LUẬN VĂN:
Kế hoạch lao động – việc làm thời
kỳ 2006 – 2010 và các giải pháp
thực hiện MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu, và nó đã
có những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế nước ta. Đặc biệt với việc Việt Nam đã
gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO trong thời gian qua (vào ngày 7/11/2006)
đã mở ra những cơ hội thuận lợi để phát triển, đồng thời cũng đan xen những khó
khăn, thách thức đòi hỏi phải biết tận dụng những lợi thế so sánh để hội nhập, và cần
có biện pháp sử dụng hợp lý nguồn nhân lực thông qua việc nâng cao chất lượng lao
động, tạo thêm nhiều việc làm mới.Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào các yếu tố kĩ
thuật – công nghệ, lao động tiêu thụ bao gồmcả tiêu thụ trong nước và xã hội. Vốn là
thứ ma nước ta có thể huy động được ở trong nước và nước ngoài, kỹ thuật – công
nghệ là thứ mà nước ta có thể mua được. Nhưng cả hai thứ trên phải qua sự sử dung
của con người mới phát huy được hiệu quả, nếu để lẵng phí thất thoát thì chẵng những
tăng trưởng kinh tế không tương ứng mà làm cho gánh nặng nợ nần gia tăng. Khác với
hai yếu tố trên, lao động mà nước ta sẵn có, là nguồn nội lực hơn nữa lại có rất nhiếu
NỘI DUNG
PHẦN I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KẾ HOẠCH LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM
I. Lao động - việc làm trong nền kinh tế Việt Nam
1 Lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người . Lao động là một hành động
diễn ra giữa con người với giới tự nhiên. Trong quá trình lao động con người vận
dụng sức tiềm tàng trong thân thể mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào
giới tự nhiên, biến đổi vật chất đó, làm cho chúng trở nên có ích cho đời sống của
mình. Vì thế lao động là điều kiện không thể thiếu được của đời sống con người, là
một sự tất yếu vĩnh viễn, là kẻ môi giới trong trong sự trao đổi vật chất giữa tự nhiên
và con người. Lao động chính là việc sử dụng sức lao động.
2. Việc làm
Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa sức
- Kế hoạch lực lượng lao động là kế hoạch mang tính biện pháp:
+ Lao động là một yếu tố nguồn lực để thực hiện mục tiêu phát triển Kinh tế - Xã hội
+ Kế hoạch lực lượng lao động nhằm vào mục tiêu của kế hoạch tăng trưởng, kế hoạch
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kế hoạch phát triển vùng kinh tế, tạo ra các điều kiện vế
lao động để thực hiện các kế hoạch này
- Kế hoạch hoá lực lượng lao động là kế hoạch mang tính mục tiêu:
+ Lao động là một đối tượng được hưởng lợi ích Xã hội trong đó có quyền lợi có việc
làm
+ Kế hoạch phát triển lao động bao hàm một số các chỉ tiêu nằm trong hệ thống các
mục tiêu phát triển xã hội như: Giải quyết lao động, khống chế thất nghiệp hay chỉ tiêu
giáo dục sức khoẻ…
Do vậy, kế hoạch lao động phải được xây dựng dựa trên cơ sở các yếu tố cầu do kế
hoạch về tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặt ra nhưng đồng thời kế hoạch
mang tính chủ động, tích cực và đặc biệt là tìm ra các cơ chế chính sách để thực hiện
các mục tiêu do kế hoạch đặt ra.
