Luận văn
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng
tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn tỉnh Hà Nam
MụC LụC
L i nói đ u ờ ầ 1
Ch ng 1: T ng quan v ch t l ng tín d ng c aươ ổ ề ấ ượ ụ ủ
ngân h ng th ng m ià ươ ạ 3
1.1. T ng quan v ngân h ng th ng m iổ ề à ươ ạ 3
1.1.1. Khái ni m v ngân h ng th ng m iệ ề à ươ ạ 3
1.1.2. Các nghi p v c a NHTMệ ụ ủ 4
1.1.2.1. T o l p v n (Nghi p v N )ạ ậ ố ệ ụ ợ 4
1.1.2.2. S d ng v n (Nghi p v có)ử ụ ố ệ ụ 5
1.1.2.3.Nghi p v trung gian.ệ ụ 7
1.2. Lý lu n chung v Tín d ng ngân h ngậ ề ụ à 8
1.2.1. Khái ni m, c i m tín d ng ngân h ngệ đặ đ ể ụ à 8
1.2.1.1. Khái ni mệ 8
1.2.1.2. c i m c a tín d ng ngân h ngĐặ đ ể ủ ụ à 8
1.2.2. Phân lo i tín d ng ngân h ngạ ụ à 9
1.2.2.1. Theo th i gianờ 9
1.2.2.2. Theo hình th c t i trứ à ợ 10
1.2.2.3.Theo t i s n m b oà ả đả ả 10
1.2.2.4. Theo m c an to nứ độ à 11
1.2.2.5. Phân lo i khácạ 12
1.2.3. Vai trò c a tín d ng ngân h ngủ ụ à 12
1.2.3.1. i v i khách h ngĐố ớ à 12
1.2.3.2. i v i ngân h ngĐố ớ à 12
1.2.3.3. i v i n n kinh tĐố ớ ề ế 13
1.3. Ch t l ng tín d ng ngân h ngấ ượ ụ à 15
1.3.1. Quan ni m v ch t l ng tín d ng ngân h ngệ ề ấ ượ ụ à 15
1.3.2. Các ch tiêu ánh giá ch t l ng tín d ngỉ đ ấ ượ ụ 15
NHNo&PTNT t nh H Namỉ à 52
3.3. Ki n nghế ị 58
3.3.1. i v i chính phĐố ớ ủ 60
3.3.2. i v i a ph ng t nh H Nam Đố ớ đị ươ ỉ à 60
3.3.3. Ki n ngh v i Ngân h ng nh n cế ị ớ à à ướ 61
3.3.4. Ki n ngh v i NHNo&PTNT Vi t Nam ế ị ớ ệ 61
3.3.5. Ki n ngh v i NHNo&PTNT t nh H Nam ế ị ớ ỉ à 62
K t lu nế ậ 63
Danh m c t i li u tham kh oụ à ệ ả 65
Danh mục các chữ viết tắt
NHTM: Ngân hàng thương mại.
NHNN: Ngân hàng Nhà nước.
NHNo&PTNT: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
CN: Chi nhánh
SXKD: Sản xuất kinh doanh
TCTD: Tổ chức tín dụng
TCKT: Tổ chức kinh tế
TPKT: Thành phần kinh tế
TK: Tiết kiệm
KT: Kế toán
KH Kế hoạch
NQH Nợ quá hạn
DN: Doanh nghiệp
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
D/S: Dân số
Lời nói đầu
1. Sự cần thiết:
Kinh doanh tiền tệ tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân
hàng thương mại, hoạt động kinh doanh chứa đựng nguy cơ rủi ro cao nhất.
Kinh doanh tín dụng cũng là hoạt động kinh doanh mang lại nguồn lợi nhuận
2
Chương 1: Tổng quan về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương
mại
1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại(NHTM) là một trong những tổ chức trung gian
tài chính có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế. Tổng tài sản có của NHTM
luôn có khối lượng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống ngân hàng. Mặt khác, khối
lượng séc hay tài khoản gửi không kỳ hạn mà nó có thể tạo ra chiếm một tỷ
trọng lớn trong tổng cung tiền tệ của cả nền kinh tế:
ở mỗi nước có một cách định nghĩ riêng về ngân hàng thương mại như:
ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung
cấp các dịch vụ tài chính
ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận
của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ
dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.
