LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội càng phát trển thì hoạt động sản xuất, kinh doanh càng giữ vai trò
quan trọng, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Công tác nghiên
cứu, phân tích và đánh giá các mặt của hoạt động sản xuất và kinh doanh vì thế
mà ngày càng được quan tâm trong các doanh nghiệp sản xuất. Thông qua phân
tích các hoạt động kinh doanh một cách toàn diện sẽ giúp cho Công ty đánh giá
đầy đủ và sâu sắc các hoạt động kinh tế của mình, tìm ra các mặt mạnh và mặt
yếu trong công tác quản lý của Công ty. Mặt khác qua phân tích kinh doanh sẽ
giúp cho các Công ty tìm ra các biện pháp tăng cường các hoạt động kinh tế và
quản lý Công ty nhằm huy động mọi khả năng tiềm tàng về tiền vốn, lao động,
đất đai... của Công ty vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Được sự hướng dẫn của giáo viên Lê Kim Anh và sự giúp đỡ của Ban
giám đốc và các phòng ban trong Công ty dệt may Hà Nội em đã cố gắng hoàn
thành báo cáo thực tập tổng hợp của mình. Qua Báo cáo này, em đã có được cái
nhìn tổng quan về các mặt của quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty. Điều
này giúp em có định hướng đúng đắn trong việc lựa chọn “Chuyên đề thực tập
tốt nghiệp” của mình. Song, do thời gian thực tập còn hạn chế nên em chưa thể
đi sâu vào phân tích từng vấn đề cụ thể của Công ty. Đồng thời, không thể tránh
khỏi những sai sót trong bài báo cáo của mình, em rất mong nhận được sự đóng
góp của Thầy Cô.
TRẦN NGỌC THANH
PHẦN I :
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY:
1.Giới thiệu chung về công ty:
Công ty dệt may Hà Nội, tên gọi trước đây là nhà máy sợi Hà Nội, xí
nghiệp liên hơp sợi dệt kim Hà Nội, là một Doanh nghiệp lớn thuộc ngành
công nghiệp nhẹ Việt Nam. Công ty được trang bị những thiết bị hiện đại
của Italia, CHLB Đức, Bỉ, Hàn Quốc, Nhật Bản.
-Tháng 10/1994 ,bộ công nghiệp nhẹ quyết định sáp nhập nhà máy sợi
Vinh (tỉnh Nghệ An ) vào xí nghiệp liên hợp.
-Tháng 1/1995 , khởi công xây dựng nhà máy thêu Đông Mỹ .
-Tháng 3/1995 , bộ công nghiệp nhẹ quyết định sáp nhập Công ty dệt
Hà Đông vào xí nghiệp liên hợp.
-Năm 2000, Công Ty đổi tên thành Công Ty Dệt May Hà Nội.
Cho đến nay , Công Ty Dệt May Hà Nội bao gồm các thành viên :
+ Tại quận Hai Bà Trưng – Hà Nội :
Nhà máy Sợi, nhà máy Dệt Nhuộm , nhà máy May,nhà máy Cơ Điện
+ Tại huyện Thanh Trì -Hà Nội :
Nhà máy May Đông Mỹ .
+ Tại thị xã Hà Đông- Hà Tây :
Nhà máy Dệt Hà Đông .
+ Tại thành phố Vinh-Nghệ An:
Nhà máy Sợi Vinh .
+ Cửa hàng thương mại dịch vụ : các đơn vị dịch vụ khác .
II. CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA CÔNG TY :
1, Chức năng :
Chức năng chính của công ty là sản xuất các loại sợi với các tỷ lệ pha trộn
khác nhau , sản phẩm may mặc dệt kim các loại , các loại vải Denim và sản
phẩm của nó nhằm đáp ứng nhu câu trong nước và xuất khẩu.
