LỜI MỞ ĐẦU
Gần nửa thế kỉ qua, ngành thủy sản Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh
mẽ, liên tục cả về số lượng lẫn chất lượng, góp phần tích cực vào sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo bước đột phá tích cực trong hội nhập quốc tế,
vượt qua nhiều rào cản của thị trường , vững bước tiến lên. Cuộc sống của lao động
nghề cá cũng từng bước được cải thiện. Nhiều ngư dân chí thú làm ăn không vì mục
đích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài. Biết vận dụng hợp lý các chính sách của
Đảng và Nhà nước, các chương trình quốc gia, cùng với việc ứng dụng các tiến bộ
khoa học kĩ thuật, mở rộng thị trường, dự đoán các bước phát triển hợp với sức và
lực của mình để vững bước đi lên.
Thực tế cho thấy sản lượng của các mặt hàng thủy sản tăng liên tục qua các năm,
nhưng thị trường xuất khẩu của nó luôn luôn biến động tạo sư căng thẳng cho các
nhà chính quyền, cũng như cho chính người lao động. Chính vì vậy xuật khẩu thủy
sản nói chung và xuất khẩu tôm nói riêng đang là một vấn đề mang tính thời sự hiện
nay.
Vậy nguyên nhân của vấn đề đó là gì? Thực trạng của nó ra sao? Và hiện tại ta đã
có giải pháp như thế nào và cũng như những giải pháp mang tính lâu dài của chúng
là gì ?
Hãy cùng tôi tìm hiểu đề tài nghiên cứu về “Thực trạng và giải pháp nâng cao
chất lượng xuất khẩu tôm” để làm rõ những thắc mắc trên.
Nội dung của đề án gồm 3 phần cơ bản như sau:
Phân 1: Khái quát chung về ngàng thuỷ sản va mặt hàng tôm xuất khẩu
Phần 2: THực trạng về tình hình xuất khẩu tôm
Phần 3: Giải pháp – những hướng đi mới – phương hướng phát triển giai đoạn
2006-2010
Mặc dù đề án đã hoàn thành, nhưng không thể tránh khỏi những sai xót. Rất
mong được sự dóng góp ý kiến của quí vị để tôi có thể hoàm chỉnh đề án này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn ,giúp đỡ của TS Vũ Anh Trọng
PHẦN I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÀNH THỦY SẢN VÀ MẶT HÀNG
Trang 1
87
Trang 2
Tổng sản lượng thủy sản
(tấn)
2,01
3,07 53
Bảng số liệu tốc độ tăng trưởng thủy sản năm 2004 so với năm 2000
Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2004 đạt 2,4 tỷ USD, tăng gần 1 tỷ
USD so với năm 2000, chiếm gần 9% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm về tổng sản lượng là 7%, về giá trị xuất
khẩu là 10%.
9
91
Gi¸ trÞ kim ng¹ch xuÊt khÈu thuû s¶n
Gi¸ trÞ kim ng¹ch xuÊt khÈu c¶ níc
Biểu đồ hình quạt: Tỉ trọng giá trị kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản so
với tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước(năm 2004)
Về những đóng góp quan trọng của ngành thủy sản trong 20 năm của thời kỳ đổi
mới đất nước có thể tóm tắt như sau:
Thứ nhất : Ngành thủy sản đã góp phần hình thành và thực hiện nhiều đường lối,
chủ trương, chính sách có tầm chiến lược đối với đất nước. Đó là quá trình hình
thành đường lối đổi mới cơ chế quản lí kinh tế, hình thành cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Hội nhập
ngày càng sâu vào các quan hệ kinh tế quốc tế…
hợp.
Hiện nay ở nước ta tôm là loại thủy sản rất được quan tâm cả về cách thức
nuôi trồng, khai thác, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu.
Thị trường tôm tập trung hầu hết ở các tỉnh có nguồn nước mặn, nước nợ hay
có thị trường tiêu thụ rộng lơn như : Đồng bằng sông cửu long, Hải phòng, Thái
bình.…
Trang 4
Như vậy vấn đề đặt ra với thị trường tôm nội địa là phải cho ra các sản phẩm
phong phú về chủng loại: đồ tươi, khô, đông lạnh, các loại tôm chất lượng đa
dạng: từ cấp thấp, cao cấp đến đặc biệt ,phù hợp khả năng tài chính của các tầng
lớp dân cư.
