đánh giá về quan điểm cho rằng chủ thể của luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và các tổ chức phi chính phủ - Pdf 11

Tiểu luận: Đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và
các tổ chức phi chính phủ

1
Tiểu luận

Đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của
luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và các tổ
chức phi chính phủ

Tiểu luận: Đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và
các tổ chức phi chính phủ

2

LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ 7
1.1. Khái niệm 7
1.2. Đặc điểm 8

2.2.3.2. Vai trò của tổ chức phi chính phủ trong quan hệ quốc tế 25
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CÁC QUAN ĐIỂM VỀ CHỦ THỂ CỦA LUẬT
QUỐC TẾ 27
3.1. Ưu và nhược điểm của quan điểm truyền thống 27
3.1.1. Ưu điểm 27
3.1.2. Nhược điểm 28
3.2. Ưu và nhược điểm của quan điểm hiện đại 29
3.2.1. Ưu điểm 29
3.2.1.1. Cá nhân Error! Bookmark not defined.
3.2.1.2. Pháp nhân và các Tổ chức phi chính phủ Error! Bookmark not defined.
3.2.2. Nhược điểm 29
3.2.2.1. Cá nhân Error! Bookmark not defined.
3.2.2.2. Pháp nhân và các tổ chức phi chính phủ Error! Bookmark not defined.
3.3. Đánh giá quan điểm cá nhân, pháp nhân là chủ thể của luật quốc tế…… 31
3.3.1. Về đối tượng điều chỉnh của Luật Quốc tế 33
Tiểu luận: Đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và
các tổ chức phi chính phủ

4

3.3.2. Về phương pháp điều chỉnh 34
3.3.3. Về biện pháp chế tài 34
3.3.4. Về chủ thể 34
3.3.5. Nguồn luật điều chỉnh 35
3.3.6. Quan điểm về chủ thể của luật quốc tế ở Việt Nam 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO. 38


Việc nghiên cứu sẽ giúp chúng ta nắm được những vấn đề cơ bản về chủ thể
của luật Quốc Tế đồng thời giúp mọi người tìm ra được sự khác biệt giữa chủ thể của
luật Quốc tế với các ngành Luật khác. Giúp người đọc có cái nhìn rộng hơn về chủ
Tiểu luận: Đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và
các tổ chức phi chính phủ

6

thể của Luật Quốc tế, tiếp xúc với nhiều quan điểm, ý kiến mới để từ đó có cái nhìn
bao quát hơn. Việc nên hay không nên công nhận thêm các chủ thể khác vào Luật
Quốc tế hiện nay là chuyện rất dài và tốn nhiều thời gian.
Đề tài này mong muốn giúp đọc giả có được nhiều cách nhìn nhận hơn về chủ
thể của Luật Quốc Tế. Nếu có sự thay đổi đáng kể về chủ thể của luật có thể sẽ có
nhiều vấn đề được giải quyết hiệu quả hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Nhóm thực hiện đề tài
Nhóm 6 lớp K09504

Tiểu luận: Đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và
các tổ chức phi chính phủ

7

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỦ THỂ CỦA LUẬT
QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm
Dưới góc độ lý luận khoa học pháp lý, để xác định được đối tượng của Luật Quốc tế
cần phải dựa vào các dấu hiệu cơ bản sau:
 Có sự tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế do Luật Quốc tế điều chỉnh.
 Có ý chí độc lập (không phụ thuộc vào chủ thể khác) trong sinh hoạt quốc tế.

điểm cơ bản và đặc trưng sau:
 Là thực thể đang tham gia hoặc có khả năng tham gia quan hệ pháp Luật Quốc
tế.
 Độc lập về ý chí, không chịu sự tác động của các chủ thể khác.
 Được hưởng quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế.
 Có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà
chủ thể đó gây ra.
 Không có một chủ thể nào có quyền tài phán chủ thể của Luật Quốc tế.
1.3. Quyền năng chủ thể
Quyền năng chủ thể Luật Quốc tế là thuộc tính cơ bản, là khả năng pháp lý đặc
biệt của những chủ thể được hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý
trong quan hệ pháp Luật Quốc tế. Quyền năng chủ thể bao gồm hai phương diện và chỉ
khi có đầy đủ hai phương diện này thì mới được coi là chủ thể của Luật Quốc tế.
Năng lực pháp luật quốc tế: là khả năng chủ thể của Luật Quốc tế được mang
những quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế, khả năng này được ghi nhận trong các quy
phạm pháp luật Quốc tế.
Năng lực hành vi quốc tế: là khả năng chủ thể được thừa nhận trong Luật Quốc tế
bằng những hành vi pháp lý độc lập của mình tự tạo ra cho bản thân quyền năng chủ
thể và có khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế do các hành vi của mình gây
ra.
Tiểu luận: Đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và
các tổ chức phi chính phủ