2, Nhiệm vụ :
- Xây dựng và tổ chức thực hiện về sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu,
gia công các mặt hàng sợi dệt, may cũng như dịch vụ theo đăng ký kinh
doanh và thành lập theo mục đích của công ty .
- Xây dựng các phương án sản xuất kinh doanh và dịch vụ phát triển kế
hoạch và mục tiêu chiến lược của Công ty .
- Tổ chức nghiên cứu , nâng cao năng suất lao động, áp dụng các tiến bộ
kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ phù hợp với thị
hiếu và nhu cầu đặt hàng của khách hàng.
máy
Sợi 1
Nhà
máy
Sợi 2
Nhà
máy
May
Nhà
máy
Dệt
nhuộm
Nhà
máy
May
Thêu
Đông
Nhà
máy
Dệt Hà
Đông
Nhà
máy
Sợi
Vinh
Nhà
máy
Cơ
khí
Nhà
sau:
Xí nghiệp dịch
vụ xây dựng
Nhà máy
động lực
Nhà máy
Cơ khí
Nhà máy
sợi Vinh
Nhà máy dệt
Hà Đông
Nhà máy
may thêu ĐM
Nhà máy dệt
nhuộm
Nhà máy may
Nhà máy Sợi 2
Nhà máy Sợi 1
Y tế
nhà trẻ
Cửa hàng
TM
Phòng bảo
vệ quân sự
Văn phòng
Tổng GĐ
Phòng điều
hành sx
Phòng KCS
Phòng xuất
các hoạt động của Công ty, có nhiệm vụ quản lý các loại vốn và quỹ của Công
ty, tạo nguồn vốn cho sản xuất, thực hiện công tác tín dụng, tính và trả lương cho
cán bộ công nhân viên. Thực hiện thanh toán với khách hàng và thực hiện nghĩa
vụ đối với nhà nước. Thực hiện đầy dủ chế độ báo cáo tài chính theo luật kế toán
thống kê.
Phòng Xuất nhập khẩu: Đảm đương toàn bộ công tác xuất nhập khẩu của
Công ty. Giao dịch làm việc với nước ngoài, ký kết các hợp đồng xuất nhập
khẩu về tiêu thụ sản phẩm và vật tư.
Phòng Kỹ thuật đầu tư: Lập các dự án đầu tư, duyệt các thiết kế mẫu của
khách hàng, duyệt phiếu công nghệ may, đồng thời có nhiệm vụ xấy dựng các
định mức quản lý toàn bộ các định mức kinh tế- kỹ thuật, các chỉ tiêu kỹ thuật
của toàn bộ Công ty.
Trung tâm thí nghiệm- kiểm tra chất lượng sản phẩm: Có nhiệm vụ kiểm
tra chất lượng các nguyên liệu đầu vào, các sản phẩm trong quá trình sản xuất,
sản phẩm xuất kho trước khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng, đảm bảo uy tín
cho Công ty khi tham gia vào các thị trường.
Phòng bảo vệ quân sự: quản lý sự ra vào của cán bộ trong Công ty, giữ gìn
an ninh, trật tự, nội quy mà Công ty đề ra, bảo vệ các tài sản của Công ty.
Phòng thị trường: Có nhiệm vụ làm công tác xây dung chính sách
Marketing-Mix, khảo sát thị trường, mở rộng thị trường tiêu thụ, quản lý quá
trình tiêu thụ sản phẩm của Công ty
2. Đặc điểm về công nghệ và máy móc thiết bị.
2.1. Những đặc điểm về máy móc thiết bị.
Biểu 1. Tình hình máy móc thiết bị của Công ty Dệt-May Hà Nội.