2. Nội dung kế hoạch lao động việc làm
2.1. Đánh giá các yếu tố tác động đến tình hình lao động - việc làm kỳ kế hoạch
2.1.1. Các yếu tố tác động tới cung lao động
* Yếu tố ảnh hưởng đến số lượng lao động
Lực lượng lao động phản ánh số lượng lao động mà xã hội sẵn sàng đem trao đổi trên
thị trường. Trong nền kinh tế lực lượng lao động phụ thuộc vào các yếu tố:
- Quy mô và tốc độ tăng dân số
Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng lao động. Sự biến động dân số là kế quả
của quá trình nhân khẩu học và có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô, cơ
cấu cũng như sự phân bố theo không gian của dân số trong độ tuổi lao động. Sự biến
động của dân số thường được nghiên cứu qua sự biến động tự nhiên và biến động cơ
học
- Kinh tế, xã hội và văn hoá
Yếu tố kinh tế, xã hội và văn hoá tác động mạnh đến quy mô và cơ cấu lực lượng lao
trưởng kinh tế của đất nước; nâng cao chất lượng nguồn lao động; thay đổi cơ cấu lực
lượng lao động ngày càng tiến bộ theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong nông
nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong công nghiệp – xây dựng và dịch vụ
2.3. Chỉ tiêu và các phương pháp tiếp cận
2.3.1. Chỉ tiêu về khả năng cung cấp Lực lượng lao động xã hội
Khả năng cung cấp lực lượng lao động xã hội là bộ phận dân số tham gia hoạt động
kinh tế; bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động có đủ khả năng
tham gia lao động, đang tham gia lao động và có nhu cầu tìm việc làm.
Độ tuổi lao đông: Việt Nam quy định tuổi lao động:
Nam: đủ 15 đến 60
Nữ: đủ 15 đến 55
Có khả năng tham gia lao động:
Có trình độ
Có sức khoẻ
Việc xác định khả năng cung cấp lực lượng lao động xã hội gồm các bước sau:
Bước 1: Xác định dân số tuổi lao động kỳ kế hoạch
Dân số tuổi lao động kỳ kế hoạch bao gồm bộ phận dân số hoạt động kinh tế và bộ
phận dân số không hoạt động kinh tế trong kỳ kế hoạch
- Dân số hoạt động kinh tế còn gọi là nguồn lao động hay lực lượng lao động đang
làm việc (người có việc làm) hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc (thất
nghiệp).
- Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm tất cả những người khác trong độ tuổi lao
động không thuộc nhóm có việc làm hoặc thất nghiệp. Bộ phận này bao gôm: những
người không có khả năng làm việc do tàn tật, ốm đau, mất sức kéo dài; những người
chỉ làm việc nội trợ của chính gia đình; học sinh, sinh viên trong độ tuổi lao động;
những người không hoạt động kinh tế vì những lí do khác.
Phương pháp xác định tổng dân số nguồn nhân lực
3 phương pháp:
Phương pháp 1: Chuyển tuổi trực tiếp
+
(1 + Tỷ lệ tăng thuần
tuý kỳ KH)
Phương pháp 3: Phương pháp tính bằng tỷ trọng
Dân số tuổi lao động
kỳ KH
=
Tổng số nhân khẩu kỳ
KH
*
Tỷ trọng dân số tuổi
lao động kỳ KH Bước 2: Xác định dân số tuổi lao động hoạt động kinh tế kỳ KH
Dân số tuổi lao động
hoạt động kinh tế kỳ
KH
=
Dân số tuổi lao động
kỳ KH
*
Tỷ lệ dân số hoạt động
kỳ KH
Dân số tuổi lao động
không hoạt động kinh
tế
=
Dân số tuổi lao động
kỳ KH
*
(TL
hs-sv
+ TL
nội trợ
+
TL
tàn tật
+ TL
khác
)
2.3.2. Chỉ tiêu về nhu cầu lao động xã hội cần có kỳ KH
Nhu cầu sức lao động xã hội chỉ nhu cầu thu hút và tiếp nhận sức lao động nảy sinh
trong hoạt động kinh tế - xã hội (số chỗ việc làm được tạo nên bởi các hoạt động kinh
tê)
Các phương pháp xác định