9

1.4. Phân loại
Hiện nay, trong quan hệ pháp Luật Quốc tế hiện đại thì chủ thể của Luật Quốc tế bao
gồm:
 Quốc gia, đây là chủ thể cơ bản và chủ yếu của Luật Quốc tế.
 Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, đây là chủ thể tiềm tàng của Luật

lý quốc tế chưa có một định nghĩa thống nhất được chấp nhận chung về thuật ngữ
"quốc gia". Tuy nhiên, tại điều 1 Tuyên bố Montevideo về quyền và nghĩa vụ của các
quốc gia được thông qua tại Hội nghị quốc tế các nước châu Mỹ ngày 27/12/1933 có
đưa ra một vài yếu tố chính dẫn đến sự hình thành quốc gia, đó là:
Thứ nhất, có lãnh thổ xác định: đây là dấu hiệu cơ bản nhất hình thành quốc gia.
Không tồn tại lãnh thổ thì không thể có quốc gia. Lãnh thổ quốc gia được xác định là
một phần của trái đất và được coi là cơ sở vật chất cho sự tồn tại và phát triển của quốc
gia. Lãnh thổ quốc gia là ranh giới để xác định chủ quyền quốc gia đối với dân cư của
mình. Vấn đề kích thước lãnh thổ rộng hay hẹp, địa hình thuận lợi hay bất lợi đều
không có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại hay mất đi của danh nghĩa quốc gia.
Tiểu luận: Đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và
các tổ chức phi chính phủ

11

Thứ hai, có cộng đồng dân cư ổn định: Theo nghĩa rộng, dân cư của một quốc gia là
tất cả những người sinh sống trên lãnh thổ một quốc gia nhất định và tuân theo pháp
luật của nhà nước đó. Theo nghĩa hẹp, dân cư dùng để chỉ tất cả những người có quốc
tịch của quốc gia đó. Mối quan hệ pháp lý ràng buộc giữa nhà nước với cộng đồng dân
cư của quốc gia chủ yếu thông qua chế định quốc tịch.
Thứ ba, có chính phủ với tư cách là người đại diện cho quốc gia trong quan hệ quốc
tế. Chính phủ này phải là chính phủ thực thi một cách có hiệu quả quyền lực nhà nước
trên phần lớn hoặc toàn bộ lãnh thổ quốc gia một cách độc lập, không bị chi phối,
khống chế bởi quốc gia khác.
Thứ tư, có khả năng độc lập tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế: "khả
năng" này có được xuất phát từ chủ quyền quốc gia khi thực hiện chức năng đối ngoại
của mình
2.1.1.2. Quyền năng chủ thể luật quốc tế của Quốc gia
Quyền năng chủ thể LQT của quốc gia là tổng thể những quyền và nghĩa vụ mà
quốc gia có được khi tham gia vào quan hệ pháp lý quốc tế. Quốc gia là chủ thể duy

2.1.2. Dân tộc đấu tranh giành quyền tự quyết
2.1.2.1. Khái niệm
Từ “ dân tộc” ở đây được hiểu là bộ phận dân tộc đại diện cho một quốc gia chứ
không phải dân tộc là chủng tộc hay một sắc tộc đơn lẻ. Dân tộc đang đấu tranh giành
quyền dân tộc tự quyết là dân tộc mới có chủ quyền dân tộc chứ chưa có chủ quyền
quốc gia. Khi tham gia quan hệ quốc tế và thực hiện các chức năng chính trị của mình,
các dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết được luật quốc tế hiện đại
thừa nhận là những chủ thể đang trong giai đoạn quá độ để tiến lên thành lập một quốc
gia dân tộc độc lập, có chủ quyền. Nói cách khác, các dân tộc đang đấu tranh giành độc
lập là chủ thể quá độ lên chủ thể cơ bản của luật quốc tế hiện đại. Tuy nhiên, với tính
chất chủ thể như vậy, nên các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập và các quốc gia đều
Tiểu luận: Đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và
các tổ chức phi chính phủ