Thiết bị
Công suất
lý thuyết
( kg/ca)
Công suất
sử dụng
bị của ngành Dệt May nước ta tương đối lạc hậu, tiếp nhận các loại máy móc
thiết bị cũ của Tây Đức và một số nước Đông Âu. Sản phẩm làm ra chỉ đáp
ứng được thị trường trong nước. Nhưng trong những năm gần đây ngành Dệt
May của chúng ta đã đầu tư tương đối lớn để thay thế máy móc thiết bị, đào
tạo công nhân lành nghề để đáp ứng các yêu cầu của máy móc thiết bị. Sản
phẩm làm ra đã đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong nước và đã xuất
khẩu ra nước ngoài. Công ty Dệt- May Hà Nội là một trong những Công ty
thuộc Tổng Công ty Dệt May Việt Nam. Được thành lập từ những năm 80,
máy móc thiết bị của Công ty chủ yếu nhập từ Tây Đức, Thuỵ Sỹ, các nước
Đông Âu, máy móc thiết bị lạc hậu cũ nhưng nó là một bộ phận quan trọng
trong sản xuất của nhà máy, nó ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và năng
suất lao động. Về mặt giá trị nó chiếm đến 65-70% vốn cố định của Công ty.
Nhưng Công ty vẫn cố gắng đi vào hoạt động với tình trạng máy móc thiết bị
đó. Cuối những năm 90, với sự giao lưu quốc tế được mở rộng Công ty đầu tư
khá nhiều máy móc thiết bị hiện đại, đã chiếm đến khoảng 75 % vốn cố định
của Công ty. Công suất của máy móc thiết bị được sử dụng với hiệu suất khá
cao(khoảng 74,44%), có máy móc sử dụng với hiệu suất cao 90%, 91%, 93%,
94%. Vấn đề sử dụng máy móc thiết bị có hiệu quả luôn luôn được Công ty
chú trọng quan tâm giải quyết . Chủng loại máy móc thiết bị ở Công ty là rất
lớn, tại mỗi nhà máy vấn đề sử dụng khác nhau tuỳ thuộc vào kế hoạch sản
xuất đề huy động. Nhưng trên thực tế ta thấy tất cả máy móc thiết bị dùng
trong sản xuất đều chưa sử dụng hết công suất. Đối với mỗi loại khác nhau thì
vấn đề sử dụng thiết bị cũng khác nhau nhưng trong dây chuyền sản xuất yêu
cầu năng lực sản xuất phải cân đối giữa các công đoạn.
Ngoài các thiết bị máy móc dùng cho sản xuất sợi thì Công ty còn có một
số dây chuyền sản xuất khác:
- Dây chuyền sản xuất vải Dệt kim ( 3 ca ) với năng suất 1800 tấn/ năm.
- 3 dây chuyền May Dệt kim (1 ca) với năng suất 6.000.000 SP/ năm.
- Có một dây chuyền sản xuất khăn bông các loại ( 200 ) 600 tấn/ năm.
còn có các thiết bị phù trợ để phục vụ cho dây chuyền sản xuất nằm trong xí
bóng
Máy
trải
thô
Máy
ghép
Máy
thô
Máy
con
Máy
ống
Máy
chải
kỹ
Máy
cuộn
cúc
Máy
chải
thô
Máy
ghép
sơ
bộ
Máy
bóng
Máy
Sơ đồ 11. Đối với vải P/C (vải pha gồm Peco- sợi cotton).
Vải mộc Vải thành
phẩm
Máy
xử lý
trong
pha
chế
Máy
ống
Máy
chải
thô
Máy
ghép
Máy
cợi
con
không
cọc
Máy
ống
Máy
dệt
kim
Xử lý
hoàn
tất
Cắt
ÁY
V
ẮT
M
ÁY
T
Ở
V
ẢI
M
ÁY
X
Ẻ
K
HỔ
M
ÁY
V
ĂNG
Nguồn: Phòng kỹ thuật đầu tư.
Công ty Dệt-May Hà Nội là một tổ hợp sản xuất kinh doanh bao gồm các
Nhà máy và các đơn vị thành viên có quan hệ mật thiết với nhau về công việc, tổ
chức sản xuất, sử dụng nguyên vật liệu và các hoạt động dịch vụ để sản xuất ra
các sản phẩm Dệt kim, sợi, khăn, lều vải đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, phục
vụ tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu.
