LUẬN VĂN:
Phân tích các hoạt động sản xuất
kinh doanh của Công ty dệt 8-3
Lời nói đầu
Đại hội Đảng lần thứ VIII đánh dấu 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới do
Đảng phát động và lãnh đạo, đó cũng là khoảng thời gian chúng ta thực hiện chuyển
đổi có chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo cơ chế này, mục tiêu đầu tiên là đưa nền
kinh tế nước ta đạt hiệu quả cao, phát triển nhanh vào đầu thế kỉ XXI.
Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp phải đặc biệt coi trọng vấn đề chất
lượng và hiệu quả vì mỗi doanh nghiệp được tự do kinh doanh và tự chịu trách nhiệm
trong kinh doanh. Với nguồn lực có hạn nhưng nếu có cách quản lý và sử dụng thích
Công ty dệt 8 - 3 được Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị ký quyết định thành lập
vào ngày 8 - 3 - 1960. Với tên gọi ban đầu là Nhà máy dệt 8 - 3.
- Đầu năm 1965 Nhà máy đi vào hoạt động với cơ cấu bao gồm 2 dây truyền sản xuất
chính.
+ Dây truyền sản xuất sợi bông.
+ Dây truyền sản xuất vải và bao tải đay.
Công ty thực hiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế tập trung bao cấp Nhà nước
cung cấp mọi đầu vào và bao tiêu sản phẩm.
- Cuối năm 1965, để tránh sự phá hoại bằng không quân của Đế quốc Mỹ, phân xưởng
đay của Nhà máy được di chuyển xuống Hưng Yên, lập nên nhà máy đay Tam Hưng.
- Đầu năm 1969, trên nền của phân xưởng đay cũ, Bộ Công nghiệp nhẹ đã xây dựng
một phân xưởng sợi với 18000 cọc sợi. Việc này làm tăng công suất của nhà máy lên
rất nhiều.
- Năm 1985 đánh dấu sự chuyển biến lớn trong cơ cấu tổ chức, quản lý kinh doanh của
Công ty dệt 8 - 3.
+ Về tổ chức: Công ty dệt 8 - 3 lắp đặt thêm hai dây truyền may, làm tăng công suất,
quy mô của Công ty.
+ Về quản lý kinh doanh: Công ty dệt 8 - 3 đã tự chủ hơn trong hoạt động sản xuất
kinh doanh. Công ty tự hạch toán sản xuất kinh doanh, Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần
vốn sản xuất.
- Năm 1991 tiếp tục đánh dấu nhiều thay đổi lớn của Công ty.
+ Về mặt quản lý sản xuất: Công ty dệt 8 - 3 chuyển hẳn sang hoạt động theo cơ chế
thị trường, nhà nước huỷ bỏ hoàn toàn sự bao cấp đầu vào và đầu ra cho sản phẩm.
+ Về mặt tổ chức: Công ty tiến hành sắp xếp lại doanh nghiệp, thay đổi cơ cấu tổ chức
sản xuất cụ thể là Công ty dệt có 8 xí nghiệp thành viên.
- 3 Xí nghiệp sợi (A, B, II).
- Xí nghiệp dệt.
- Công ty có một hệ thống các nhà phân phối trải rộng trong phạm vi cả nước đặc biệt
tập trung ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí
Minh Họ rất tin tưởng vào chính sách kinh doanh của Công ty.
- Công ty có nhiều loại sản phẩm dệt, may được tiêu dùng rộng rãi như: vải phin, vải
katê, vải chéo, quần áo may sẵn
- Công ty thường xuyên nhận được sự quan tâm về công nghệ, tín dụng, nguyên vật
liệu, thị trường từ phía Tổng Công ty dệt may Việt Nam của Bộ Công nghiệp.
Nhìn chung đây là những tiền đề quan trọng, những thế mạnh để Công ty thực
hiện khuếch trương sản phẩm, tạo lòng tin ở các trung gian và người tiêu dùng.
II. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty.
1. Các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chủ yếu.
Hiện nay, Công ty đang tiến hành kinh doanh trên 4 lĩnh vực chủ yếu, đó là: sợi,
dệt, nhuộm và may mặc.
a) Lĩnh vực sợi:
Trong lĩnh vực này Công ty thực hiện việc sản xuất sợi từ các nguyên liệu ban
đầu là bông và xơ. Sợi được sản xuất tại 3 xí nghiệp. Đó là xí nghiệp sợi A, xí nghiệp
sợi B và xí nghiệp sợi ý (sợi II). Hàng năm, Công ty sản xuất khoảng 4000 tấn sợi.