13

là những chủ thể chủ yếu của luật quốc tế hiện đại và là những chủ thể bình đẳng với
nhau về mặt pháp lý.
Các điều kiện để dân tộc được coi là chủ thể của Luật Quốc tế:
Dân tộc đó phải đang bị quốc gia, dân tộc khác áp bức, bóc lột. Nghĩa là trên thực
tế dân tộc đó đang bị một dân tộc hay quốc gia khác đô hộ, chi phối, áp đặt mọi mặt về
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… của dân tộc mình. Đời sống chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội của dân tộc này hoàn toàn bị lệ thuộc vào dân tộc, quốc gia đang nắm
quyền cai trị, bóc lột họ. Dân tộc bị bóc lột không có quyền và không thể thực hiện
được ý chí của mình một cách độc lập với các dân tộc hay quốc gia đô hộ mình. Ví dụ:
dân tộc Việt Nam bị cai trị bởi quốc gia Pháp.
Trên thực tế đang tồn tại một cuộc đấu tranh với mục đích giải phóng dân tộc,
giành quyền tự quyết và thành lập một quốc gia độc lập
Đã thành lập được cơ quan lãnh đạo phong trào, đại diện cho dân tộc đó trên
trường quốc tế. Nghĩa là cuộc đấu tranh của dân tộc phải có tổ chức chặt chẽ, thống

tế cơ bản, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết cũng có
những nghĩa vụ quốc tế cơ bản. Đó là nghĩa vụ tôn trọng các nguyên tắc cơ bản
của luật quốc tế, tôn trọng các quyền của các dân tộc khác, của các chủ thể khác
của luật quốc tế hiện đại
2.1.3. Tổ chức quốc tế liên chính phủ
2.1.3.1. Khái niệm
Trong thời đại ngày nay, tổ chức quốc tế giữ vai trò rất quan trọng trong việc hợp tác
quốc tế, giải quyết các vấn đề quốc tế quan trọng, duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.
Tổ chức quốc tế là chủ thể của luật quốc tế được hiểu là tổ chức quốc tế liên chính phủ-
là tổ chức do các quốc gia thành lập lên trên cơ sở một điều ước quốc tế nhằm thực
hiện các quyền năng nhất định theo tôn chỉ, mục đích thành lập tổ chức đó, phù hợp
với pháp luật quốc tế hiện đại.
Tiểu luận: Đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và
các tổ chức phi chính phủ

15

Như vậy, khác với quốc gia, tổ chức quốc tế liên chính phủ có được quyền năng chủ
thể luật quốc tế không phải căn cứ vào thuộc tính tự nhiên vốn có là chủ quyền, mà do
sự thỏa thuận của các quốc gia thành viên. Phạm vi quyền năng chủ thể của các tổ chức
quốc tế liên quốc gia được xác định cụ thể trong điều lệ của chính tổ chức đó. Do đó,
số lượng các quyền và nghĩa vụ của các tổ chức quốc tế khác nhau sẽ khác nhau Điểm
khác biệt này thể hiện ở chỗ: Quốc gia có thể tham gia ký kết bất kỳ điều ước quốc tế
nào xuất phát từ lợi ích của chính mình. Còn tổ chức quốc tế không tự xác định được
phạm vi quyền và nghĩa vụ cho mình khi tham gia quan hệ pháp lý quốc tế, mà tham
gia trong phạm vi được các thành viên trao quyền. Do đó, tổ chức quốc tế là chủ thể
phái sinh, chủ thể có quyền năng hạn chế (không đầy đủ) của luật quốc tế.
Ví dụ: WTO không được tham gia ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề
an ninh, quốc phòng theo thỏa thuận của các thành viên, WTO chỉ tham gia các điều
ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực thương mại hành hoá, thương mại dịch vụ, sở hữu

