LUẬN VĂN:
Một số biện pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn tại Công ty Xây
dựng cấp thoát nước
Lời nói đầu
Trải qua hơn mười năm đổi mới, đất nước Việt Nam đã có những bước chuyển
mình khởi sắc. Đặc biệt là việc chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế hàng hoá thị trường với nhiều thành phần kinh tế dưới sự điều tiết vĩ mô của
nhà nước theo định hướng XHCN. Trước kia, Nhà nước phải lo tiền vốn đến khâu tiêu thụ
Chương 1
Vốn và hiệu quả sử dụng vốn
1.vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.Khái niệm về vốn kinh doanh
Tiền tệ ra đời là một trong những phát minh vĩ đại của loài người và điều đó đã làm
thay đổi bộ mặt của nền kinh tế-xã hội. Mọi sự vận động của sản xuất và tiêu dùng đều có
liên quan mật thiết với sự vận động của tiền tệ và có sự tác động qua lại. Đồng tiền trở
thành thước đo chung của tất cả các hoạt động trong nền kinh tế. Khái niệm vốn xuất hiện
và vai trò của vốn trong nền kinh tế nói chung, đối với doanh nghiệp nói riêng ngày càng
trỏ nên quan trọng.
Từ trước đến nay có rất nhiều quan niệm về vốn:
Theo các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận vốn dưới góc độ hiện vật. Họ cho rằng
vốn là những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh. Đây là cách hiểu phù hợp
với trình độ quản lý còn sơ khai. Nó rất đơn giản dễ hiểu nhưng chưa đầy đủ, chưa phản
ánh đến mặt tài chính của vốn.
Theo một số nhà tài chính thì vốn là tổng số tổng tiền do những người có cổ phần
trong Công ty đóng góp và họ nhận được phần thu nhập chia cho các chứng khoán của
Công ty. Quan điểm này có ưu điểm là đã đề cập đến mặt tài chính của vốn. Khuyến khích
các nhà đầu tư tăng cường đầu tư, mỡ rộng và phát triển sản xuất song nó còn hạn chế là
không nói rõ nội dung và trạng thái của vốn trong quá trình sử dụng vốn trong doanh
nghiệp.
Một số nhà kinh tế học khác cho rằng: vốn có ý nghĩa là phần lượng sản phẩm tạm
thời phải hy sinh tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tư, để đẩy mạnh sản xuất tăng tiêu dùng
trong tương lai. Quan điểm này chủ yếu phản ánh động cơ về đầu tư nhiều hơn là về
nguồn gốc và biểu hiện của vốn, do vật quan điểm này củng không đáp ứng được yêu cầu
nghiệp một cách có hiệu quả.
-Phải chỉ ra được mối quan hệ mật thiết giữa vốn với các nhân tố khác của quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp(đất đai, lao động), điều này đòi hỏi
các nhà quản lý phải xem xét đến quá trình sử dụng vốn như thế nào cho có hiệu qủa.
-Phải thể hiện mục đích quản lý sử dụng vốn đó là tìm kiếm các lợi ích kinh tế, lợi
ích xã hội mà vốn đem lại. Vấn đề này sẽ định hướng cho quá trình quản lý kinh tế nói
chung, quản lý vốn của doanh nghiệp nói riêng.
Từ bốn vấn đề trên, nói tóm lại vốn được hiểu là: Vôn là một phần thu nhập quốc
dân dưới dạng tài sản vật chất và tài sản tài chính được các cá nhân, các tổ chức, các
doanh nghiệp bỏ tiền ra tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích.
1.2.Đặc trưng của vốn
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp cần phải có tư liệu lao
động, đối tượng lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết
hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm lao vụ, dịch vụ. Để tạo ra các yếu tố phục vụ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định
ban đầu, có tiền vốn doanh nghiệp mới tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng
như trả tiền lương cho người lao động. Sau khi tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp dành một
phần doanh thu thu được để bù đắp lại giá trị tài sản cố định (TSCĐ) đã bị hao mòn, chi
phí vật tư đã bị tiêu hao và một phần để tạo lập quỹ dự trữ cần thiết cho quá trình sản xuất
kinh doanh tiếp theo. Như vậy có thể thấy các tư liệu lao động và đối tượng lao động mà
doanh nghiệp phải đầu tư mua sắm cho hoạt động sản xuất kinh doanh là hình thái hiện
vật của vốn sản xuất kinh doanh. Vốn bằng tiền là tiền đề cần thiết cho hoạt động sản xuất
kinh doanh nghiệp. Do vậy, vốn sản xuất kinh doanh mang các đặc trưng cơ bản sau:
-Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định có nghĩa là vốn được biểu hiện
bằng giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp.
