LUẬN VĂN:
Tình hình thực hiện luật thuế GTGT
của một số doanh nghiệp kinh doanh
thương mại trên địa bàn Quận Hoàn
Kiếm – Hà Nội
Lời mở đầu
Đối với bất kỳ một Quốc gia nào thì thuế cũng đóng một vai trò quan trọng và
chiếm phần lớn trong tổng thu Ngân sách nhà nước. Việc thực thi một chính sách thuế có
hiệu quả sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu này, từ đó tạo điều kiện mở rộng sản xuất và
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việt Nam, theo thống kê của tổng cục thuế thì
92% Ngân sách nhà nước là thu từ thuế nên cần phải có chính sách thuế hoàn chỉnh mà
muốn vậy luật thuế đưa ra phải có phương pháp tính thuế hợp lý nhằm đảm bảo sự công
bằng cho các đối tượng nộp thuế kết hợp với việc hạch toán thuế tại các doanh nghiệp
phải đúng chế độ kế toán, tài chính và quy định của pháp luật.
Nếu như trước đây trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thuế lợi tức, thuế hàng
Chương I
Những lý luận chung về thuế giá trị gia tăng.
I. Sơ lược về thuế nhà nước:
1.Khái niệm về thuế:
Thuế là một phạm trù lịch sử, nó phát triển và tồn tại cùng với sự ra đời tồn tại và
phát triển của nhà nước.Có thể khẳng định rằng, dưới bất kỳ chế độ xã hội nào khi đă có
Nhà nước phải có thuế. Sự xuất hiện của Nhà nước đòi hỏi phải cơ sở vật chất để đảm
bảo điều kiện cho Nhà nước tồn tại và thực hiện các chức năng của mình.Nhà nước dùng
quyền lực chính trị của mình để ban hành những quy định pháp luật cần thiết nhằm làm
công cụ phân phối lại một phần của cải xã hội và hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà
nước. Đồng thời, sự xuất hiện của sản phẩm thặng dư trong xã hội cũng là cơ sở chủ yếu
tạo khả năng và nguồn thu để thúc đẩy tồn tại và phát triển của Nhà nước.
Thế nên thuế ra đời là một tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức
năng của nhà nước. Nhà nước sử dụng luật thuế như một cung cụ quan trọng đế điều tiết
vĩ mô nền kinh tế, thuế không những là nguồn thu nhập chủ yếu của ngân sách nhà nước
mà còn ảnh hưởng lớn đến công cuộc phát triển kinh tế. Nhiệm vụ chính trị của mỗi Nhà
nước trong từng giai đoạn lịch sử, đặc điểm của phương thức sản xuất, kết cấu giai cấp là
những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến vai trò, nội dung và đặc điểm của thuế khoá.
Mặt khác, bản chất của thuế tuỳ thuộc vào bản chất nhà nước sinh ra nó. Nếu như
trước thời kỳ phong kiến, hình thái ban đầu của thuế chỉ là hiện vật ngày công lao động
thì đến chủ nghĩa tư sản cho đến nay, thuế đã chuyển sang hình thái phổ biến là tiền tệ và
các sắc thuế khác nhau cũng không ngừng hòan thiện. Nhưng cơ cấu và nội dung cả hệ
thống và từng sắc thuế phải được nghiên cưú, sửa đổi, bổ sung cải tiến và đổi mới để kịp
thời thích hợp với tình hình, nhiệm vụ hợp tác, đủ sức thực hiện các quy định của pháp
luật về thuế đã được nhà nước ban hành trong từng thời kỳ. Khái niệm về thuế nhà nước, chưa có về sự thống nhất tuỳ thuộc vào từng đối tượng
* Thuế là khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp.
3.Phân loại thuế:
Tuỳ theo mục đích, yêu cầu của việc xem xét, đánh giá phân tích và phân loại các
sắc thuế mà có các cách phân loại sau:
Phân loại theo tính chất chuyển giao của thuế:
* Thuế trực thu: là người trực tiếp nộp thuế đồng thời là người chịu thuế.