Phương pháp 1
Phương pháp căn cứ định mức với các yếu tố đầu vào không phải là yếu tố lao động
* Vốn
Hệ số kết hợp (DM
K/L
DL
k
= DL
0
+
LD
k
(DL
0
: nhu cầu lực lượng lao động kỳ gốc)
Dựa vào tính toán trên, có thể xác định được nhu cầu lực lượng lao động kỳ KH. Đây
là phương pháp giản đơn, dễ tính toán và thể hiện được mối quan hệ giữa tăng trương
kinh tế(
Y), tăng trưởng vốn sản xuất (
K), và tăng trưởng lao động (
L). Tuy vậy
phương pháp này chưa đặt ra được vấn đề thay đổi công nghệ, kĩ thuật và phương thức
tổ chức kế hợp các yếu tố sản xuất trong quá trình tạo sản phẩm
Phương pháp 2: phương pháp căn cứ vào năng suất lao động
Các bước tiến hành như sau:
Các bước tiến hành như sau:
(1) Xác định năng suất lao động kỳ gốc:
)
Trong đó:
G
k
: Tốc độ tăng trưởng kinh tế kỳ KH
Y
0
: mức GDP kỳ KH
- Tính mức nhu cầu lao động kỳ KH (VL
k
) theo công thức:
VL
k
=
Y
k
/ NS
kPhương pháp 3: phương pháp căn cứ vào độ co giãn của việc làm đối với kết quả sản
xuất (GDP)
Các bước tiến hành như sau:
(1) Tính hệ số co giãn của việc làm đối với GDP theo phương pháp thống kê qua
nhiều năm về mối quan hệ giữa GDP với sự thay đổi của việc làm: e
(2) Xác định nhu cầu tăng trưởng lao động theo công thức:
g
vl
LD
k
= LD
k
– LD
0
* Tỷ lệ và mức thất nghiệp
Mức thất nghiệp: U
n(k)
= LD
k
– VL
k
Tỷ lệ thất nghiệp: TL
Un(k)
= (U
n(k)
/LDk) * 100%
* Xác định thất nghiệp ở khu vực nông thôn
- Tỷ lệ thiếu việc làm: TL
thiếu VL
= LD
thiếu việc làm
/ LD
nông thôn
2.4. Các chính sách vĩ mô điều tiết sự lưu chuyển sức lao động
hàng hoá, muốn thực hiện sự phân bố hợp lý các yếu tố sức sản xuất, cần phải hoà
toàn bộ các yếu tố của sức sản xuất vào hệ thống thị trường
- Nhà nước khống chế thị trường sức lao động chủ yếu bằng việc đưa ra các đường nét
hướng đạo chính, bằng các kế hoạch mang tính co giãn. Ngoài các biện pháp pháp
luật, hành chính cần thiết, chủ yếu bằng các biện pháp kinh tế.
Cụ thể, trên tầm vĩ mô Nhà nước nên xuất phát từ mục tiêu tổng thể, lâu dài và phát
triển kinh tế - xã hội, khống chế có kế hoạch tổng cung sức lao động, cân bằng sức lao
động với tổng tiền lương. Đồng thời thông qua kế hoạch vĩ mô có sự cân đối cần thiết
quy mô, kết cấu và phương thức lưu chuyển sức lao động, làm cho nó thích ứng được
các mặt phát triển của kinh tế, xã hội. Đặc biệt đối với một số nhân viên, cán bộ kỹ
thuật nhân viên cao cấp và sức lao động cần thiết cho các công trình trọng điểm của
Nhà nước có thể điều phối bằng kế hoạch pháp lệnh. PHẦN II: KẾ HOẠCH LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM 2006 – 2010 VÀ ĐÁNH GIÁ
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TRONG HAI NĂM 2006, 2007
I. Kế hoạch lao động - việc làm 2006 – 2010
1.Phân tích thực hiện kế hoạch 2001 – 2005
1.1. Kế hoạch lao động việc làm 2001 – 2005
Trong năm 2001 -2005 số lao động cần giải quyết việc làm khoảng 15,5 triệu lao động,
bao gồm lao động mới tăng thêm mỗi năm khoảng 1,12 triệu lao động và số lao động
chưa được giải quyết việc làm và thiếu việc làm từ 5 năm trước chuyển sang khoảng
12 triệu người, trong đó ở nông thôn ( tính theo ngày công quy đổi ) khoảng 9,5 triệu
người ở thành thị khoảng 2,5 triệu người.
Với việc thực hiện chương trình phát triển kinh tế xã hội trong 5 năm tới, sẽ tạo việc
làm mới và tăng thêm việc làm cho khoảng 7,5 triệu lao động.