-Vốn phải vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
-Vốn phải tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác
ngân sách nhà nước cấp. Đối với Công ty liên doanh thì phần vốn góp của các đối trong
và ngoài nước tham gia thành lập liên doanh. Số vốn này có thể bổ sung và rút bớt trong
quá trình kinh doanh.
Lãi chưa phân phối: là số vốn có nguồn gốc từ lợi nhuận, đó là phần chênh lệch
giữa doanh thu và chi phí. Số lãi này trong khi chưa phân phối cho các chủ đầu tư, trích
quỹ thì được sử dụng trong kinh doanh như vốn chủ sở hữu.
1.3.1.2.Vốn vay
Là khoản tiền ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhận được từ ngân hàng, các tổ chức
tài chính, các đơn vị, tổ chức, tập thể, cá nhân trong và ngoài nước để bổ sung vào vốn
kinh doanh của doanh nghiệp bằng nhiều hình thức khác nhau(như phát hành trái phiếu,
tín dụng cầm đồ hoặc thế chấp tài sản, tín dụng có bảo lãnh, tín dụng thông qua chiết
khấu, tín dụng thương mại, tín dụng ứng tiền qua tài khoản)với hứa hẹn sẽ hoàn trả trong
một thời hạn nào đó trong tương lai.
Doanh nghiệp sử dụng vốn vay càng nhiều thì độ rủi ro càng cao. Nhưng để phục vụ sản
xuất kinh doanh thì đây là một nguồn huy động vốn lớn, tuỳ thuộc vào khã năng thế chấp,
tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
Thông thường một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn trên để đảm bảo
nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kết cấu hợp lý giữa
hai nguồn nay phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động,cũng
như quy định của người quản lý doanh nghiệp trên cơ sở xem xét tình hình chung của nền
kinh tế cũng như tình hình thực tế tại doanh nghiệp.
1.3.2.Căn cứ vào thơi gian huy động và sử dụng vốn
1.3.2.1.Nguồn vốn thường xuyên
Đây là nguồn vốn mang tính ổn định, lâu dài mà doanh nghiệp có thể sử dụng để
đầu tư vào TSCĐvà một bộ phận TSLĐ tối thiểu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm vốn chử sở hữu và vốn vay dài hạn của doanh
nghiệp.
cho doanh nghiệp có thể hoàn toàn chủ động, giảm sự phụ thuộc vào các nhà cung ứng và
tăng tiềm lực tài chính. Quy mô tự cung ứng vốn từ nguồn này phụ thuộc vào tổng số lợi
nhuận trong kỳ và chính sách phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.
-Điều chỉnh cơ cấu tài sản: phương thức này tuy không làm tăng vốn sản xuất kinh
doanh nhưng lại có tác dụng rất lớn trong việc tăng vốn cho các hoạt động cần thiết trên
cơ sở giảm vốn ở những nơi không cần thiết. Phương thức này giúp doanh nghiệp chủ
động không phụ thuộc vào bên ngoài, doanh nghiệp có toàn quyền quyết định việc sử
dụng vốn trong dài hạn với chi phí kinh doanh sử dụng vốn thấp. Tuy nhiên tự cung ứng
có hạn chế là quy mô cung ứng vốn nhỏ và nguồn bỗ sung có giới hạn.
1.3.3.2.Các phương thức cung ứng từ ngoài
-Từ ngân sách nhà nước: Doanh nghiệp được nhận một lượng vốn xác định từ ngân
sách nhà nước cấp.
-Gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu: là hình thức doanh nghiệp được cung ứng
vốn trực tiếp từ thị trường chứng khoán làm nguồn vốn của doanh nghiệp tăng lên mà
không làm tăng nợ. Hình thức này có ưu điểm là tập hợp được lượng vốn lớn ban đầu, dễ
tăng vốn trong quá trình kinh doanh, bộ máy quản lý của doanh nghiệp có toàn quyền sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn này vì quyền sở hữu tách rời quyền quản trị. Tuy nhiên
doanh nghiệp phải công khai hoá tài chính, có thể làm cổ tức giảm…
-Vay vốn bằng phát hành trái phiếu trên thị trường vốn: đây là hình thức cung ứng
vốn trực tiếp từ công chúng. Doanh nghiệp phát hành lượng vốn dưới hình thức trái phiếu
thường và bán cho công chúng, hình thức này làm tăng vốn đồng thời làm tăng cả nợ, có
thể thu hút một lượng vốn cần thiết, chi phí kinh doanh sử dụng vốn thấp hơn so với vay
ngân hàng, không bị người cung ứng kiểm soát chặt chẽ tuy nhiên doanh nghiệp phải nắm
chắc các kỹ thuật tài chính vì chi phí kinh doanh phát hành trái phiếu cao…
-Vay vốn của các ngân hàng thương mại: Doanh nghiệp có thể huy động được
lượng vốn lớn, đúng hạn tuy nhiên việc vay vốn đòi hỏi các doanh nghiệp phải có uy tín
lớn, chấp nhận thủ tục thẩm định ngặt nghèo và có chi phí sử dụng vốn cao.
1.3.4.Căn cứ vào vai trò, đặc điêm chu chuyển giá trị của vốn khi tham gia vào quá
trình sản xuất
1.3.4.1.Vốn cố định
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn ứng trước về tài sản cố
định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất
kinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng.
Quy mô của vốn cố định quyết định quy mô của TSCĐ nhưng các đặc điểm của TSCĐ lại
ảnh hưởng tới sự vận động và công tác quản lý vốn cố định. Muốn quản lý vốn cố định
một cách có hiệu quả thì phải quản lý, sử dụng TSCĐ một cách có hữu hiệu TSCĐ. Từ
mối quan hệ trên,có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của vốn cố định.
-Vốn cố định được tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất. Do TSCĐ có thể phát huy
trong nhiều chu kỳ sản xuất, vì thế vốn cố định –hình thái biểu hiện của nó cũng được
tham gia vào các chu kỳ sản xuất tương ứng.
-Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần khi tham gia vào quá trình sản
xuất, TSCĐ không bị thay đổi hình thái hiện vật ban đầu nhưng tính năng và công suất
của nó bị giảm dần và kéo theo giá trị của tài sản đó cũng bị giảm đi. Theo đó vốn cố định
cũng được tách làm hai phần:
*Một phần sẽ gia nhập vào chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức khấu hao
TSCĐ tức là trong quá trình sử dụng và bảo quản, TSCĐ bị hao mòn(có thể bị hao mòn
hữu hình và hao mòn vô hình). Bộ phận giá trị của TSCĐ tương ứng với mức hao mòn mà
nó được chuyển dịch dần dần vào giá thành sản phẩm gọi là khấu hao TSCĐ, cụ thể là:
+Hao mòn hữu hình: là sự hao mòn về mặt vật chất, tức là tổn thất dần về mặt chất lượng
và tính năng kỹ thuật của TSCĐ, cuối cùng tài sản đó không sử dụng được nữa và phải
thanh lý. Thực chất về mặt kinh tế của hao mòn hữu hình là giá trị của TSCĐ giảm dần và
giá trị của nó được chuyển dần vào sản phẩm được sản xuất ra. Trường hợp TSCĐ không
sử dụng được, hao mòn hứu hình biểu hiện ở chổ TSCĐ mất dần thuộc tính do ảnh hưởng
của điều kiện tự nhiên hay quá trình hoá học xảy ra bên trong cũng như việc trông nom,
và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẩn giử nguyên
hình thái vật chất như: nhà cữa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị…
+TSCĐ vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng
giá trị đã được đầu tư, có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp như: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí sử dụng đất, chi phí về bằng phát
minh sáng chế …
-Căn cứ theo tình hình sử dụng: TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành
+TSCĐ đang sử dụng: đây là những TSCĐ đang trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia
váo quá trình sản xuất kinh doanh.