Ví dụ: Thuế nhập doanh nghiệp, thuế nhập cá nhân…
* Thuế gián thu: là loại thuế đánh vào người tiêu dùng thông qua giá cả hàng hoá và
dịch vụ, đồng thời người chịu thuế gián thu và người nộp thuế không đồng nhất.
Ví dụ: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu…
Phân loại theo đối tượng tính thuế:
* Thuế đánh vào sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
Ví dụ: Thuế doanh thu.
* Thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá.
Ví dụ: Thuế tiêu thụ đặc biệt.
* Thuế đánh vào việc sử dụng tài sản của nhà nước.
Ví dụ: Thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp…
Phân loại theo hình thức thuế:
* Thuế bằng hiện vật.
Ví dụ: Thuế nông nghiệp thu bằng thóc.
* Thuế bằng tiền.
Ví dụ: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu…
3.4Phân loại thuế theo quan hệ điều của thuế:
* Thuế tỉ lệ cố định.
* Thuế tích lũy tiến.
* Thuế luỹ thoái.
4. Các yếu tố cấu thành thuế:
thuế trước cơ quan hữu quan. Thủ tục nộp thuế là căn cứ pháp lý để thực hiện nộp thuế
đúng, đủ, kịp thời.
4.8 Xử lý các trường hợp vi phạm:
Tuỳ theo mức độ nặng nhẹ về việc vi phạm các quy định của luật thuế ban hành mà
bị cảnh cáo. phạt tiền hay truy tố trước pháp luật.
5 Vai trò của thuế:
5.1 Thuế là công cụ tạo lập nên nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước vì:
- Thuế là một khoản đóng góp mang tính chất pháp lệnh của Nhà nước đối với tổ
chức, cá nhân trong xã hội
- Thuế là một khoản mang tính chất ổn định.
- Thuế không trả trực tiếp cho người nộp mà thông qua các quá trình thực hiện các
chức năng của mình.
- Hình thức thu thuế bao quát các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu
nhập và mọi tiêu dùng trong xã hội
Thuế bảo đảm được tính tự chủ trong cân đối ngân sách.
- Việc thu thuế thể hiện một nền tài chính quốc gia lành mạnh.
5.2 Thuế là công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà nước:
Thuế tác dụng trực tiếp đến giá cả và thu nhập. Một phần thu nhập của người tiêu
dùng là khoản đóng thuế. Đồng thời, thuế cũng là một trong những biện pháp chế ngự lạm phát.Vì vậy, dựa vào công cụ thuế mà nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc
tích luỹ và đầu tư, khuyến khích kinh tế phát triển công bằng lành mạnh.
5.3 Thuế là công cụ góp phần điều hoà thu nhập và thực hiện bình đẳng, công
bằng xã hội:
Nền kinh tế hàng hoá thị trường sẽ tạo ra hai thái cực đối lập nhau đó là: giàu-
nghèo nếu không có sự can thiệp của Nhà nước để phân phối thu nhập trong xã hội. Trên
thực tế, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều do những đóng góp nỗ lực của toàn
dân, của mỗi thành viên trong xã hội.Vì vậy để có được sự công bằng thì tất cả mọi
người đều được hưởng thành quả của sự phát triển kinh tế đó. Do đó, sự can thiệp của
xi măng Bỉm Sơn, nhà máy đường Biên Hoà, công ty dệt kim Đông Xuân…
Tuy nhiên việc thực hiện thí điểm đã không mang lại kết quả do hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp trong xã hội có mối quan hệ chặt chẽ lẫn nhau, từ quá
trình cung cấp nguyên vật liệu đến quá trình tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, VAT không thể
thực hiện riêng rẽ ở một khâu hay một số doanh nghiệp.
Nhận thấy cần phải có một chính sách thuế phù hợp nên tại kỳ họp thứ XI, Quốc hội
khoáIX, từ ngày 02/04 đến ngày 10/05/1997 đã thông qua Luật thuế GTGT và có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho luật thuế doanh thu.