kết với các quốc gia hoặc các tổ chức quốc tế khác.
Ngoài các quyền cơ bản nêu trên, tổ chức quốc tế liên chính phủ có nghĩa vụ tôn
trọng các nguyên tắc của luật quốc tế, tôn trọng các quyền của tổ chức quốc tế và các
chủ thể khác của luật quốc tế; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của một chủ thể luật quốc
tế.
2.1.4. Chủ thể đặc biệt
Ngoài các loại chủ thể trên thì Luật Quốc tế còn có 1 loại chủ thể đạc biệt khác, đó là
các thực thể có quy chế pháp lý – chính trị đặc biệt khác (các vùng lãnh thổ) như
Vatican, Đài Loan, Ma Cao, Hồng Kông.
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm cho rằng Vatican là quốc gia nhỏ nhất thế giới. Tuy
nhiên, trên thực tế Vatican không phải là một quốc gia độc lập theo đúng nghĩa. Nhìn
dưới góc độ các yếu tố cấu thành ta thấy: Tòa thánh Vatican có lãnh thổ xác dịnh với
diện tích rất nhỏ khoảng 0,4km
2
và nằm trọn trong lãnh thổ của Italia, có dân cư sinh
Tiểu luận: Đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và
các tổ chức phi chính phủ

17

sống khoảng 1000 người, có bộ máy điều hành, có khả năng tham gia một cách độc lập
vào các quan hệ pháp luật quốc tế nhất định (Tòa thánh Vatican đã tham gia một số
công ước quốc tế như: Công ước Viên 1961 về thiết lập quan hệ ngoại giao, tòa thánh
còn tham gia với tư cách quan sát viên của một số tổ chức quốc tế như Liên hợp
quốc ). Nhìn vào hình thức bên ngoài, Tòa thánh giống như một quốc gia tồn tại độc
lập, nhưng nếu xem xét sâu xa các yếu tố này, Vatican lại không phải một quốc gia, vì:
 Về lãnh thổ mà Vatican đặt trụ sở thực chất thuộc về Italia, Vatican có được
lãnh thổ này là do một điều ước quốc tế được ký kết giữa Italia và Vatican.
 Về dân cư, thực chất những người dân sống tại Vatican đều là công dân của rất
nhiều quốc gia khác nhau: Thụy Sỹ, Italia họ chỉ được coi là dân cư của

vấn đề này. Một mặt ông cho rằng theo điều luật chung cá nhân không thể là chủ thể
của luật quốc tế được, nhưng trong một số lĩnh vực nhất định cá nhân được xem xét
như chủ thể của luật quốc tế; mặt khác theo ý kiến của Brownlee thì “thật là vô ích nếu
như xếp cá nhân vào “hàng ngũ” những chủ thể của luật quốc tế, bởi vì làm như vậy là
vô hình chung công nhận một số quyền của cá nhân mà trên thực tế không có, phủ
nhận tính tất yếu của sự khác biệt giữa cá nhân và các chủ thể khác trong luật quốc
tế”.
L.Oppenhame từ năm 1947 đã để ý rằng: “Mặc dù chủ thể chính của luật quốc tế là
quốc gia nhưng nhà nước có thể xem cá nhân như một chủ thể của các quyền và nghĩa
vụ quốc tế và trong khuôn khổ đó công nhận cá nhân là một chủ thể của luật quốc tế”.
Tiếp đó ông đã làm rõ ý kiến của mình bằng ví dụ: Những cá nhân làm nghề cướp biển
trước hết chịu trách nhiệm pháp lý theo những qui tắc của luật quốc tế, chứ không phải
nội luật của nhiều quốc gia khác nhau.
Quan điểm mới cho rằng cá nhân có thể là chủ thể của Luật Quốc tế vì các nguyên
nhân sau:
Tiểu luận: Đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và
các tổ chức phi chính phủ