ở ấn Độ: Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho
vay hay tài trợ và đầu tư
ở Thổ Nhĩ Kỳ : NHTM là một hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm
mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ hối
phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác.
ở Việt Nam, theo sắc lệnh 018 CT/LDGCQL/SL này 20/10/1969 của
chính quyền Sài Gòn cũ cho rằng NHTM là một xí nghiệp công hay tư lập, kể cả
chi nhánh hay phân cục Ngân hàng ngoại quốc mà hoạt động thường xuyên là
thi hành cho chính mình nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu, tài chính, với tiền ký
thác của tư nhân hay của xí nghiệp hay cơ quan công quyền.
Còn theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23/5/1990 của Hội đồng Nhà nước
xác định: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt dộng chủ yếu và thường
xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số
3
2/ Tiền gửi không kỳ hạn
3/ Tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm
4/ Các khoản vay trên thị trường tiền tệ
5/ Các khoản vay các ngân hàng khác hay ngân hàng trung ương
Tài sản nợ của NHTM là nguồn vốn chủ yếu trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng. Nói theo ngôn ngữ thị trường thì tài sản nợ diễn tả những khoản
nợ mà ngân hàng mắc nợ thị trường, bao gồm những khoản mà nhân dân gửi
vào (ký thác) cho nó, hay nó đi vay các đối tượng trong nền kinh tế như ngân
hàng trung ương, các ngân hàng hay tổ chức tài chính khác, chính quyền, nước
ngoài, các doanh nghiệp, nhân dân…Đứng bên tài sản nợ, NHTM là người đi
vay, là con nợ, còn các đối tượng kia là người cho vay, là chủ nợ của NHTM.
Như vậy, thuật ngữ “Tài sản nợ” phản ánh rằng đó là tài sản của người khác mà
ngân hàng vay.
1.1.2.2. Sử dụng vốn (Nghiệp vụ có)
Những nghiệp vụ sử dụng vốn hình thành nên tài sản của ngân hàng mà
khi lên bảng tổng kết tài sản nó nằm bên phía tài sản có. Như vậy, tài sản chủ
yếu của ngân hàng là các tài sản tài chính hay còn gọi là các hình thức trái
quyền ( như cổ phiếu,trái phiếu và các khoản vay), thay vì tài sản thực như nhà
cửa, công cụ và nguyên vật liệu.
Huy động được nhàn rỗi, NHTM phải làm thế nào để hiệu quả hoá
những nguồn tài sản này. Hầu như tất cả các khoản mục bên tài sản nợ của ngân
hàng đều là vốn vay, nghĩa là ngân hàng phải trả lãi suất cho nó đến từng giờ.
Do đó, để khỏi bị thiệt hại, ngân hàng luôn luôn phải cho vay hoặc đầu tư ngay
số tài sản ấy vào những dịch vụ sinh lãi. Từ lãi thu được ngân hàng sẽ dùng nó
để trả lãi suất cho vốn đã vay thanh toán chi phí cho các hoạt động, phần còn lại
sẽ là lợi nhuận của ngân hàng. Nói cách khác, nghiệp vụ của ngân hàng là những
nghiệp vụ sử dụng những khoản vốn đã huy động(tập chung vào nghiệp vụ nợ)
nhằm mục đích sinh lợi.
5
Cho vay hay đầu tư để sinh lợi từ tiền đã huy động được sẽ là lẽ sống của
Có nhiều loại công cụ ngân hàng. ở đây chỉ đề cập một số thông dụng
như tài khoản ngân hàng ngân hàng và các công cụ thanh toán không dùng tiền
mặt.
Nghiệp vụ trung gian gồm rất nhiều loại dịch vụ khác nhau. ở đây chỉ
giới hạn vào các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt với một số nội dung
sau:
* Dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản này sang tài khoản khác cùng ở
một ngân hàng hay ở hai ngân hàng khác nhau thông qua các công cụ như Séc,
lệnh chi, thẻ chi trả…
* Dịch vụ thu hộ và chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi thanh
toán tại ngân hàng. Việc chi hộ ngân hàng chỉ tiến hành khi có lệnh của chủ tài
khoản.