Do đặc điểm của Công ty nên các quy trình công nghệ rất phức tạp. Trong
quá trình sản xuất, các phân xưởng có liên quan chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng
lẫn nhau. Vì vậy quy trình công nghệ nào bị gián đoạn không đảm bảo được kế
hoạch sản lượng hoặc chất lượng kết quả sản xuất của công đoạn sau. Quy trình
công nghệ sau và cuối cùng có ảnh hưởng tới kết quả sản xuất tiêu thụ của Công
được thực hiện khá tốt.
Công ty luôn tìm các biện pháp để tiết kiệm nguyên vật liệu. Một trong
những biện pháp đó là tận dụng bông xơ phế, bị rơi ra trong các giai đoạn sản
xuất của dây chuyền sản xuất sợi. Công ty đã tận dụng những bông xơ rơi này để
làm nguyên liệu cho dây chuyền OE tận dụng bông phế, sản xuất các loại sợi dệt
mành, vải bò, vải lót lốp xe...
Đối với công tác định mức tiêu hao vật tư, Công ty luôn có một bộ phận
theo dõi thực hiện các mức này và tiến hành hoàn thiện chúng. Phương pháp xây
dựng định mức tiêu hao vật tư của Công ty được tiến hành như sau:
+ Sản xuất thử.
+ Dựa theo các tài liệu về định mức tiêu hao vật tư của Liên Xô (cũ) và
của ngành dệt nói chung, các cán bộ định mức tiến hành khảo sát các công đoạn
sản xuất trong từng dây chuyền để xác định mức tiêu hao lý thuyết.
+ Xác định ở công đoạn nào trong dây chuyền thì lượng vật tư tiêu hao sẽ
là lớn nhất. Đối với các dây chuyền sản xuất sợi (xem phần giới thiệu về dây
chuyền công nghệ), lượng tiêu hao vật tư lớn nhất ở các máy xé bông, máy chải,
máy chải kỹ (dây chuyền chải kỹ).
+ Xây dựng định mức tiêu hao vật tư cho từng công đoạn, đặc biệt quan
tâm đối với những công đoạn đã nói ở phần trên.
+ Từ thực tế sản xuất hàng tháng, quí, năm, theo phương pháp thống kê
kinh nghiệm để xây dựng định mức tiêu hao thực tế.
+ Tiến hành theo dõi, kiểm tra, tính toán lại định mức cho những công
đoạn chủ yếu nhất một cách thường xuyên theo tháng, quí, năm.
Ngoài ra, Công ty còn sử dụng một số hoá chất, thuốc nhuộm, nguyên
liệu dầu đốt, năng lượng điện, giấy, nhựa, túi nilon... và phụ tùng chi tiết máy
như vòng bi, dây đai... các nguyên vật liệu này chủ yếu mua từ thị trường trong
nước, nhưng riêng hoá chất dùng để nhuộm, thuốc nhuộm nhập từ Đài Loan,
Hàn Quốc.
3.2. Đặc điểm về sản phẩm
Biểu 3: Sản lượng tiêu thụ các mặt hàng của công ty Dệt May Hà Nội
tốt công tác Marketing trong quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Mặt hàng Lều vải du lịch: Mới được đưa vào sản xuất nhưng đã được thị
trường EU chấp nhận. Ngoài ra còn có mặt hàng lều bạt phủ điều hoà, xe đạp
cũng có mức doanh thu cao tuy nhiên không đem lại hiệu quả cao do phải thuê
ra công ngoài.