19

2.2.1.1. Trách nhiệm pháp lý
Điều lệ của Toà án binh quốc tế 1945 khẳng định cá nhân là chủ thể của trách nhiệm
pháp lý quốc tế. Theo Điều 6 thì kẻ lãnh đạo, chủ mưu, tòng phạm, tham gia vào việc
soạn thảo hay trực tiếp thực hiện kế hoạch, âm mưu chống hoà bình, chống loại người,
tội phạm chiến tranh phải chịu trách nhiệm về những hành động đó. Các công chức cao
cấp thậm chí là người đứng đầu các nhà nước cũng không thể được miễn truy tố trách
nhiệm pháp lý hay được giảm nhẹ mức độ hình phạt (Điều 8). Kẻ bị xét xử nếu hành
động theo lệnh của cấp trên hay của Chính phủ cũng không được miễn trách nhiệm
pháp lý.
Theo Công ước quốc tế 1968 về việc không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm

quốc tế
Theo Công ước về vị thế của người tị nạn 1951, vị thế pháp lý của người dân bị nạn
được xác định bởi pháp luật của nước mà họ đang sống. Công ước quy định cho người
tị nạn có những quyền như quyền lao động theo hợp đồng, quyền lựa chọn nghề
nghiệp, quyền tự do di chuyển…
Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của các kiều dân và thành viên trong gia đình họ
1990 tuyên bố: Mỗi kiều dân lao động và thành viên trong gia đình có quyền được
công nhận là chủ thể pháp lý, trước hết là những chủ thể pháp lý quốc tế. Theo Điều 35
của Công ước thì Nhà nước không được cản trở sự di dân quốc tế của nhân dân lao
động và các thành viên trong gia đình họ. Luật quốc tế cũng được xác định vị thế pháp
lý quốc tế của người phụ nữ có chồng, của trẻ em và nhiều nhóm cá nhân khác.
Qua những chứng cứ và ví dụ trên đây chúng ta có thể tạm cho rằng Nhà nước trong
một số lĩnh vực (mặc dù không nhiều lắm) đã tạo cho cá nhân một số đặc thù của tính
chủ thể pháp lý quốc tế. Phạm vi của tính chủ thể pháp lý đó ngày càng được mở rộng
hơn bởi vì mỗi thời đại lịch sử lại sản sinh ra những chủ thể mới của luật quốc tế.
Tiểu luận: Đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và
các tổ chức phi chính phủ

21

2.2.2. pháp nhân - Công ty xuyên Quốc gia
2.2.2.1. Khái niệm
Công ty Xuyên quốc gia là một trong
những chủ thể phi quốc gia quan trọng nhất.
Đó là những tổ chức kinh doanh có quyền sở hữu hoặc hoạt động kinh doanh diễn ra
trên địa bàn nhiều quốc gia. Trong kinh tế, thường có sự phân biệt giữa Công ty Quốc
tế (International Corporation) với Công ty Đa quốc gia (Multunational Corporation)
và Công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation). Trong đó, Công ty Quốc tế
là công ty có sự quốc tế hoá thị trường, tức là hoạt động ở cả thị trường nội địa lẫn thị
trường nước ngoài. Công ty Đa quốc gia là công ty có sự quốc tế hóa nguồn vốn, tức là

kênh quan hệ, các Công ty xuyên quốc gia tham gia vào Quan
hệ quốc tế

không chỉ qua quan hệ giữa Công ty xuyên quốc gia với quốc gia khác, giữa Công
ty xuyên quốc gia với công ty khác mà còn trong nội bộ công ty qua quan hệ giữa trụ
sở với các chi nhánh của mình ở nước ngoài. Về hình thức quan hệ, đó là sự phân công
lao động quốc tế, đầu tư nước ngoài, thương mại xuyên quốc gia, giao dịch tài chính
quốc tế, chuyển giao công nghệ, thu hút lao động nước ngoài,… Về lĩnh vực tham gia,
hoạt động của Công ty xuyên quốc gia không chỉ diễn ra trong mọi ngành kinh tế lớn
mà còn đi sâu vào các lĩnh vực chuyên môn hẹp. Bên cạnh đó, sự tham gia của Công
ty xuyên quốc gia trong chính trị - lĩnh vực quan trọng trong Quan hệ quốc tế - là rất
đáng kể như đã trình bày trong phần trên. Ngoài ra, Công ty xuyên quốc gia còn hiện
diện khá lớn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong nhiều lĩnh vực khác nhau của
Quan hệ quốc tế như khoa học, văn hoá, xã hội,…. Không chỉ về bề rộng, mức độ tham
gia Quan hệ quốc tế của các Công ty xuyên quốc gia cũng rất sâu sắc, đặc biệt trong
kinh tế. Điều này tạo khả năng cho Công ty xuyên quốc gia tham gia sâu hơn nữa vào
đời sống kinh tế, chính trị và xã hội quốc tế.
Thứ hai, xét trên tiêu chí mục đích, tất cả các Công ty xuyên quốc gia đều có mục
đích lợi nhuận. Lợi nhuận chính là mục đích cơ bản, bao trùm và xuyên suốt của các
Công ty xuyên quốc gia và được phản ánh trong điều lệ, trong tổ chức và mọi hoạt
động kinh doanh. Không có mục đích lợi nhuận, không phải là Công ty xuyên quốc
gia. Trên phương diện Quan hệ quốc tế, mục đích này là động lực chính hướng hoạt
động của Công ty xuyên quốc gia ra bên ngoài nhằm khai thác hơn nữa lợi nhuận trên
Tiểu luận: Đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của luật quốc tế còn có cá nhân, pháp nhân và
các tổ chức phi chính phủ