* Dịch vụ chi lương cho các doanh nghiệp có nhu cầu. Đến tháng doanh
nghiệp chỉ cần gửi bảng lương cho các ngân hàng, sau đó ngân hàng sẽ ghi nợ
vào tài khoản doanh nghiệp đó và chi lương cho những người có tên trong danh
sách tiền lương.
* Dịch vụ chuyển tiền từ địa phương này sang địa phương khác.
* Dịch vụ khấu trừ tự động cũng là dịch vụ với khách hàng là cá nhân.
Theo đó nếu khách hàng cho phép, ngân hàng sẽ tự động ghi nợ tài khoản của
khách hàng để thanh toán các hoá đơn đòi tiền cho các đơn vị dịch vụ gửi đến
như: trả tiền điện, nước, thuê nhà ,điện thoại…đây là những khoản chi thường
xuyên trong tháng nếu không có dịch vụ này khách hàng sẽ tốn nhiều thời gian
và phiền toái.
7
1.2. Lý luận chung về Tín dụng ngân hàng
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm tín dụng ngân hàng
1.2.1.1. Khái niệm
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo (tin tưởng, tín
nhiệm) song trong thực tế cuộc sống thuật ngữ này có thể được hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau:
xảy ra và ngân hàng thường luôn dự tính được những biến động đó. Nó bao gồm
tín dụng chiết khấu, tín dụng thấu chi , tín dụng ứng trước và tín dụng bổ sung
vốn lưu động.
* Tín dụng trung hạn: Từ 1 năm đến 5 năm, loại tín dụng này chủ yếu
được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị,
công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô
nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Ngoài ra, tín dụng trung hạn còn là nguồn
hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp mới thành lập. Nó
bao gồm các hình thức chủ yếu sau: Tín dụng thực hiện theo dự án, tín dụng hợp
vốn, tín dụng cho thuê tài chính.
* Tín dụng dài hạn: Trên 5 năm, được sử dụng để cấp vốn cho đầu tư
xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở
hạ tầng (đường xá, cầu cống, bến cảng , sân bay…)., cải tiến và mở rộng với quy
mô lớn.
Loại tín dụng này thường có mức độ rủi ro lớn do khó lường trước được
những biến động có thể xảy ra
Việc xác định thời hạn trên cũng chỉ mang tính chất tương đối vì nhiều khoản
cho vay không xác định trước được chính xác thời hạn.
Phân chia tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng
vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tài sản.
9
1.2.2.2. Theo hình thức tài trợ
Theo hình thức này thì tín dụng được chia thành cho vay, bảo lãnh, cho
thuê tài chính, chiết khấu giấy tờ có giá
* Cho vay: Là việc ngân hàng giao cho KH sử dụng một khoản tiền để
sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc
hoàn trả cả gốc và lãi
* Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua
việc cho thuê máy móc thiết bị theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở
hữu
* Là nguồn thu nợ thứ 2, là điều kiện ràng buộc để người vay thực hiện
đúng cam kết
* Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài
sản mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng, hoặc khả năng trả nợ của người thứ 3
để trả nợ
* Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng
phải kí hợp đồng đảm bảo.
1.2.2.4. Theo mức độ an toàn
Tín dụng có độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp. Để phân loại theo
tiêu thức này, NH nghiên cứu các mức độ, các căn cứ để chia loại rủi ro.
Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại khoản mục
tín dụng, dự trù quỹ cho các khoản tín dụng rủi ro cao
Cụ thể:
• Tín dụng đủ tiêu chuẩn: các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
• Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu khách hàng
chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch chậm, gặp thiên tai, trì hoãn nộp báo
cáo tài chính
• Tín dụng dưới tiêu chuẩn
• Tín dụng nghi ngờ
11
• Tín dụng có khả năng mất vốn.
1.2.2.5. Phân loại khác
• Theo ngành nghề kinh tế (công, nông nghiệp )
• Theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định)
• Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng )
1.2.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng
1.2.3.1. Đối với khách hàng
Trong xã hội hiện nay thì có rất nhiều các thành phần kinh tế, chính các
thành phần kinh tế này là nhân tố quyết định cho sự phát triển của đất nước. Họ
có thể hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào nhưng tựu chung một điểm là đều
mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của tổ chức kinh tế, dân cư, để đầu tư cho quá
trình mở rộng sản xuất, tăng trưởng kinh tế, đáp ứng nhu cầu về vốn đầy đủ,
thúc đẩy sản xuất mở rộng tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững.