Chính phủ có Nghị định 79/2000 hướng dẫn nghị định số 79/2000/TT-BTC ngày
29/12/2000 của Chính phủ. Thông tư này thay thế các Thông tư hướng dẫn về thuế
GTGT, ta hãy xét những điểm giống nhau và khác nhau của hai luật thuế này:
Những điểm giống nhau:
Thuế GTGT và thuế doanh thu là thuế gián thu đánh vào người tiêu dùng hàng hoá
được cung ứng dịch vụ. Thuế này do người sản xuất - kinh doanh, dịch vụ nộp nhà nước ,
nhưng thực chất người tiêu dùng là người chịu thuế. Nhà doanh nghiệp là người đóng vai
trò là người thu hộ cho nhà nước, họ đã cộng số thuế gián thu phải nộp vào giá bán sản
phẩm hoặc giá dịch vụ để người tiêu dùng trả nên họ phải nộp thuế đầy đủ số thuế thu hộ
này vào ngân sách nhà nước.
Thuế gián thu đảm bảo cho người tiêu dùng có thể tự do lựa chọn hàng hoá để chịu
thuế cao hay tuỳ thuộc vào túi tiền, sở thích của mình. Thuế tránh được mối quan hệ trực
tiếp giữa người tiêu dùng và người chịu thuế nên có phần dễ thu hơn thuế trực thu.Đồng thời, dễ điều chỉnh mức thuế tăng lên vì thuế gián thu thường nằm ẩn trong giá cả hàng
hoá, dịch vụ.
Về mặt quản lý, thuế GTGT và thuế doanh thu không quan tâm đến các chi phí hoạt
động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của doanh nghiệp, nên chi phí có phần thấp hơn thuế
trực thu.
Những điểm khác nhau:
- Thuế GTGT chỉ đánh vào mức giá trị tăng thêm sản phẩm ở từng khâu sản xuất
- Hạn chế được việc thất thu thuế do thuế GTGT được tập trung ngay từ đầu mà thu
thuế ở khâu sau còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước, đảm bảo động
viên số thu quan trọng và tương đối ổn định cho ngân sách Nhà nước.
- Tăng cường công tác hoạch toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá ở khâu đơn,
chứng từ. Việc tính thuế ở đầu ra được khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp kinh tế góp
phần thúc đẩy cả người mua và người bán thực hiện tốt chế độ hoá đơn, chứng từ.
- Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế phù hợp với sự vận động và phát
triển của nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác kinh tế với các nước trong
khu vực và thế giới , phù hợp với xu thế cải cách thuế ở các nước trên thế giới.
Nhược điểm:
Rõ ràng thuế GTGT có nhiều ưu điểm nổi bật hơn thuế Doanh thu. Mục đích chủ
yếu của việc áp dụng thuế GTGT là tạo thêm lợi nhuận cho các doanh nghiệp phát triển
và không nhằm mục đích tăng thêm mức động viên.
Bên cạnh những ưu điểm nổi bật so với thuế Doanh thu, thuế GTGT bước đầu áp
dụng ở nước ta không tránh khỏi những vướng mắc nhất định như:
- Thuế GTGT đòi hỏi phải có quy trình quản lý chặt chẽ, nghiêm ngặt. Trong khi
điều kiện nền kinh tế nước ta từ một điểm xuất phát thấp, nhận thức của các cơ sở kinh
doanh và người tiêu dùng về chế độ sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ còn chưa cao, do
đó chi phí cho quản lý thu thuế GTGT sẽ tốn kém hơn so với thực hiện luật thuế Doanh
thu. - Thuế GTGT có rất ít mức thuế sút cho nên người tiêu dùng có thu nhập cao hay
thấp đều phải nộp thuế giống nhau. Do đó, mức động viên qua thuế GTGT của người có
thu nhập thấp thực tế cao hơn người có thu nhập cao. Từ đó có khoảng cách giữa hai thái
cực giàu nghèo ngày càng xa hơn, ảnh hưởng đến vấn đề xã hội.
- Thuế GTGT thiếu tính linh hoạt, nềm dẻo ít mức thuế suất, phạm vi áp dụng lại
rộng, cho nên chưa thích ứng ngay với nền kinh tế nước ta bước đầu chuyển sang cơ chế
thị trường.
Tóm lại: Tuy thuế GTGT vẫn có một số nhược điểm nhưng so với thuế Doanh thu
Bản chất của thuế GTGT:
Thuế GTGT do nhà sản xuất - kinh doanh nộp hộ người tiêu dùng thông qua việc
tính gộp thuế này vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán. Do vậy, thuế GTGT là
một loại thuế gián thu.
