thị trường. Do vậy, để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp đều phải chiến
thắng trong cạnh tranh trên thị trường. Để được điều này thì các doanh nghiệp phải
có hàng hóa, dịch vụ có chất lượng tốt, giá cả hợp lý.
Mặt khác hiệu quả sản xuất kinh doanh là đồng nghĩa với việc giảm giá
thành, tăng khối lượng hàng hóa bán, chất lượng không ngừng được hoàn thiện nâng
cao… Như vậy nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là hiệu quả, chính là
hạt nhân cơ bản của thắng lợi trong cạnh tranh. Và các dạng cạnh tranh nhau tức là
không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Chính sự nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh là con đường của doanh nghiệp nâng cao sức cạnh
tranh của mình.
II. HỆ THỐNG CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ PHƯƠNG
PHÁP TÍNH TOÁN CÁC CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT
KINH DOANH Ở CÁC DOANH NGHIỆP.
1. Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Từ công thức định nghĩa về hiệu quả kinh tế, chúng ta thấy khi thiết lập mối
quan hệ tỷ lệ giữa đầu ra và đầu vào có thể cho một dãy giá trị khác nhau. Vấn đề
được đặt ra là trong một dãy các giá trị có thể đạt được thì giá trị nào phản ánh tính
có hiệu quả (nằm trong miền có hiệu quả), các giá trị nào sẽ phản ánh tính hiệu quả
cao cũng như những giá trị nào nằm trong miền không đạt hiệu quả (phi hiệu quả).
Chúng ta có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả sản xuất kinh doanh là thước đo, là giới
hạn, là căn cứ, là một cái mốc xác định ranh giới có hiệu quả hay không có hiệu quả

ứng được các yêu cầu cơ bản sau:
- Thứ nhât: Trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá phải có các chỉ tiêu đánh
giá tổng hợp, phản ánh chung tình hình sản xuất kinh doanh, các chỉ tiêu bộ phận
phản ánh hiệu quả kinh doanh từng mặt, từng khâu như: Lao động, vốn… Các chỉ
tiêu bộ phận là cơ sở cho việc tìm ra mặt mạnh, mặt yếu trong quá trình sử dụng
từng yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
- Thứ hai: Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá phải bảo đảm tính hệ thống và
toàn diện, tức là chỉ tiêu hiệu quả phải phán ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh kinh
doanh của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Thứ ba: Hệ thống các chỉ tiêu phán ảnh tình hình trên cơ sở những nguyên
tắc chung của hiệu quả, nghĩa là phản ánh được trình độ sử dụng lao động sống và
lao đọng vạt hóa thông qua việc so sánh giữa kết quả và chi phí. Trong đó có các chỉ
tiêu kết quả và chi phí phải có khả năng đo lường được thì mới có thể so sánh, tính
toán được theo phương pháp tính toán cụ thể, thống nhất, các chỉ tiêu phải có phạm
vi áp dụng nhất định phục vụ từng mục đích nhất định của công tác đánh giá.
- Thứ tư: Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo phản ánh được tính đặc thù
của từng ngành kinh doanh khác nhau.
2.1. Chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp.
Chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp phản ánh khái quát và cho
phép kết luận về hiệu quả kinh tế của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, phản
ánh trình độ lợi dụng tất cả các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh
trong một thời kỳ nhất định (tư liệu sản xuất, nguyên nhiên vật liệu, lao động… và
bao hàm cả tác dụng của yếu tố quản trị đến sử dụng có hiệu quả các yếu tố trên).
2.1.1. Các chỉ tiêu doanh lợi.
Xét trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn quản trị kinh doanh các nhà
kinh tế cũng như các nhà quản trị hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp đều
quan tâm trước hết đến việc tính toán, đánh giá chỉ tiêu chung phản ánh doanh lợi
của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu doanh lợi được tính cho toàn bộ vốn kinh doanh của
doanh nghiệp và tính riêng cho vốn tự có của doanh nghiệp. Những chỉ tiêu này
phản ánh mức sinh lời của vốn kinh doanh, vốn tự có, khẳng định mức độ đạt hiệu

(%) =
TC
R
V
)100.(Π
(4)
D
VTC
: Doanh lợi vốn tự có của một thời kỳ nhất định
V
TC
: Tổng vốn tự có
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn tự có tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Ngoài ra, cũng thuộc chỉ tiêu doanh lợi còn có thể sử dụng chỉ tiêu doanh lợi
của doanh thu bán hàng, chỉ tiêu được xác định.
D
TR
(%) =
TR
x
R
100Π
(5)
D
TR
: Doanh lợi của doanh thu trong một thời kỳ nhất định
TR: Doanh thu trong thời kỳ đó
Chỉ tiêu này cho biết số lợi nhuận đạt được từ một đồng doanh thu.
2.1.2. Các chỉ tiêu tính hiệu quả kính tế.
Do có nhiều quan điểm khác nhau về công thức định nghĩa hiệu quả kinh tế