Trong quá trình hoạt động đó, ngân hàng thu được lợi tức cho vay để duy trì
phát triển hoạt động của chính bản thân mình. Tuy vậy, trong cơ chế thị trường
hiện nay, huy động và cho vay bao nhiêu, có đáp ứng được hay không đáp ứng
được yêu cầu của nền kinh tế, thu hồi vốn có đúng hạn hay không là vấn đề
được đặt lên hàng đầu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Do vậy, mỗi
ngân hàng phải có nghệ thuật trong kinh doanh, phải tìm mọi biện pháp hữu hiệu
nhằm thu hút tối đa tiềm tàng nguồn vốn với chi phí thấp nhất để kinh doanh. Có
thể nói, tín dụng ngân hàng góp phần quan trọng vào quá trình vận động liên tục
của nguồn vốn, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển tiền tệ trong xã hội.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng
trưởng. Tín dụng ngân hàng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ. Trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh và
dịch vụ để tái sản xuất mở rộng hoạt động, mọi chu kỳ đều phải bắt đầu bằng
tiền và kết thúc bằng tiền (T…H…T, T…T). Do đó để tăng nhanh vòng quay
vốn, mỗi chủ thể kinh doanh phải tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp như cải
13
tiến kĩ thuật tìm kiếm thị trường mới. Tất cả những công việc đó đòi hỏi phải có
nhiều vốn và kịp thời, tín dụng ngân hàng là nguồn cung ứng vốn cho các nhu
cầu đó. Mặt khác, vốn ngân hàng cung ứng cho các nhà kinh doanh bằng việc
cho vay với điều kiện phải hoàn trả cả gốc và lãi theo thời hạn quy định. Vì vậy,
các nhà quản trị doanh nghiệp phải tìm nhiều biện pháp để sử dụng vốn có hiệu
quả, tăng nhanh vòng quay của vốn, trả nợ đúng hạn nợ gốc và lãi. Chính quá
trình này đã góp phần tạo cho nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển cao.
Thứ tư, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối
quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế. Trong điều kiện hiện nay, việc phát triển kinh
tế của một nước luôn phải gắn liền với sự phát triển kinh tế của thế giới. Trong
đó, đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá là hai lĩnh
trả được nợ, bù đắp chi phí và thu được lợi nhuận. Điều này có nghĩa là ngân
hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế lại vừa tạo ra hiệu quả xã hội.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro trong bảng
tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng. Để phản ánh chất lượng tín dụng có
rất nhiều chỉ tiêu và để thuận tiện cho việc nghiên cứu cũng như đánh giá toàn
diện về tình hình hoạt động của ngân hàng người ta chia ra làm các chỉ tiêu định
tính và chỉ tiêu định lượng.
* Chỉ tiêu định tính
Để đánh giá định tính về chất lượng tín dụng thì cần quan tâm đến tỷ lệ
nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ và cơ cấu tài sản đảm bảo, cơ cấu dư nợ của các
khoản vay ngắn và dài hạn trong tương quan cơ cấu nguồn vốn của tổ chức tín
dụng
Chỉ tiêu định tính là những chỉ tiêu mang tính tương đối, rất khó xác
định thường được đánh giá qua việc chấp hành luật pháp của ngân hàng như luật
NHNN, luật TCTD, việc chấp hành văn bản chỉ đạo của Nhà nước, Chính phủ
15
và của ngân hàng, chấp hành các quy chế, quy trình nghiệp vụ, thể lệ tín dụng
trong quá trình thực hiện quy trình cho vay. Khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng,
các ngân hàng phải tuân thủ các điều kiện, các nguyên tắc theo quy định của
Nhà nước và của thống đốc NHNN. Các nguyên tắc và điều kiện tín dụng không
tách rời nhau do đó coi nhẹ bất kì một nguyên tắc nào, một điều kiện nào cũng
sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
Nói đến chất lượng tín dụng trước hết phải xem xét đến việc thực hiện
nghiệp vụ tín dụng có chấp hành tốt pháp luật, các chỉ đạo của Nhà nước, của
ngành cũng như tuân thủ quy trình, quy chế nghiệp vụ tín dụng hay không.