PHẦN II:
PHÂN TÍCH HOẠT ĐÔNG SẢNN XUẤT KINH DOANH
CỦA CÔNG TY DÊT MAY HÀ NỘI(HANOSI MEX)
I. PHÂN TÍCH LAO ĐỘNG VÀ TIỀN LƯƠNG CỦA CÔNG TY.
1. Đặc điểm lao động
Để cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình
thường thì doanh nghiệp phải đầy đủ 3 yếu tố: lao động, công cụ và đối tượng
lao động. Lao động là 1 trong 3 yếu tố chủ yếu của quá trình sản xuất. Nếu thiếu
1 trong 3 yếu tố này thì quá trình sản xuất sẽ không được tiếp tục.
Lực lượng lao động của công ty rất đông đảo, bao gồm nhiều loại lao
động khác nhau, trình độ tay nghề khác nhau. Vì vậy để tính được quỹ lương ta
phải phân biệt số lao động hiện có, chất lượng lao động định mức lao động.
Biểu4. Cơ cấu lao đông củacông ty
Năm Năm 2002 Năm 2001 Năm 2002
Chỉ tiêu Số lượng % Số lượng % Số lượng %
I. Tổng số lao động 4922 100 4753 100 4756 100
II. Phân theo T/c lđộng
1. Lao động trực tiếp 4479 91,00 4289 90,24 4376 90,20
2. Lao động gián tiếp 443 9,00 464 9,76 380 9,80
III. Phân theo trình độ
1. Đại học và CĐ 650 13,20 352 7,40 369 7,76
2. Trung cấp 197 4 112 2,36 167 251
3. Công nhân sx 4075 82,80 4298 90,24 4220 88,73
IV. Theo giới tính
1. Lao động nữ 3634 73,83 3496 73,53 3473 73,02
Công ty trả lương cho người lao động theo 2 hình thức
- Lương thời gian: Được áp dụng đối với công việc không thể xây dựng
định ứmc lao động như cán bộ công nhân viên gián tiếp sản xuất. Mức lương
tính được theo bảng chấm công của từng cá nhân.
- Lương sản phẩm: áp dụng đối với công nhân trực tiếp sản xuất ra sản
phẩm và có thể định mức lao động: mức lương được tính theo phiếu sản phẩm
lương cá nhân. Mỗi cá nhân đều có 1 phiếu sản lượng riêng để theo dõi số lượng
và chất lượng sản phẩm của mình làm ra. Sau đó các phiếu này được tập trung
theo phân xưởng. Hoặc mức lương được tính bằng cách tiến hành phân loại cho
điểm sau đó hàng tháng công nhân trong tổ bình công chấm điểm (hình thức trả
lương sản phẩm tập thể). Đối với công nhân đứng máy, sửa chữa theo ca phục
vụ khác việc bình công cho điểm hàng ngày căn cứ vào tinh thần trách nhiệm,
mức độ hoàn thành khối lượng và chất lượng công việc được giao trong này.
+Lương thời gian:
Lương tháng = N x lương ngày + Các khoản phụ cấp
(N: số ngày công trong tháng)
+ Lương sản phẩm:
Lương tháng =∑Q/ ∑F + tiền phụ cấp một công nhân.
∑Q: Tổng quỹ tiền lương của tổ trong tháng.
∑F: Tổng số công nhân trong tổ
*. Phân phối tiền lương: Căn cứ vào nguồn lương của công ty theo kết quả
và hiệu quả sản xuất kinh doanh trong năm. Sau khi trừ đi 3 chi phí hàng tháng,
công ty sẽ cân đối và xác định mức thưởng năm cho từng đơn vị theo khu vực
sản xuất và phân phối tiền thưởng theo mức lương cấc bậc và những thành tích.
II.PHÂN TÍCH CÔNG TÁC QUẢN TRỊ KỸ THUẬT TRONG CÔNG
TY DỆT MAY HÀ NỘI (HANOSIMEX).
1. Quản trị chất lượng
Để đánh giá kết quả thực hiện chỉ tiêu chất lượng công ty dùng chỉ tiêu
phẩm cấp bình quân để đánh giá.