Phần lớn số sợi sản xuất ra được dùng để phục vụ việc dệt vải của Công ty, một phần
bán ra thị trường.
b) Lĩnh vực dệt vải:
Đây là lĩnh vực sản xuất chính của Công ty, lĩnh vực này chiếm hơn 50%
doanh thu toàn Công ty.
Các chủng loại sản phẩm dệt chính của Công ty bao gồm: phin, nỉ, katê, si,
láng, chéo, bò Mỗi chủng loại này lại có hàng trăm mẫu mã khác nhau và được cải
tiến liên tục để thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
Sản phẩm vải của Công ty chủ yếu được bán ra thị trường khách hàng công
nghiệp và khách hàng tiêu dùng, một phần nhỏ được dùng để phục vụ các xí nghiệp
- Sợi có thể là : sợi đơn, sợi đậu (chập) hay sợi xe.
b) Vải:
Phin 3925, phin 3423, pơhin 5127, chéo 5146, chéo 5449, chéo 5438, katê
7640, katê 7621
Vải có thể xuất xưởng ở dạng vải mộc hay vải thành phẩm (trắng, mầu hay hoa)
các khổ khác nhau, thành phần nguyên liệu khác nhau (100% bông, 100% PE,
PE/bông)
c) Hàng may:
Vỏ chăn, ga trải giường, vỏ gối, quần áo bảo hộ lao động, áo sơ mi nam nữ,
quần âu, quần sooc nam nữ, váy, quần áo trẻ em các loại
Các sản phẩm trên đều có thể sản xuất ở cấp độ chất lượng khác nhau để bán ở
các thị trường khác nhau (Nam hay Bắc, trong nước hay xuất khẩu, Châu Âu hay Châu
á).
III. Công nghệ sản xuất của một số hàng hoá chủ yếu.
1. Giới thiệu quy trình công nghệ sản xuất.
Chu kỳ sản xuất thường với sợi 5 - 7 ngày, dệt 10 - 20 ngày, hoàn tất 5 - 7 ngày,
may 2 - 3 ngày.
Chu kỳ sản xuất sản phẩm qua nhiều công đoạn nhất nếu tính liên tục, đơn lẻ 22
- 38 ngày. Tuy nhiên một lô hàng may thường giao hàng sau 30 - 45 ngày tính từ ngày
bắt đầu sản xuất.
Hệ thống cung cấp các điều kiện phụ trợ tập trung (điện, hơi, nước, nước lạnh,
cơ khí). Do vậy, việc phối kết hợp cho dây chuyền sản xuất trôi chảy là vấn đề lớn
trong điều hành.
Hệ thống máy móc thiết bị tạo dây chuyền khép kín gồm của Trung Quốc, Liên
Xô, Hàn Quốc, ấn Độ, Đức, Thuỵ Sĩ, Nhật, Đài Loan có thời gian chế tạo từ năm 1960
đến năm 1998. Về tu sửa thiết bị, công tác chuẩn bị vật tư phụ tùng phức tạp cần có sự
phối hợp chuẩn xác, đồng bộ.
.
Sơ đồ 3: tổng quát về dệt vải
Kéo sợi
Dệt vải
May
Hoàn
tất
Nhập
kho
Bông
xơ
cungB
ông
xơ
Chải ghép
Sợi
thô
Sợi
Dệt
vải
Sợi con dạng suốt ngang Sợi ống Sơ đồ 4: nhuộm, in hoa
Sơ đồ 5: tổng quát về may IV. Hình thức tổ chức sản xuất và kết cấu sản xuất của Công ty.
Công ty Dệt 8 - 3 với tổ chức sản xuất bao gồm các bộ phận sản xuất chính : sợi
- dệt - nhuộm và các bộ phận phụ trợ: động lực, phụ tùng may - dịch vụ.
Chức năng, chuyên môn hoá của từng bộ phận:
- Bộ phận sợi: bao gồm ba xí nghiệp sợi A, sợi B, sợi ý (sợi II) với tổng diện tích
22.000 m
2
và có 1650 công nhân có nhiệm vụ sản xuất sợi để cung cấp cho bộ phận
dệt và sợi bán.
- Bộ phận dệt: có một xí nghiệp với tổng diện tích 14.600 m
2
và có 800 công nhân có
nhiệm vụ nhận sợi từ xí nghiệp sợi và tiến hành sản xuất vải mộc để cung cấp cho xí
nghiệp nhuộm hoặc in nhuộm hoặc bán vải mộc.