2. Đối tượng nộp thuế và đối tượng tính thuế:
Đối tượng nộp thuế:
Theo quy định tại điều 3 Luật thuế GTGT và điều 3 Nghị định số 79/2000/NĐ-CP
ngày 29/12/2000: tất cả các tổ chức, các nhân có hoạt động sản xuất – kinh doanh hàng
hoá dịch vụ chịu thuế ( gọi chung là cở kinh doanh) và tổ chức cá nhân khác có nhập
khẩu hàng hoá chịu thuế ( gọi chung là người nhập khẩu ) đều là đối tượng nhập thuế
GTGT.
Cụ thể:
Doanh nghiệp nhà nước.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh
theo luật đầu tư nước ngoài tham gia tại Việt Nam.
2.1.3 Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty cổ phần thành lập
và hoạt động theo luật pháp Việt Nam.
Công ty nước ngoài và tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam không theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
2.1.5 Các tổ chức kinh tế của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội chính trị của đơn vị sự
nghiệp…
2.1.6 Những người kinh doanh độc lập, tự do, hộ gia đình các cá nhân hợp tác kinh
doanh… nhưng không hình thành pháp nhân kinh doanh.
Đối tượng tính thuế ( chịu thuế ):
Theo quy định tại điều 2 Luật thuế GTGT và điều 2 Nghị định số 79/2000/NĐ - CP
ngày 29/12/2000: tất cả hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất – kinh doanh và người tiêu
dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT loại trừ 26 loại hàng hoá, dịch vụ không
thuộc diện thuộc thuế GTGT
theo khung giá quy định.
* Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp, giá tính thuế GTGT là giá bán
chưa có thuế GTGT của hàng hoá xuất bán tính theo giá trả một lần không tính số tiền trả
hay không.
* Đối với hàng hoá dịch vụ dùng để trao đổi sử dụng nội bộ biếu, tặng… giá tính
thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ này được xác định theo giá tính thuế của hàng hoá,
dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh hoạt động này.
Theo nghị định số 32/1999/NĐ-CP ngày 05/05/1999 về khuyến mại, quảng cáo
thương mại, hội trợ triển lãm thương mại thì các sản phẩn hàng hoá dùng để khuyến mại,
quảng cáo không phải tính thuế GTGT.
* Đối với hàng hoá gia công, giá tính thuế là giá gia công chưa có thuế, bao gồm
tiền công, tiền nhiên liệu động lực, vật liệu phụ các chi phí khác để gia công.
* Đối với hàng hoá vận tải, bốc xếp giá tính thuế GTGT là giá cước vận tải, bốc xếp
chưa có thuế GTGT.
* Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu Việt Nam ( CIF ) cộng với
thuế phải nhập khẩu, giá nhập khẩu tại cửa làm căn cứ tính thuế GTGT được xác dịnh
theo quy định về giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu. Nếu hàng hoá nhập khẩu được miễn giảm thuế nhập khẩu thị giá tính thuế GTGT là
giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu theo mức thuế đã được miễn giảm.
Nếu dịch vụ do phía nước ngoài cung ứng cho đối tượng tiêu dùng tại Việt Nam thì
giá chưa có thuế GTGT được xác định theo hợp đồng. Nếu trong hợp đồng lại không xác
định cụ thể số thuế GTGT là giá dịch vụ mà phía Việt Nam phải trả cho người nước
ngoài.
* Đối với hàng hoá mang tính đặc thù dùng chứng từ như tem, bưu chính vé cước
vận tải, vé xổ số kiến thiết… giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT, thuế GTGTđược
tính như sau:
Giá chưa có Giá thanh toán (tiền tem, tiền bán)
trong nước khâu sản xuất kinh doanh chuyên nghiệp.