+TSCĐ chưa sử dụng: đây là những TSCĐ dự trữ , TSCĐ đang trong giai đoạn lắp
ráp chạy thử…
-Căn cứ vào nguồn hình thành TSCĐ: TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành
+TSCĐ từ nguồn vốn ngân sách
+TSCĐ từ nguồn vốn tự bổ sung
+TSCĐ liên doanh
+TSCĐ đi thuê
-Căn cứ vào công dụng kinh tế của TSCĐ: đuợc chia thành
+TSCĐ dùng cho sản xuất kinh doanh cơ bản
+TSCĐ dùng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản
1.3.4.2.Vốn lưu động
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động(TSLĐ)và vốn lưu thông.
Đó là vốn của doanh nghiệp đầu tư để dự trữ hàng hoá, vật tư để chi cho quá trình hoạt
động kinh doanh, chi cho hoạt động quản lý doanh nghiệp hay nói một cách khác là nó
bảo đảm cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên liên
tục.
Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, tuần hoàn liên tục và
hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Vốn lưu động là điều vật chất
động kinh doanh.Đối với doanh nghiệp nhà nước, việc bổ sung VLĐ có thể thực hiện
bằng cách lấy từ quỹ khuyến khích phát triển sản xuất.
- VLĐ thuộc nguồn vốn liên doanh liên kết: là vốn mà doanh nghiệp nhận liên
doanh liên kết với các doanh nghiệp khác, vốn này có thể bắng tiền hoặc bằng hiện vật.
-VLĐ huy động thông qua phát hành cổ phiếu, để tăng thêm vốn sản xuất Công ty
có thể phát hành thêm cổ phiếu mới.
-VLĐ huy động từ vốn vay: đây là nguồn vốn quan trọng mà doanh nghiệp có thể
sử dụng để đáp ứng nhu cầu về VLĐ thường xuyên cần thiết trong kinh doanh. Tuỳ theo
điều kiện cụ thể của doanh nghiệp có thể vay vốn của ngân hàng, các tổ chức tín dụng
hoặc có thể vay vốn của các đơn vị tổ chức khác và các cá nhân các cá nhân trong và
ngoài nước.
*Căn cứ vào phương pháp xác định vốn thì người ta chia thành hai loại
-VLĐ định mức: là VLĐ tối thiểut cần thiết thường xuyên trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp có thể xác định như:vốn dự trữ, vốn trong sản xuất và thành
phẩm …
-VLĐ không định mức: là số VLĐ có thể phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
doanh nhưng không có căn cứ để xác định tính toán trước.
2.hiệu quả sử dụng vốn
2.1.Khái niệm hiệu quả _Hiệu quả sử dụng vốn
-Hiệu quả được hiểu là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản
xuất. Trinh độ lợi dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hay giá trị
mà là một phạm trù tương đối và chỉ có thể được phản ánh bằng số tương đối.
-Hiệu quả có thể được đánh giá ở các góc độ khác nhau, phạm vi khác nhau và
thời kỳ khác nhau. Trên các cô sở này,để rỏ hơn bản chất của phạm trù hiệu quả sử dụng
vốn củng cần đứng trên từng góc độ cụ thể mà phân biệt các loại hiệu quả .
-Hiệu quả xả hội: là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất xã
hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định. Thường là giải quyết công ăn, việt làm ;
-Thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau về tình hình sử dụng vốn
-Xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
thích hợp
-Sử dụng các phương pháp đánh gía kết hợp với hệ thống chỉ tiêu đã xây
dựng trong phân tích tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp
-Cung cấp thông tin phân tích, đánh gía đến cán bộ quản trị doanh nghiệp
2.2.2.Căn cứ phân tich
Thực chất là các tài liệu dùng để phân tích. Để phân tích một cách khoa học đòi hỏi
cần phải có một số lượng thông tin cần thiết. Hai loại nguồn thông tin cho phân tích là
thông tin nội bộ và thông tin bên ngoài
Thông tin nội bộ bao gồm: các báo cáo tài chính, báo cáo thực hiện kế hoạch, tài
liệu về định mức…
Nguồn thông tin bên ngoài doanh nghiệp bao gồm:các tài liệu thống kê về tình
hình sử dụng vốn của các doanh nghiệp khác đặc biệt là các chủ trương chính sách về quả
lý tài chính các tài liêụ về tình hình đầu tư…
2.2.3.Các phương pháp sử dụng trong phân tích
Để phân tích hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh người ta thường sử dụng
nhiều phương pháp khác nhau, trong đó hai phương pháp thường được sử dụng là phương
pháp so sánh và phương pháp loại trừ:
2.2.3.1.Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp dùng số của một chỉ tiêu nào đó để so sánh giữa các thời kỳ
với nhau trên cơ sở đó đánh giá kết quả , xác định vị trí và xu hướng biến động của chỉ
tiêu cần phân tích.