- Bộ phận nhuộm: có một xí nghiệp với tổng diện tích 11.800 m
2
và có 351 công nhân
có nhiệm vụ nhận vải mộc về in hoa, nhuộm màu, tẩy trắng cung cấp cho xí nghiệp
may và bán ra ngoài.
- Xí nghiệp may: có nhiều máy móc thiết bị các loại dùng cho sản xuất ra các sản
phẩm may hoặc nhận gia công cho các đơn vị khác. Đây là khâu hoàn tất cuối cùng
của quá trình sản xuất.
hành chính quản trị giải quyết chế độ CNVC.
+ Phòng kế toán tài chính: sau khi có kế hoạch sản xuất kinh doanh được duyệt, phòng
này có trách nhiệm hạch toán thu chi, lỗ, lãi.
+ Ban đầu tư: có nhiệm vụ tính toán các dự án đầu tư xây dựng và sửa chữa nhà
xưởng.
+ Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu: tổ chức ký kết nhập khẩu hàng hoá và vật tư thiết
bị cần thiết cho công ty.
+ Phòng bảo vệ quân sự: quản lý an ninh, an toàn, bảo vệ tài sản của công ty.
Đây là cơ cấu tổ chức trực tuyến chức năng. Các xí nghiệp chịu sự tác động từ
Tổng giám đốc đồng thời có trách nhiệm báo cáo mọi tình hình sản xuất kinh doanh
lên Tổng giám đốc thông qua các phòng, ban chức năng của công ty.
Phần 2
Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty Dệt 8 - 3 I. Phân tích các hoạt động Marketing.
1. Giới thiệu về các loại hàng hoá của Công ty.
a) Đặc điểm sản phẩm.
Công ty Dệt 8 - 3 sản xuất cung ứng cho thị trường các loại sản phẩm sợi, vải,
hàng may phục vụ tiêu dùng cá nhân và cung ứng cho các đơn vị sản xuất công nghiệp
trong nước như công ty dệt Minh Khai, công ty 20, các công ty tư nhân, công ty dệt
vải công nghiệp, công ty dệt 19 - 5, là một trong những công ty lớn, sản phẩm đa dạng,
Tiêu chuẩn chất lượng của Công ty đặt ra dựa trên hệ thống tiêu chuẩn chất
lượng của ngành dệt may và những yêu cầu từ phía khách hàng.
- Tiêu chuẩn chất lượng của sợi: được đánh giá theo 10 chỉ tiêu.
+ Sai lệch chi số ∆Ne (%): sai lệch giữa chi số thực tế quy chuẩn với chi số danh nghĩa
(thiết kế).
+ Hệ số biến sai chi số CVNe (%).
+ Độ bền tương đối Po (gl/tex) tính theo cường lực kéo đứt.
+ Hệ số biến sai độ bền đứt CVP (%).
+ Độ biến thiên khối lượng Uster U (%).
+ Sai lệch độ săn ∆K (%).
+ Độ không đều săn T/K (%).
+ Kết tạp (điểm/km).
+ Điểm dày (điểm/km).
+ Điểm mỏng (điểm/km).
Mỗi chỉ tiêu được phân loại theo 5 cấp: I, II, III, IV, V. Sợi OE (3 cấp) theo
bảng tiêu chuẩn chất lượng.
Bảng 2: Tiêu chuẩn chất lượng đối với sợi Côtôn chải kỹ
Cấp
∆
Ne
(%)
CVN
e (%)
Po (gl/tex) CVp
(%)
U
(%)
5,6
14
13,5
12,8
12
11
13,5
13
12,3
11,5
10,5
13
14
15
16
17
12
12,7
13,5
14,5
15,5
2
2,5
3,5
4,5
6
3,5
4,5
5,5
(%)
Po
(gl/tex)
CVp
(%)
U
(%)
∆
K
(%)
Hk
(%)
K.tạp
(đ/km
)
Đ.dày
(đ/km)
Đ.mỏn
g
(đ/km)
1
2
3
2
2,5
3
2,6
quan. Lỗi ngoại quan chia làm 2 loại:
+ Lỗi ngoại quan cục bộ: lỗi có khuyết tật phân bố trên một diện tích hoặc chiều dài ở
giới hạn nhỏ của vải.