- Theo quy định của luật thuế GTGT và các văn bản pháp luật thuế có 4 mức thuế
suất như đã trình bày ở trên. Tuy nhiên tuỳ theo điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước
và nền kinh tế, các cơ quan quản lý nhà nước có thảm quyền điều chỉnh thuế cho phù hợp
với từng nghành nghề, từnh lĩnh vực sản xuất kinh doanh cụ thể để vừa bảo đảm tăng thu
cho Ngân sách, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
4. Phương pháp tính thuế GTGT:
Có hai phương pháp tính đó là: phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp
trên GTGT.
4.1 Phương pháp khấu trừ thuế.
- Đối tượng áp dụng: là các đơn vị, tố chức kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh
tế ( trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp trực tiếp trên thuế GTGT ).
Khi áp dụng phương pháp này yêu cầu phải sử dụng hoá đơn GTGT ). Khi lập hoá đơn
phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định và ghi rõ: giá bán chưa có thuế cả phụ thu và
phí ngoài giá bán nếu có, thuế GTGT, tổng gọi là thanh toán đối người mua.
Số thuế GTGT phải nộp được xác định như sau:
Số thuế GTGT Số thuế GTGT Số thuế GTGT đầu
phải nộp đầu ra vào được khấu trừ.
Thuế giá trị gia tăng đầu ra:
=
-
Công thức thuế GTGT đầu ra được xác định như sau:
Thuế GTGT Giá thuế của hàng hoá Thuế xuất, thuế GTGT của
đầu ra dịch vụ chịu thuế bán ra hàng hoá, dịch vụ nào đó
Thuế GTGT đầu vào:
Thuế GTGTđầu vào được xác định bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn
trừ trong giá trị thuế GTGT đầu ra.
4.1.2.5: Trường hợp 5:
Hàng hoá dịch vụ là loại chịu thuế GTGT, có hoá đơn GTGTmua vào để khuyến
mại, tiếp thị, quảng cáo: Không tính thuế GTGTđầu vào bằng cách tính chi phí khác theo
mức khống chế của chế độ hiện hành.
Trường hợp 6:
Hoá đơn dịch vụ là loại hàng chịu thuế GTGT, có hoá đơn GTGT mà thuế GTGT
đầu vào được khấu trừ lớn hơn thuế GTGT đầu ra thì chỉ khấu trừ thuế GTGT đầu vào
bằng thuế GTGT đầu ra tháng đó và khấu trừ liên tục trong 3 tháng sau hoăc yêu cầu cơ
quan thuế xét hoàn thuế.
4.1.2.7. Trường hợp 7:
Hàng hoá dịch vụ là loại chịu thuế GTGT không có hoá đơn GTGT.
Đối với cơ sở kinh doanh bán hàng hoá - dịch vụ: thuế GTGT đầu ra phải tính trên
giá thanh toán.
Đối với cơ sở kinh doanh mua hàng hoá - dịch vụ: không được tính thuế khấu trừ
thuế GTGTđầu vào.
Phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT:
Các cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài
kinh doanh ở Việt Nam không theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện
đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ để làm căn cứ tính theo phương pháp
khấu trừ thuế.
Số thuế GTGT phải nộp được xác định như sau:
Số thuế GTGT Thuế GTGT của hàng hoá, dịch Thuế suất thuế GTGT của
phải nộp vụ chịu thuế bán ra hàng hoá, dịch vụ tương ứng
=
-
- Địa điểm nộp thuế.
- Đơn vị tiền tệ dùng trong nộp thuế.
Kết thúc công việc nộp thuế trong mọi trường hợp cấp biên lai, chứng từ ( do bộ
phận tài chính phát hành ) cho đối tượng đã nộp thuế xác nhận đã thu thuế GTGT.
5.4 Quyết toán thuế GTGT:
- Sau kết thúc năm dương lịch, các đối tượng nộp thuế phải quyết toán thuế phải
nộp thanh toán thuế cho cơ quan cục thuế thời gian chậm nhất là 60 ngàykể từ ngày quyết
toán.
- Nơi quyết toán thuế là cơ quan thuêa địa phương nơi cơ sở đâng ký nộp thuế.
- Dựa vào quyết toán thuế, cơ sỏ có trách nhiệm nộp thuế GTGT còn thiếu vào ngân
sách nhà nước ( thời gian chậm nhất là 10 ngày kể từ ngỳ nộp báo cáo quyết toán ). Nếu
còn thừa thì được trừ vào kỳ tiếp theo hoặc được hoàn thuế nếu cơ sỏ được hoàn thuế.