Ở nông thôn cùng với việc chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất, mùa vụ cây trồng, vật
nuôi phát triển đa ngành, đa nghề trong các lĩnh vực công, nghiệp thủ công mỹ nghệ,
dịch vụ và xuất khẩu lao động. Dự kiến có thể thu hút và tạo thêm việc làm cho
khoảng 4,5 – 4,8 triệu lao động ( theo ngày công quy đổi đưa số lao động có việc làm
1.2.2. Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động đã tăng lên,
nhưng chậm và không đồng đều giữa các vùng lãnh thổ
Một là về trình độ học vấn:
Trình độ học vấn của lực lượng lao độn nhìn chung đã tăng lên, nhất là ở bậc học phổ
thông cơ sở và phổ thông trung học nhưng không đồng đều giữa các bậc, các vùng.
Điều này được thể hiện qua bảng sau:
Bảng cơ cấu lực lượng lao động chia theo trình độ học vấn
Đơn vị %
Chỉ tiêu 2002 2004 2005
Mù chữ 3,74 4.44 4.04
Chưa tốt nghiệp tiểu học 15.96
13.87 13.09
Tốt nghiệp tiểu học 31.83 29.73 29.09 Tốt nghiệp phổ thông cơ sở 30.06 32.36 32.58
Tôt nghiệp phổ thông trung học 18.42 19.6 21.21
Nguồn: báo cáo kết quả điều tra lao động việc làm 1/7 năm 2002 – 2005
1.2.3. Cơ cấu lực lượng lao động đã có thay đổi nhanh theo khu vực
Cơ cấu của lực lượng lao động ngày càng tiến bộ trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Lực lượng lao động ở thành thị năm 2001 mới chiếm 18,14%,
đến năm 2002 đã tăng lên 23,87% và 24,2% năm 2003.Và năm 2004 là 24,4% , năm
2005 là 24.95%
1.2.4. Số người có việc làm ngày càng tăng, cơ cấu theo ngành kinh tế ngày càng tiến
bộ, nhưng cơ cấu theo loại hình kinh tế chuyển dịch chưa rõ
- Cơ cấu của lao động có việc làm theo ngành kinh tế: cùng với sự đổi mới của
đất nước, 5 năm qua cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã có những biến đổi quan
trọng: Lao động trong công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đã tăng lên, lao động trong
thất nghiệp, tiền lương, tiền công và năng suất lao động.
Có thể thầy được tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và sử dụng thời gian lao động ở nông
thôn qua bảng sau:
Bảng tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị và sử dụng thời gian lao động ở nông thôn
Đơn vị %
Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao
động trong độ tuổi ở thành thị
6.42 6.28 6.01 5.78 5.6 503
Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở
nông thôn
74.2 74.3 75.4 77.7 79.1 80.7
nguồn: Niên giám thống kê 2004 : báo cáo kế hoạch điều tra lao động - việc làm
1/7/2005.
Qua bảng ta thấy tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở thành thị đã
giảm từ 6,42% năm 2000 xuống còn 6,28% năm 2001 và đến năm 2005 chỉ còn 5,3%
đạt mục tiêu kế hoach đề ra là 5,4%. Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn tăng
từ 74,16 % năm 2000 lên 74,26% năm 2001 và 80.7% năm 2005 đạt mục tiêu kế
hoạch là 80%.
Trong thời gian 2002 – 2005, năng suất lao động xã hội của Việt Nam đã tăng
6,7%/năm. Đó là một tốc độ tăng khá cao. Tuy nhiên, về quy mô theo bộ kế hoạch và
đầu tư năm 2005 mới đạt 19.62 triệu động một lao động / năm. Nếu tính GDP bằng
USD chia cho số lượng lao động theo tỷ giá hối đoái thực tế của Việt Nam năm 2005
thì mới đạt 123,4 USD thấp xa so với nhiều nước trong khu vực như Trung Quốc
(2152.3 USD): Philippines (2419.2 USD) Indonexia ( 2483.1 USD ): Thái Lan (
4541.1 USD ) …
2. Kế hoạch lao động – việc làm giai đoạn 2006 – 2010
2.1. Các nhân tố tác động đến kế hoạch lao động việc làm 2006 – 2010
2.1.1. Cung cầu lao động trên thị trượng hiện nay
1,05 triệu người / năm. Năm 2005 lực lượng lao động là 44,6 triệu người và đến năm
2010 là 50.5 triệu người. Tốc độ tăng lực lượng lao động giai đoạn 2006 – 2010
khoang 2,65% năm.Đồng thời, dưới tác động của chính sách giáo dục và đào tạo và
với việc tham gia sâu rộng hơn vào thị trường lao động nước ngoài thông qua xuất
khẩu lao động, chất lượng lao động tiếp tục được cải thiện. Trong lực lượng lao động,
tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 40% vào năm 2010, trong đó đào tạo nghề là 26,6%
* Xu hướng cầu lao động
Theo phương án phát triển kinh tế với tốc độ tăng GDP bình quân trên 8% năm, đầu tư
toàn xã hội bình quân 35% GDP/ năm., năng suất lao động xã hội tăng bình quân
5%/năm thì tổng cầu lao động năm 2010 là 49.1 triệu lao động ( thành thị là 29,4%).