Công thức xác định mức phẩm cấp bình quân có dạng:
Sản phẩm sợi với chất lượng cao (sản phẩm cấi I đạt trung bình 98% qua
các năm) cho thấy việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về mặt hàng sợi để sản
xuất hàng dệt kim là hoàn toàn có thể. Chứng tỏ Công ty luôn giữ vững chất
lượng cho khách hàng.
* Chất lượng sản phẩm vải dệt kim
Biểu 6: Chất lượng vải dệt kim năm 2002 của Công ty
Số
TT
Loại vải T/số
cuộn
Phẩm cấp
Lần 1 % Lần 2 % Lần 3 %
1 Vải Lacost 22.519 20.569 91,34 1.867 8,2 83 0,37
2 Vải Rid 8.335 7.148 85,76 1.150 13,80 37 0,44
3 Vải Single 19.637 16.033 81,65 3.450 17,57 154 0,78
4 Vải Interlock 15.778 14.896 94,41 866 5,49 16 0,10
5 Phẩm cấp chung 66.269 58.646 85,5
0
7.333 11,07 290 0,43
2. Quản lý nguyên vật liệu
Hiện nay, nguyên vật liệu sản xuất chủ yếu là các loại bông cotton và xơ
Pe chúng chiếm tỷ lệ khá cao trong giá thành sản phẩm (65 - 70%) cho nên vấn
đề tiết kiệm và định mức tiêu hao bông xơ là rất cần thiết.
Công ty đã sử dụng phương pháp kinh nghiệm và phương pháp khảo sát
thực tế để xây dựng định mức tiêu hao vật tư theo các bước sau:
- Khảo sát từng công đoạn: Bông, chải, ghép, thô, sợi con v.v…
- Từ số liệu khảo sát kết hợp với các kết quả sản xuất kỳ trước và người
làm công tác sẽ tạm giao định mức 1 tháng 1 lần, phân tích nguyên nhân tăng
giảm so với định mức tạm được giao.
- Xem xét lại định mức để rút kinh nghiệm và tìm biện pháp sửa chữa
bông phế để sản xuất sợi đồng thời đủ sử dụng lại tới mức có thể lượng bông
hồi, bông xơ mua về đã được kiểm tra chất lượng và bảo quản tốt, xơ PE chạy
trên máy chải bị vón két, tỷ lệ bông tiêu hao trên máy bông chải được giảm đến
mức cho phép.
Tại nhà mày sợi II do tỷ lệ bông rối trên máy cao nên tỷ lệ dùng bông tăng
so với định mức. Bông sản xuất sợi OE tăng do F1 xấu, xử lý qua máy phân lý
và Rolando tiêu hao cao. Quí I kiểm kê bán chế phẩm không chính xác, giữa
bông và xơ lẫn sang nhau, vì vậy đủ chích trả lại 7 tấn xơ PE sang bông.
Tại nhà máy Vinh: điện tăng nhiều do một máy lạnh hỏng sản xuất mặt
hàng PE và sợi từ bông phế mới, dây chuyền biến động, năng suất thấp.
Sau khi đã có sợi thành phẩm, một phần sẽ trở lại thành sợi thành phẩm
để bán cho khách hàng, còn phần khác sẽ trở thành bán thành phẩm để đưa sang
nhà máy dệt nhuộm tiếp tục sản xuất tạo ra vải sản phẩm.
Quá trình này việc thực hiện định mức tiêu hao sợi - vải cũng được quan
tâm chú trọng. Công việc này giúp cho công ty sử dụng lượng sợi (để dệt) lượng
vải để nhuộm lớn nhất cho phép sản xuất ra một đơn vị sản phẩm (1kg vải mộc
hoặc 1kg vải thành phẩm) trong điều kiện tổ chức và kỹ thuật định mức.