Ngưòi ta có thể so sánh theo những cách sau:
-So sánh bằng số tuyệt đối: việc so sánh này cho ta biết quy mô mà doanh nghiệp
đạt được vượt hay hụt của các chỉ tiêu cần phân tích giữa kỳ, kỳ phân tích và kỳ gốc.
-Só sánh bằng số tương đối: cho ta biết kết cấu,mối quan hệ, tốc độ phát triển và
Với giả thiết trên thì:
Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
Δ Y(A)= (A1-A0).B0.C0
Δ Y(B)= A1.(B1- B0).C0
Δ Y(C) =A1.B1.(C1-C0)
Tổng hợp lại ta có
Δ Y= Δ Y(A) +Δ Y(B) +Δ Y(C)
2.3.Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
2.3.1.Vấn đề tiêu chuẩn hiệu quả khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả là giới hạn, là “mốc”xác địng ranh giới có hay
không có hiệu quả. Như thế, trước hết cần xác định được tiêu chuẩn hiệu quả cho mổi chỉ
tiêu để phân biệt “mức” có hay không có hiệu quả. Sẽ không có tiêu chuẩn chung cho các
công thức xác định khác nhau
Nếu theo phương pháp toàn nghành có thể lấy giá trị bình quân đạt được của nghành làm
tiêu chuẩn hiệu quả. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp chỉ đạt được hiệu quả nếu giá trị
đạt được ứng với một chỉ tiêu cụ thể xác định không thấp hơn giá trị bình quân của
nghành.
2.3.2.Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời vốn nói chung
-Hệ số sinh lời doanh thu: chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
Lơị nhuận
Hệ số sinh lời doanh thu=
Doanh thu
-Hệ số doanh lợi vốn: chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn của doanh nghiệp bỏ ra kinh
doanh tạo bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tuỳ theo mục đích phân tích mà chỉ tiêu này được tính theo hai cách :
Lãi ròng(lợi nhuận)
thu.
Doanh thu
Sức sản xuất TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ - Gía trị đã hao mòn
-Suất hao phí TSCĐ: là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất của TSCĐ chỉ tiêu này
cho biết giá trị TSCĐ cần thiết để tạo ra một đồng lãi.
Nguyên giá TSCĐ - Giá trị đã hao mòn
Suất hao phí TSCĐ =
Lãi ròng
Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản cố định để xác định tính hiệu quả và
nguyên nhân của việc sử dụng không có hiệu quả TSCĐ. Thông thường,trước hết đó là do
đầu tư TSCĐ quá mức cần thiết, đầu tư vào TSCĐ không dùng đến, sử dụng TSCĐ không
hết công suất…
2.3.4.Các chỉ tiêu đánh gía hiệu quả sử dụng vốn lưu động
-Hiệu suất sử dụng vốn lưu động: cho biết một đông vốn lưu động tạo ra được bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
Lãi ròng
Hiệu suất sử dụng VLĐ =
Vốn lưu động bình quân
-Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động: cho biết để tạo ra một đồng doanh thu doanh nghiệp cần
bỏ ra bao nhiêu đồng VLĐ .
Vốn lưu động bình quân
Hệ số đảm nhiệm VLĐ =
Doanh thu
-Số vòng luân chuyển vốn lưu động trong năm: chỉ tiêu này đánh giá tốc độ luân chuyển
Vốn lưu động cho biết trong kỳ phân tích Vốn lưu động của doanh nghiệp quay được bao
Người ta thường nhắc đến luận điểm ngày nay khoa học kỹ thuật công nghệ đã trở
thành lực lượng lao động trực tiếp. áp dụng kỹ thuật tiên tiến là điều kiện tiên quyết để
tăng hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp. Tuy nhiên ta thấy rằng máy móc tối tân đến
đâu cũng do con người chế tạo ra. Nến không có lao động sáng tạo của con người sẽ
không thể có các máy móc thiết bị đó, mặt khác máy móc thiết bị dù có hiện đại đến đâu
cũng phải phù hợp với trình độ tổ chức, trình độ kỹ thuật, trinh độ sử dụng máy móc của
con người lao động.