Ngoài ra, người ta còn xem đến các yếu tố như khả năng thu hút khách
hàng, yếu tố con người ….Trước hết, con người chính là các cán bộ ngân hàng
trong nền kinh tế thị trường đặc biệt với cán bộ tín dụng phải khẳng định được
rằng “chất lượng tín dụng xuất phát từ chất lượng cán bộ tín dụng” . Việc đào
năng mở rộng khách hàng, mở rộng thị phần. Song chỉ tiêu này cao thì chưa hẳn
chất lượng khoản vay tốt vì nó còn phụ thuộc vào khả năng thu hồi vốn của ngân
hàng.
• Chỉ tiêu nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là những khoản cho vay đến hạn mà khách hàng không trả
được số tiền trong hợp đồng tín dụng và tiền lãi của số tiền đó mà không được
ngân hàng gia hạn. Số tiền này ngân hàng chuyển thành nợ quá hạn và áp dụng
lãi suất quá hạn thường không quá 150% lãi suất trong hạn. Trên thực tế phần
lớn là những khoản nợ có độ rủi ro cao và có khả năng mất vốn. Để đánh giá
chất lượng tín dụng trên cơ sở nợ quá hạn, người ta thường thông qua tỉ lệ nợ
quá hạn và tỷ lệ đầu tư rủi ro.
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn= * 100%
Tổng dư nợ
Tổng dư nợ món vay có phát sinh nợ quá hạn
17
Tỷ lệ đầu tư rủi ro =
Tổng dư nợ
Hai chỉ tiêu này càng nhỏ thì chất lượng tín dụng càng cao và ngược lại.
Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong hoạt động kinh doanh là khách
quan do đó nợ quá hạn của NHTM là tất yếu, không thể tránh khỏi. Song nếu
một ngân hàng có nhiều khoản nợ quá hạn thì sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh
vì sẽ có nguy cơ mất vốn, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và giảm thu nhập.
NHTM nào có tỷ lệ nợ quá hạn cao thì sẽ bị đánh giá là có chất lượng tín dụng
thấp và ngược lại. Tuy nhiên để đánh giá một cách chính xác chất lượng tín
dụng người ta thường chia nợ quá hạn ra thành nợ quá hạn có khả năng thu hồi
và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi:
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi
Tỷ lệ nợ quá hạn = * 100%
có khả năng thu hồi. Nợ quá hạn
• Tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của người vay.
Nếu xét về bản thân tín dụng thì nguồn trả nợ cho ngân hàng của người
vay vê nguyên tắc được trích ra từ phần thu nhập do hoạt động SXKD của khách
hàng, nó bao gồm các chi phí nguyên vật liệu, khấu hao tài sản cố định và phần
giá trị mới tạo ra. Tuy vậy, có nhiều tường hợp do sử dụng vốn kém hiệu quả, bị
mất vốn, SXKD thua lỗ… nên người đi vay phải bán tài sản để trả nợ ngân
hàng. Số tiền bán tài sản có thể đủ để trả nợ món vay, nhưng cũng có thể chỉ đủ
trả một phần nợ vay.
Số tiền thu được do khách hàng bán tài sản
Tỷ lệ này được xác định =
19
Tổng doanh số nợ
Nhưng việc bán tài sản không phải lúc nào cũng thuận tiện vì trên thực tế
có những tài sản khó bán hoặc đang trong thời kỳ giảm giá … Do vậy cũng là
nguyên nhân gây ra khó khăn cho khoản vay, ảnh hưởng đến chất lượng tín
dụng của ngân hàng.
• Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng.
Chỉ tiêu này thường được các NHTM tính toán hàng năm để đánh giá
khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp
ứng nhu cầu của khách hàng, giải quyết hợp lý giữa 3 lợi ích: Nhà nước, khách
hàng và ngân hàng.
Vòng quay vốn tín dụng được xác định theo công thức sau:
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng hàng năm.
Đối với khách hàng, hệ số này càng tăng phản ánh tình hình SXKD của
khách hàng càng tốt, có tình hình tài chính vững chắc. Đây là cơ sở để khách
hàng thực hiện tốt những cam kết trên hợp đồng tín dụng.
Đối với ngân hàng, thể hiện khả năng thu hồi vốn của ngân hàng cao hay