- Nếu cơ sở kinh doan có sát nhập, giải thể, chia tách, phá sán… thì cơ sở đó cũng
giải quyết toán thuế với cơ quan không quá chậm nhậtư 45 ngày kể từ ngày có quyết định
sát nhập, giải thể, chia tách, phá sản.
6. Miễn giảm thuế và hoàn thuế:
6.1. Miễn giảm thuế GTGT:
Nếu các cở sản xuất, xây dựng, vận tải có hoạt động về sản xuất, xây dựng, vận tải
bị thua lỗ do nguyên nhân của thuế GTGT phải nộp vào các hoạt động lớn hơn số thuế
tính theo doanh thu trước đây, thì được xem xét giảm thuế GTGT ( nhưng chỉ thực thực
hiện trong 3 năm 1999, 2000,2001 ).
Các cở kinh doanh xin giảm thuế phải gửi hồ sơ xin giảm thuế cho cơ quan trực tiếp
quản lý cơ sở. Hồ sơ bao gồm: báo cáo quyết toán thuế, báo cáo quyết toán kết quả của
năm xin giảm thuế (nên rõ lý do, thời gian xin giảm )
Sau khi nhận được hồ sơ của cơ sở kinh doanh xin miễn giảm thuế GTGT, cơ quan
thuế phải xác định kiểm tra rõ: cơ sở có thuộc đối tượng và trường hợp giảm thuế GTGT hay không… căn cứ vào thẩm quyền quyết định, cơ quan thuế xem xét, ra quyết định
miễn giảm thuế và thông báo cho cơ sở bằng văn bản thuế được miễn giảm hoặc gửi hồ
Nếu chậm thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế mà còn phải nộp phạt 0,1%/ngày/số
tiền nộp chậm.
Khai man, trốn thuế… ngoài việc phải nộp đủ số thuế GTGT phải còn nộp phạt 1-5
lần tiền thuế gian lận hoặc bị truy tố.
Không nộp thuế, nộp phạt theo thông báo hoặc quyết định xử lý về thuế thì bị xử lý
như sau:
a) Trích tiền gửi của đối tượng nộp thuế tại ngân hàng, kho bạc, tổ chức tín dụng
để nộp thuế tại ngân hàng, kho bạc, tổ chức tín dụng để nộp thuế, nộp phạt.
Ngân hàng, kho bạc, tổ chức tín dụng có trách nhiệm trích tiền từ tài khoản tiền gửi
của đối tượng nộp thuế để nộp thuế, nộp phạt vào ngân sách nhà nước theo quyết định xử
lý về thuế của cơ quan thuế hoặc cơ quan có thẩm quyền trước khi thu nợ.
Giữ hàng hoá, tang vật để bảo đảm thu đủ số thuế, số tiền phạt.
Kê biên tài sản theo qui định của phát luật để bảo đảm thu đủ số thuế, số tiền phạt
còn thiếu.
Khiếu nại:
Đối tượng nộp thuế có quyền khiếu nại về việc cán bộ thuế, cơ quan thuế thiu
hành không đúng không đúng luật thuế GTGT đối với cơ sở. Chậm nhất là sau 30 ngày
kể tử ngày cơ quan thuế phát hành thông báo thuế, lệnh thu, hay quyết định sử lý…thì cở
sở gửi đơn khiếu nại. Thủ tục, trình tự khiếu nại hay khởi kiện phải đúng theo pháp luật
hiện hành.
Trong thời gian chờ giải quyết, đối tượng nộp thuế vẫn phải nộp đúng, đủ số tiền
thuế, tiền phạt đã được thông báo.
8. Khen thưởng:
Căn cứ vào điều 22 về quy định khen thưởng của luật thuế GTGT: Cơ quan thuế, cán bộ thuế hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tổ chức cá nhân có
thành tích trong việc thực hiện luật thuế GTGT, đối tượng nộp thuế thực hiện tốt nghĩa
vụ nộp thuế thì được khen thưởng.
Chính phủ quy định cụ thể về việc khen thưởng.