Trong sản xuất kinh doanh lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể sáng tạo ra
công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúng vào sử dụng tạo ra tiềm năng lớn cho hiệu quả sản
xuất kinh doanh nói chung và hiệu qủa sử dụng vốn kinh doanh nói riêng. Cũng chính lực
lượng lao động sáng tạo ra sản phẩm mới với kiểu dáng phù hợp với cầu của người tiêu
dùng làm cho sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp có thể bán được tạo cơ sở nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn.Lực lượng lao động tác động trực tiếp đến năng suất lao động đến
trình độ sử dụng các nguồn lực khác nên nó tác động trực tiếp đến hiệu qủa kinh doanh và
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
2.4.1.2.Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật là nền tảng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
trong quá trình sử dụng nó sẽ bị hao mòn và hao vô hình do vậy doanh nghiệp luôn luôn
quan tâm để sữa chữa, nâng cấp, thay đổi vì nó có ảnh hưởng mạnh mẽ tới quá trình tăng
năng suất lao động, ăng sản lượng, tăng chất lượng sản phẩm, hạ giá thành. Do vậy mà nó
ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn.
2.4.1.3.Nhân tố quả trị doanh nghiệp
Nhà quản trị là kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong doanh nghiệp, vai trò của nhà
quản trị trong kinh doanh hiện đại ngày nay càng được coi trọng. Sự thành bại của doanh
nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ kinh doanh lãnh đạo của nhà quản trị. Các quyết
định của nhà quản trị doanh nghiệp về các hoạt động đầu tư sẽ liên quan đến toàn bộ quá
trình sản xuất của hoạt động đầu tư đó. Nếu quyết định đầu tư đúng thì hiệu quả sử dụng
vốn cố định sẽ được nâng cao do đó hiệu quả sử dụng vốn nói chung được nâng cao. Đối
triển, chính sách cơ cấu, các chính sách kinh tế vĩ mô này tạo ra sự ưu tiên hay kìm hãm
sự phát triển của từng nghành, từng vùng cụ thể do đó tác động trực tiếp đến hiệu quả
kinh doanh và trong đó có hiệu qủa sử dụng vốn của doanh nghiệp thuộc các ngành các
vùng nhất định.
2.4.2.3.Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng xã hội
Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng như: hệ thống đường giao thông, hệ thống thông tin
liên lạc, điện nước, cũng như sự phát triển của giáo dục và đào tạo…đều là những nhân
tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói
riêng. Doanh nghiệp kinh doanh ở khu vực có hệ thống cơ sở hạ tầng tốt sẽ có điều kiện
thuận lợi phát triển sản xuất, tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu giảm chi phí
kinh doanh và đây là cơ sở nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Ngược lại ở những vùng có cơ
sở hạ tầng yếu kém không thuận lợi cho haọat động tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dẫn tới
các doanh nghiệp hoạt động với hiệu quả không cao.
3.Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
3.1.Tầm quan trọng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệ hoá do vậy bất
kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào dù ở bất cứ cấp độ nào, gia đình doanh nghiệp
hay quốc gia luôn luôn cần có một lượng vốn nhất định dưới dạng tiền tệ, tài nguyên đã
được khai thác, bản quyền phát minh…Vốn là điều kiện tiên đề quyết định sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Vốn là cơ sở xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp, vốn
đảm bảo cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành theo mục tiêu đã định.
-Về mặt pháp lý
Mổi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện tiên quyết là doanh nghiệp đó phải có
một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu bằng lượng vốn pháp định (Lượng vốn
mà pháp luật quy định cho từng loại hình doanh nghiệp) khi đó địa vị pháp lý của doanh
nghiệp mới được công nhận. Ngựợc lại, việc thành lập doanh nghiệp không thể thực hiện
đựơc. Trường hợp trong quá trình hoạt động kinh doanh. với doanh nghiệp không đạt điều