+ Lỗi ngoại quan liên tục: lỗi có khuyết tật trên suốt chiều dài tấm vải hoặc một phần
lớn của tấm vải
Bảng 4: Phân loại theo dạng lỗi ngoại quan
Bình quân số mét vải trên 1
điểm lỗi
Loại 1 Loại 2 Loại 3
Vải khổ hẹp
(Vải có chiều rộng <115 cm)
>=5,00 m 3,00 - 4,99 m <3,0 m
Vải khổ rộng
(Vải có chiều rộng >115 cm)
>=4,00 m 2,50 - 3,99 m <2,50 m
Căn cứ vào điểm lỗi liên tục cộng với số điểm lỗi cục bộ phát sinh trên mặt vải
để phân loại vải.
* Những lỗi vải liên tục được quy định:
- Chiều dài lỗi 10 cm - <1 m : trừ 3 điểm.
- Chiều dài lỗi 1 m - 5 m : trừ 5 điểm.
- Chiều dài lỗi >5 m : trừ 10 điểm.
* Quy định chiều dài tấm vải xuất xưởng:
- Với loại vải nhẹ (có khối lượng <=200 g/m
2
) chiều dài quy ước là >=80 m.
- Với loại vải nặng (có khối lượng >200 g/m
2
) chiều dài quy ước là >=60 m.
- Chiều dài nhỏ nhất của vải là 20 m.
thấy rõ.
Mỗi đường dày thưa, ngấn
10 cm - <1 m
1 m - <5 m
5m -1
-3
-5
-10
3. Văng biên.
Bộ phận văng mép không tốt hoặc lý
do nào đó làm cho mặt vải, biên bị cào
nát hoặc đứt sợi.
Văng biên theo chiều dọc vải
<1 cm
10 cm - <1 m
1m - <5 m
5 m
-1
-3
-5
-10
Bảng 6: Kết quả tiêu thụ các mặt hàng chủ yếu trong 2 năm 1999 - 2000.
Các mặt hàng Đơn vị tính Năm 1999 Năm 2000
Sợi toàn bộ
Vải mộc
Vải thành phẩm
Sản phẩm may
tấn
1000m
1000m
1000 cái
5719
11758
11199
404
6074
11294
13156
765
Kết quả tiêu thụ các mặt hàng chủ yếu năm 2000 đều tăng so với năm 1999.
+ Sợi tăng 355 tấn tương đương 6%.
+ Vải thành phẩm tăng 1.957.000m tương đương tăng 17,5%.
+ Sản phẩm may tăng 361 sản phẩm tương đương tăng 89%.
Kết quả này là một điều khích lệ đối với Công ty nhất là đối với các sản phẩm
may mặc.
3. Thị trường tiêu thụ hàng hóa:
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Dệt 8 - 3 khá rộng đa dạng. Giai đoạn
1965 - 1985 công ty sản xuất theo kế hoạch của Nhà nước giao sản phẩm sản xuất ra
cũng được chỉ định thị trường. Do vậy không phải lo vấn đề tiêu thụ, chất lượng cũng
95,3 4,7
92 8
Tổng 205774 255184 100 100
Số liệu tiêu thụ theo cơ cấu thị trường cho thấy doanh thu năm 2000 tăng 49,41
tỉ đồng so với năm 1999 (tăng 24%). Điều đáng lưu ý là trong năm 2000 Công ty đã
tăng nhanh được hàng xuất khẩu (tăng gấp đôi), đồng thời tăng tỉ lệ % hàng xuất khẩu
trong tổng doanh thu, tạo đà cho việc hướng tới thị trường nước ngoài trong những
năm tới.
3.1. Thị trường nội địa.
3.1.1. Khách hàng phía Bắc.
a) Đại lý:
Hải Phòng, Thanh Hoá, Hà Nội (cả chợ Đồng Xuân), Đà Nẵng, Vinh.
b) Nhà sản xuất công nghiệp phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa:
- Công ty dệt vải công nghiệp.
- Dệt Minh Khai.
- Dệt 19/5.
- Các công ty ở Thái Bình (như: dệt Bình Minh), Nam Định, Hải Phòng.
c) Các công ty may xuất khẩu:
- Các đại diện của nước ngoài có hệ thống gia công ở Việt Nam.
VD: Jurg Min, Woo Bo, Gun Yong
- Các công ty trong nước: May Đức Giang, May Thăng Long, Haprosimex, May xuất
Hiện nay, công ty đang sử dụng nhiều dạng kênh khác nhau để phân phối hàng
hóa. Mỗi dạng kênh được thiết kế phù hợp với từng chủng loại sản phẩm: sợi, vải, đồ
may mặc.
+ Kênh phân phối các sản phẩm sợi.
Sơ đồ 7
+ Kênh phân phối các sản phẩm dệt.