Cầu lao động trên thị trường lao động ( lao động làm công ăn lương ) năm 2010 là
19,6 triệu người.
Cầu lao động cho xuất khẩu lao động có xu hướng tăng dần, thời kì 2006 – 2010 bình
quân xuất khẩu lao động đạt 80 – 100 nghìn người/ năm, trong đó trên 50% là lao động
có nghề.
Xu hướng tiền công, tiền lương trên thị trượng lao động: theo dự báo của cơ quan chức
năng thì đến năm 2010 tiền lương tối thiểu khoảng 600-700 nghìn đồng, tiền lương
bình quân trả cho người lao động trong các doanh nghiệp tăng gấp 2 – 2,5 lần so với
năm 2005.
1) Định hướng và mục tiêu kế hoạch lao động việc làm 2006 – 2010.
Ưu tiên dành vốn đầu tư của nhà nước và huy động vốn xã hội để giải quyết việc làm.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lao động. tiếp tục chuyển dịch cơ cấu
lao động theo hướng giảm lao động nông lâm và thuỷ sản, tăng lao động trong công
nghiệp – xây dựng và tăng lao động trong dịch vụ.
2. 2. Định hướng và mục tiêu?
Ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn xã hội để giải quyết việc
làm. Nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lao động. Tiếp tục chuyển dịch
cơ cấu lao động theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
xuống còn 50 % vào năm 2010, tăng lao động trong công nghiệp và xây dựng lên ít
1.1. Kế hoạch lao động - việc làm 2006
- Lao động đuợc giải quyết việc làm: 1.6 triệu người
- Lao động xuất khẩu: 7 vạn người
- Tỷ lệ lao động trong công nghiệp trong tổng số lao động: 19%
- Tỷ lệ lao động trong nông nghiệp trong tổng số lao động: 55%
- Tỷ lệ lao động trong dịch vụ trong tổng lao số lao động: 26%
1.2. Thực trạng
* Cung lao động
Năm 2006 lực lượng lao động cả nước là 45.5 triệu người, tăng 2.6% so với năm 2005.
Lao động Nam chiếm 51.4% lực lượng lao động và có xu thế tăng nhanh hơn so với số
lượng nữ (2.6% so với 1.6%). Lực lượng lao động ở khu vực thành thị là 12 triệu
người tăng 9.1% và chiếm 26.4% lực lượng lao động cả nước. Lực lượng lao động khu
vực nông thôn tăng chậm hơn khu vực thành thị (1.8%); năm 2006 có 33.5 triệu người.
Mức tăng thấp hơn của lực lượng lao động nông thôn làm cho tỷ lệ này trong lực
lượng lao động cả nước giảm từ 74.3% năm 2005 xuống 73.6% vào năm 2006. Tuy
nhiên, vẫn còn trên ba phần tư lực lượng lao động sống ở khu vực nông thôn tạo nên
việc làm cho lao động ở khuvực này vẫn là vấn đề bức xúc
- Mặc dù số lượng lực lượng lao động của cả nước tăng lên, song tỷ lệ tham gia lực
lượng lao động có xu hướng giảm từ 71.1% năm 2005 xuống 69.8% năm 2006. Tuy
nhiên tỷ lệ này vẫn còn mức cao so với các nước khác trong khu vực. Tỷ lệ tham gia
lực lượng lao động ở nông thôn là 71.5% cao hơn khu vực thành thị là 6.1%.
- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của Nam và nữ tăng từ nhóm tuổi 15 – 19
đến nhóm tuổi 35 – 39 , và sau đó xu hướng giảm dần ở các nhóm tuổi tiếp theo. Tỷ lệ
tham gia lực lượng lao động của Nam đạt mức độ cao nhất là 98.8% ở nhóm tuổi 30 –
34, và của nữ là 92.6% ở nhóm tuổi 25 – 29. Có sự gia tăng đáng kể về tỷ lệ tham gia
lực lượng lao động của cả Nam và nữ từ 35.6% lên 78.8% năm 2006. Trong nhóm tuổi
lao động chính là 25 – 49, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của Nam duy trì ở mức
cao, từ 89% đến 92.6%. Với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cao như vậy, sẽ khó có
triệu người năm 2005 lên 11.9 triệu năm 2006. Tỷ trọng của nhóm này tăng tương ứng
từ 25.7% lên 26.8% do sự gia tăng của các ngành công nghiệp và dịch vụ . Cung và
cầu đối với những người lam công tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị, do đó lao
động làm việc gia đình không hưởng công chỉ chiếm 11.6% tổng số lao động có việc
làm ; trong khi tỷ lệ này cao gấp ba lần (38.2%) ởkhu vực nông thôn
* Thất nghiệp
- Tình trạng thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ở khu vực
thành thị không được cải thiện so với năm 2005. Tỷ lệ thất nghiệp cả nước là 5.3%,
tăng chút ít so với năm 2005 (5.1%)
Bảng 1: Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vưc
thành thị theo vùng kinh tế năm 2005 và 2006 (%)
2005 2006
Toàn quốc 5.13 5.32
Đồng bằng sông Hồng 5.64 5.54
Đông Bắc 5.06 5.54
Tây Bắc 4.9 4.72
Bắc Trung Bộ 4.98 5.24
Duyên hải Nam Trung Bộ 5.51 5.44
Tây Nguyên 4.23 3.16
Đông Nam Bộ 5.61 5.47
Đồng bằng sông Cửu Long 4.87 5.63
Nguồn: Bộ lao động thương binh và xã hội
Bảng trên cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu
vực thành thị và của 8 vùng kinh tế năm 2005 và 2006. Có 5 vùng tỷ lệ thất nghiệp
giảm, đó là Đồng bằng sông Hồng (giảm 0.1 điểm phần trăm), Tây Bắc (giảm 0.18
điểm phần trăm), Duyên hải Nam Trung Bộ (giảm 0.07 điểm phần trăm), Tây Nguyên
(giảm 1.07 điểm phần trăm), và Đông Nam Bộ (giảm 1.04 điểm phần trăm), và ba
vùng tỷ lệ thất nghiệp tăng là Đông Bắc (tăng 0.1 điểm phần trăm), Bắc Trung Bộ
(tăng 0.26 điểm phần trăm), Đồng băng sông Cửu Long (tăng 0.76 điểm phần trăm).
Tiểu
học
Trung
học cơ
sở
Trung
học
phổ
thông
Trung
học
chuyên
nghiệp
Cao
đẳng,
ĐH và
sau
ĐH
Cả
nước
44.6 1.8 5.7 13.3 14.7 4.8 1.9 2.6
Nam 23.0 0.7 2.7 6.8 7.7 2.8 1.0 1.4
Nữ 21.6 1.1 3.0 6.5 7.0 2.0 0.9 1.2
Nguồn: Bộ lao động, thương binh và xã hội
Năm 2006, trình độ chuyên môn kĩ thuật của lực lượng lao động trong cả nước tiếp tục
được nâng cao. Tỉ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo là 32,0% tăng 6.6 % so với
năm 2005. Trong đó, tỷ lệ lực lượng lao động khu vực thành thị đã qua đào tạo là
58.15 và khu vực nông thôn là 23.3%. Sự gia tăng tỷ lệ này chủ yếu là do tăng số
lượng công nhân kỹ thuật không bằng.