: Chi phí kinh doanh phải đạt
Ở công thức (7), chi phí kinh doanh thực tế được xác định trong kế toán quản
trị. Chi phí kinh doanh phải đạt là chi phí kinh doanh bỏ ra trong điều kiện thuận lợi
nhất.
Công thức này được sử dụng nhiều trong phân tích, đánh giá tính hiệu quả
của toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và từng bộ phận kinh
doanh riêng rẽ nói riêng.
2.2. Chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh bộ phận.
Chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh bộ phận thường được dùng để phân
tích hiệu quả kinh tế của từng mặt hoạt động, từng yếu tố sản xuất cụ thể nhằm tìm
biện pháp tối đa chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp. Đây là chức năng
chủ yếu của hệ thống chỉ tiêu này.
Ngoài ra chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh bộ phận còn dùng để phân
tích bổ sung cho chỉ tiêu tổng hợp để kiểm tra và khẳng định rõ hơn kết luận được
rút ra từ các chỉ tiêu tổng hợp.
Do các chỉ tiêu bộ phận phán ảnh hiệu quả kinh tế của từng mặt hoạt động
(bộ phận) nên thường được xây dựng trong thống kê, phân tích cụ thể, chính xác
mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, từng mặt hoạt động, từng bộ phận công tác đến
hiệu quả kinh tế tổng hợp.
2.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn.
Thực ra muốn có các yếu tố đầu vào doanh nghiệp cần có vốn kinh doanh,
nếu thiếu vốn mọi hoạt động của doanh nghiệp hoặc đình trệ hoặc kém hiệu quả. Do
đó các nhà kinh tế cho rằng chỉ tiêu sử dụng vốn là một chỉ tiêu hiệu quả sản xuất
kinh doanh tổng hợp. Chỉ tiêu này được xác định thông qua công thức (2) và (3). Ở
đây có thể đưa ra một số công thức được coi là đánh giá hiệu quả sử dụng tổng vốn
và từng bộ phận vốn của doanh nghiệp.
• Số vòng quay toàn bộ vốn (SV
v
)
SV

pháp ngược lại, tức là lấy nghịch đảo công thức trên gọi là suất hao phí tài sản cố
định.
Suất hao phí TSCĐ =
R
G
TSCD
Π
(10)
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng lợi nhuận, doanh nghiệp cần phải sử
dụng bao nhiêu đồng vốn cố định.
Nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn cố định có thể thấy các nguyên nhân của
việc sử dụng vốn cố định không có hiệu quả thường là đầu tư tài sản cố định quá
mức cần thiết, tài sản cố định không sử dụng chiếm tỷ trọng lớn, sử dụng tài sản cố
định với công suất thấp hơn mức cho phép.
• Hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
H
VLĐ
=
LD
R
V
Π
(11)
H
VLĐ
: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
V

: Vốn lưu động bình quân trong năm
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn được phản ánh gián tiếp qua số vòng

sẽ bằng tích của tỷ số lợi nhuận trong tổng giá trị kinh doanh nhân với số vòng luân
chuyển vốn lưu động.
H
VLĐ
=
TR
V
TR
x
TR
R
Ld
R
Π
=
Π
x SV
VLĐ
(14)
Như vậy, nếu cố định chỉ tiêu doanh lợi doanh thu bán hàng thì hiệu quả sử
dụng vốn lưu động tỷ lệ thuận với số vòng quay vốn lưu động. Số vòng quay vốn
lưu động cao sẽ có thể đưa đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao.
Trong các công thức trên vốn lưu động bình quân là số trung bình của giá
vốn lưu động ở thời điểm đầu kỳ và thời điểm cuối kỳ.
Các chỉ tiêu phán ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động được đặc biệt chú trọng
trong các doanh nghiệp thương mại. Vì ở các doanh nghiệp này vốn lưu động chiếm
tỷ trọng lớn trong toàn bộ vốn của doanh nghiệp.
• Hiệu quả vốn góp trong Công ty cổ phần được xác định bởi tỷ suất lợi
nhuận của vốn cổ phần (D
VCT

: Sản lượng tính bằng đơn vị hiện vật hoặc giá trị
AL: Số lượng lao động bình quân trong năm
Năng suất lao động tính theo năm chịu ảnh hưởng rất lớn của việc sử dụng
thời gian lao động trong năm (Số ngày bình quân làm việc trong năm, số giờ bình
quân làm việc mỗi ngày của lao động trong doanh nghiệp) và năng suất lao động
bình quân mỗi giờ.
Năng suất lao động theo giờ (AP
G
được xác định từ chỉ tiêu năng suất lao
động năm).
AP
G
=
GCN
AP
N
**
(16)
N: Số ngày làm việc bình quân trong năm
C: Số ca làm việc trong ngày
G: Số giờ làm việc bình quân mỗi ca lao động
AP
G
: Năng suất lao động bình quân mỗi giờ làm việc của một lao động.
Chỉ tiêu này còn có thể được xác định bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn
xác định trực tiếp từ sản lượng tạo ra trong một ca lao động hoặc một ngày làm việc.
Về bản chất chỉ tiêu năng suất lao động được xác định phù hợp với công thức
khái niệm sản xuất kinh doanh và do đó biểu hiện tính hiệu quả trong việc sử dụng
lực lượng lao động trong doanh nghiệp.
• Chỉ tiêu mức sinh lời bình quân của lao động.

đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hiệu suất tiền lương tăng lên khi năng suất lao
động tăng với nhịp độ cao hơn nhịp độ tăng tiền lương.
TR
BQ
=
L
TR
(19)
Chỉ tiêu này phản ánh một lao động có thể tạo ra được bao nhiêu đồng doanh
thu trong kỳ.
+ Chỉ tiêu tỷ lệ lao động gián tiếp L
GT
L
GT
=
AL
AL
GT
(20)
Chỉ tiêu này cho biết mức doanh thu của một lao động
AL
GT
: Số lao động gián tiếp bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu tỷ lệ lao động gián tiếp thể hiện trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có trình độ quản lý tiên tiến thì tỷ lệ lao động gián tiếp < 10%.
2.2.3. Hiệu suất sử dụng nguyên vật liệu.
Vòng luân chuyển
nguyên vật liệu (SV
NVL
)

: Tổng giá thành hàng hóa đã chế biến
VT
ĐT
: Giá trị vật tư dự trữ đưa vào chế biến
Hai chỉ tiêu trên cho biết khả năng khai thác các nguồn nguyên liệu, vật tư
của doanh nghiệp đánh giá chu kỳ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hai chỉ
tiêu trên mà cao thì cho biết doanh nghiệp giảm được chi phí nguyên vật liệu dự trữ,
rút ngắn chu kỳ về chuyển đổi nguyên vật liệu thành thành phẩm, giảm bở ứ đọng
của nguyên vật liệu tồn kho và tăng vòng quay vốn lưu động. Tuy nhiên nếu quá
thấp là doanh nghiệp có thể thiếu nguyên vật liệu dự trữ, cạn kho, không đáp ứng
đầy đủ nhu cầu sản xuất.
Ngoài ra, người ta còn đánh giá mức thiệt hại, mất mát nguyên vật liệu trong
quá trình dự trữ, sử dụng chúng. Chỉ tiêu này được tính như sau:
Tỷ lệ hao hụt
nguyên vật
liệu
=
Giá trị nguyên vật liệu hao hụt, mất
mát
Tổng giá trị nguyên vật liệu sử dụng
trong kỳ
(22)
Chỉ tiêu này được so sánh với các định mức kinh tế, kỹ thuật hiện hành hoặc
đối chiếu với mức hao hụt kỳ trước để đưa ra quyết định thích hợp nhằm sử dụng
vật tư tiết kiệm, đúng định mức, phù hợp với thực tế sản xuất và có hiệu quả.
Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu thường được sử dụng trong các
doanh nghiệp sản xuất vật chất, đặc biệt là các doanh nghiệp cơ khí vì ở đó tỷ trọng
chi phí nguyên vật liệu trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là
rất lớn (từ 65 - 75%). Vì vậy việc sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguyên vật liệu có
vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh

kim loại, dụng cụ phụ tùng cơ khí, dụng cụ đo lường, dụng cụ cầm tay, thiết bị công
nghiệp, tiến hành các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác theo pháp luật.
Tiền thân của Công ty là một phân xưởng dụng cụ của Công ty cơ khí Hà
Nội. Công ty được thành lập ngày 25 tháng 3 năm 1968 theo quyết định số
74/QĐ/KB2 do Bộ trưởng Bộ công nghiệp nặng (nay là Bộ công nghiệp) ký. Lúc
này, Công ty mang tên Nhà máy dụng cụ cắt gọt, có trụ sở chính tại 108 Đường
Nguyễn Trãi, Đống Đa, Hà Nội (nay là quận Thanh Xuân).
Cho đến nay, trải qua hơn 30 năm phát triển để phù hợp với điều kiện, tình
hình sản xuất kinh doanh của từng thời kỳ Công ty đã có 3 lần đổi tên.
Nhà máy dụng cụ cắt gọt: 1968 - 1970
Nhà máy dụng cụ số 1: 1970 - 1995
Công ty Dụng cụ cắt và đo lường cơ khí: 1995 đến nay

Trích đoạn Các tổ, nhóm sản xuất và nghiệp vụ, phục vụ Kho cơ điện Trạm biến thế Đặc điểm về thị trường. Đặc điểm về lao động. Chỉ tiêu doanh thu của Công ty.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status