Qua biểu 7 ta thấy công ty thực hiện tốt định mức cả về nguyên liệu sợi
lẫn nguyên liệu vải. Quá trình dệt tẩy, nhuộm ở khâu dệt tình trạng số lượng sợi
PE ngang, sợi PE dọc vượt định mức của những năm trước đã khắc phục sự
thiếu hụt khổ vải và thừa sợ ra ở 2 mép biên vải giảm đến mức cho phép. Trong
công đoạn dệt vải kẻ mầu số lượng nguyên liệu sử dụng thấp hơn rất nhiều so
với định mức lý do là dệt sợi mầu tồn kho nên số lượng sợi không chính xác so
với vải dệt ra cho nên chênh lệch nhiều (-5674,58kg) trong khâu tẩy nhuộm tỷ lệ
vải vụn giảm, chất lượng vải đã được nâng lên, lượng vải phế phẩm ở mức thấp.
Tóm lại việc xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu đã được nâng
lên giúp công ty tính toán chính xác được nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất
từ đó có thể đưa ra được khối lượng nguyên vật liệu cần nhập để phục vụ cho
quá trình sản xuất kinh doanh. Định mức nguyên vật liệu cũng đồng nghĩa với
tiết kiệm nguyên vật liệu điều này sẽ giảm chi phí kinh doanh làm tăng lợi
chiếc có nghĩa là 151 chiếc không được đưa vào sử dụng (1728-1577). Trong đó
có 75 chiếc được lắp (168-1577). Nguyên nhân làm cho lượng máy móc tồn
đọng là vì lạc hậu và hết thời gian khấu hao nên công ty có dự tính thanh lý và
chuyển thành công cụ nhỏ; một số máy móc mới công ty mua về nhưng chưa có
dự tính lắp đặt còn về phần thực hiện lượng máy móc hoạt động chỉ đạt 94,67%
so với kế hoạch nghĩa là giảm lượng khá lớn. Tuy nhiên khi xét về số tương đối
(liên hệ với quá trình sản xuất) thì thấy rằng công ty hoàn thành vượt mức chỉ
tiêu giá trị tổng sản lượng có được kết quả như vậy phải nói đến sự cố gắng
trong công tác quản lý và chất lượng lao động của toàn công ty.
Để đánh giá được tình hình, sử dụng thời gian làm việc của thiết bị công
ty đã sử dụng các phương pháp tính sau:
Hệ số sử dụng thiết bị theo chế độ =
Hệ số sử dụng thời gian làm việc thực tế của thiết bị =
Qua sự phân tích ở bảng trên ta thấy số ngày làm việc thực tế của thiết bị
giảm so với chế độ là 9 ngày nguyên nhân là do quá trình sản xuất phát sinh ra
trường hợp ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan: mất
điện, thiên tai, sửa chữa lớn định kỳ… như vậy thực tế 296 ngày làm việc cũng
là sự cố gắng lớn của công ty.
Tuy nhiên, hệ số sử dụng thời gian làm việc thực tế cho 0,2 (giờ/ngày)
máy chạy không tải, đây là tổn thất lớn của công ty.
Ví dụ: Nếu 68 máy tạo ra 400246 tr.đồng thì 1 máy tạo ra 413,47 tr.đồng
hay 1,39 tr.đồng/ngày (413,47 tr.đồng/296 ngày) vậy 0,2 giờ/ngày lãng phí là
công ty tổn thất 1 lượng giá trị (1,39/76) x 0,2 = 36.579 đồng/ngày/máy.
Như vậy công ty cần phải tìm nguyên nhân gây tổn thất trên nguyên nhân
chủ yếu do sự lãng phí thời gian của công nhân, máy móc thiết bị hỏng đột
ngột…
III.PHÂN TÍCH CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH CỦA CÔNG TY
1. Phân hoạt chi phí của doanh nghiệp.
Do chi phí sản xuất kinh doanh có nhiều loại nên cần thiết phải phân loại
chi phí nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán chi phí. Phân loại