23

thị trường quốc tế. Trước kia, mục đích lợi nhuận đã khiến Công ty xuyên quốc gia
góp phần đưa quan hệ bóc lột, sự nô dịch thực dân và sự can thiệp chính trị vào Quan


24

xuyên quốc gia tự quyết định thị trường, mặt hàng, đối tác, tổ chức, nhân lực, chính
sách và biện pháp kinh doanh của nó ở bất kỳ nước nào mà không chịu sự áp chế của
ai, miễn là phù hợp với luật pháp. Sự độc lập và tự chủ của Công ty xuyên quốc gia
còn được thể hiện qua khả năng tác động lên quốc gia và can thiệp vào một số khu vực
thuộc thẩm quyền quốc gia. Hiện nay, cho dù vẫn phải chịu sự điều chỉnh nhất định
của quốc gia, năng lực này của Công ty xuyên quốc gia vẫn đang được củng cố nhờ xu
hướng tự do hoá thương mại, sự chào đón của các quốc gia nhận đầu tư, sự phát triển
năng lực của bản thân các Công ty xuyên quốc gia và cả xu hướng tăng cường hợp tác
giữa chúng.
Thứ tư, xét trên tiêu chí ảnh hưởng trong Quan hệ quốc tế, Công ty xuyên quốc gia
có được vị trí khá lớn trong Quan hệ quốc tế không chỉ nhờ thực lực to lớn và khả năng
kiến tạo các quan hệ xuyên quốc gia. Ảnh hưởng này còn được quy định bởi nhu cầu
phát triển ngày càng tăng của mọi quốc gia trên thế giới. Nhu cầu phát triển này đã
đem lại vị thế quan trọng cho Công ty xuyên quốc gia trong chính sách đối ngoại của
các quốc gia. Hơn nữa, các Công ty xuyên quốc gia chủ yếu xuất phát từ các trung tâm
chính trị và kinh tế lớn của thế giới như Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản. Nhờ sự hậu
thuẫn của các thế lực này, ảnh hưởng kinh tế và tiếng nói chính trị của Công ty xuyên
quốc gia trong Quan hệ quốc tế được tăng lên đáng kể. Đáng chú ý, sau Chiến tranh
Lạnh, ảnh hưởng của Công ty xuyên quốc gia trong Quan hệ quốc tế có chiều hướng
tăng lên. Nếu sự nổi lên của yếu tố kinh tế
trong Quan hệ quốc tế đem lại vị thế
quốc tế cao hơn
cho Công ty xuyên quốc gia, thì xu thế thống nhất của thị trường thế
giới đem lại ảnh hưởng toàn cầu cho chúng. Trong khi đó, do khả năng chi phối chính
trị của kinh tế ngày một lớn nên khả năng tác động tới quốc gia và Quan hệ quốc tế của
Công ty xuyên quốc gia cũng rất đáng kể. Nhìn chung, Công ty xuyên quốc gia vẫn có
khả năng tác động lên quốc gia, kể cả chính quốc lẫn nước sở tại, buộc chúng thay đổi

nghị tư vấn với các tổ chức phi chính phủ. Còn với Liện Hiệp quốc, Theo Điều 71 Hiến
chương Liên Hiệp quốc, Hội đồng Kinh tế và Xã hội có thể ký kết các hiệp ước phù

Trích đoạn Ưu và nhược điểm của quan điểm hiện đại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status