Sơ đồ 8
+ Kênh phân phối các sản phẩm may mặc.
Sơ đồ 10
dùng
Công
ty
dệt
8-3
Đ
ại lý
N. bán
buôn
N. bán
l
ẻ
KH quốc
tế
Nhìn chung do đã tạo được các mối quan hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng đặc
biệt là các đại lý và các công ty may mặc nên việc quản lý tiêu thụ của Công ty khá
đơn giản. Tình trạng này một phần là do các chính sách xúc tiến bán còn đơn giản, ít
được thực hiện và việc phân phối trực tiếp chỉ được thực hiện rất hạn chế, trong phạm vi
cửa hàng giới thiệu sản phẩm của công ty và tại các hội chợ.
Bảng 9: Số liệu tiêu thụ sản phẩm sợi năm 2000 theo kênh phân phối.
Khách hàng Doanh thu (1000 đồng) Sản lượng tiêu thụ (tấn)
- Miền Bắc
- KH trong nước
+ Người tiêu dùng
+ Đại lý
+ Người bán buôn
- KH quốc tế
+ Đài Loan
4034610
121038,3
2017305
1896266,7
16138440
7262298
153000
4590
76500
71910
612000
275400
+ Châu Âu
+ Các nước khác
6455376
2420766
244800
91800
Tổng 20173050 765000
Marketing và bán hàng.
c) Hoạt động tuyên truyền quan hệ.
Hoạt động này của Công ty được thực hiện qua các bài báo, các bài diễn văn
nói về truyền thống lịch sử, uy tín, quy mô và năng lực của Công ty. Công ty chưa có
được mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức có ảnh hưởng đến thái độ, quan điểm của
công chúng như hiệp hội người tiêu dùng hay các cơ quan bảo vệ môi trường.
7. Một số thông tin về đối thủ cạnh tranh của Công ty.
7.1. Các đối thủ cạnh tranh chủ yếu trên thị trường.
a) Các sản phẩm nhập ngoại.
Mặc dù các sản phảm nhập ngoại có chi phí vận chuyển và thuế nhập khẩu cao
nhưng những sản phẩm này vẫn là đối thủ cạnh tranh lớn với các công ty trong nước.
Điều này xuất phát từ hai nhân tố.
Thứ nhất, các sản phẩm nhập ngoại được sản xuất ở những nước có công nghệ
hiện đại, năng suất lao động cao và đội ngũ thiết kế hùng hậu nên sản phẩm thường có
chất lượng cao, mẫu mã đa dạng và luôn đổi mới.
Thứ hai là, có một lượng lớn hàng hoá được nhập lậu, các hàng hoá nạy trốn
được nhiều loại thuế nên giá rất rẻ. Thêm vào đó hầu hết các nước xuất khẩu đều có
chính sách hỗ trợ giá xuất khẩu, nhất là Trung Quốc. Nên những sản phẩm dệt may
này có lợi thế rất lớn về giá cả.
b) Các công ty có vốn đầu tư nước ngoài.
Hiện nay các hãng sản xuất đồ may mặc nổi tiếng thế giới đều đã có mặt tại
Việt Nam như: Adidas, Nike, Kavinclein, Puma, Goldenwish, Các hãng này có ưu
thế vượt trội về công nghệ, thiết bị, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới.
Chiến lược của các công ty này là tập trung vào các sản phẩm cao, giá cao, chủ
yếu phân phối tại các thành phố, các khu du lịch, khách hàng mục tiêu là người có thu
nhập cao.
Các công ty này đều thực hiện mạnh mẽ việc phân phối trực tiếp đến người tiêu
may đo. Vì vậy các cơ sở may tư nhân chiếm một thị phần không nhỏ trong toàn bộ thị
trường dệt may Việt Nam. Các cơ sở sản xuất này cũng có thể được chia làm hai loại:
* Loại thứ nhất: có quy mô tương đối lớn, có uy tín lâu năm, tập trung ở các đô
thị. Một lượng nhỏ trong số các nhà may này phát triển thành các nhà mốt, trung tâm
thời trang. Những nhà may này tập trung thu hút và phục vụ những khách hàng là
người có thu nhập cao, những người nổi tiếng.
* Loại thứ hai: các nhà may nhỏ ở cả khu vực thành thị và nông thôn. Ưu thế
của những cơ sở này là giá rẻ, thoả mãn được nhu cầu có những bộ trang phục giá rẻ
với chất lượng vải khá cao của người tiêu dùng.
7.2. Cạnh tranh.