Bên cạnh đó cũng phải chú ý tới mặt hàng tôm nhập khẩu, bởi càng ngày
người dân càng trở lên “sính ngoại” , chúng ta cần có cách thức quản lí để người
dân nhận ra rằng: Mặt hàng tôm của ta chất lượng không kém mà giá cả lại hợp lí,
không những thế lại dược xuất khẩu sang những thị trường rộng lớn như EU, Mỹ,
Nhật bản.
Tóm lại chúng ta cần ổn định thị trường nội địa của các mặt hàng thủy sản nói
chung và của mặt hàng tôm nói riêng để tạo điều kiện cho xuất khẩu thủy sản phát
triển bên vững.
2.Trên thị trường quốc tế:
Trong thời gian qua xuất khẩu tôm ở Viêt Nam vào thị trường quốc tế có những
biến động rõ rệt.
Nhất là xuất khẩu vào Mỹ _ thị trường chiếm 23-26% tổng kim ngạch xuất khẩu
thủy sản Việt Nam, tiêu thụ 50% tôm xuất khẩu của Vệt Nam là thị trường tiêu thụ
rộng lớn cho hàng xuất khẩu Việt Nam nó đã góp phần không nhỏ vào việc tăng
kim ngạch xuất khẩu thủy sản.
Nhưng đó là thị trường đầy nguy hiểm . Kỳ đầu 2005 xảy ra vụ kiện tôm giữa
Mỹ và 54 doanh nghiệp Việt Nam đã làm cho mặt hàng tôm trong nước và xuất
khẩu chao đảo, hiện tượng rớt giá và vấn đề uy tín làm đau đầu các nhà cầm
quyền.
Thứ hai : Lực lượng lao động ngày càng phát triển và có tâm huyết với nghề.
Trước đây số hộ nuôi tôm rất ítt và tập trung ở một số tỉnh vùng sông nước, bây
giờ nhận thức của mọi người đã được nâng cao, mô hình nuôi tôm sú và một số
loại tôm có giá trị kinh tế cao khác đã được mọi nguời quan tâm. Vì vậy nghề
nuôi tôm phát triển khắp cả nước với qui mô to nhỏ tùy thuộc vào từng hình thức
nuôi trồng.
Thứ ba: Các địa phương đã thay bằng việc thả, nuôi trồng hàng loạt, ban đầu đã
học tập việc duy trì thả giống tôm và một số loài cá kinh tế khác để tái tạo, phát
triển nguồn lợi tạo thu nhập cao.
Trang 7
Thứ tư: Bước đầu đã có sự áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào các hoạt
động: Từ giống tôm đến hoạt động nuôi trồng , khai thác chế biến.
Đánh giá về hoạt động khoa học công nghệ trong phát triển ngành thủy sản phó
thủ tướng Phạm Gia Khiêm trong bài phát biểu truớc hội nghị toàn quốc về khoa
học công nghệ giai đoạn 2001-2005 của ngành thủy sản ngày 28/3/2005 tại Hà Nội
đã nhấn mạnh: “ cùng với việc nuôi trồng thủy sản, ngành ta đã chú y đến việc áp
dụng công nghệ mới , sử dụng vật liệu mới, nâng cao trang thiết bị cho tàu thuyền
đánh cá, tìm hướng đánh bắt thủy sản, đẩy mạnh đánh bắt xa bờ, đánh cá ngừ đại
dương. Việc làm này không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt an
ninh, quốc phòng bảo vệ chủ quyền đất nước”.
Ngoài ra phó thủ tướng còn đánh giá hoạt động công nghệ trên 3 lĩnh vực sau:
- Công tác điều tra, nghiên cứu cơ bản và đánh giá môi trường.
- Đề tài nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ: tạo gống mới có năng
xuất chất lượng cao và phòng được dịch bệnh.
- Vấn đề đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong đánh bắt, chế biến, bảo quản
các sản phẩm thủy sản nhất là các sản phẩm xuất khẩu.
Công tác quản lí khoa học công nghệ của bộ thủy sản đã có nhiều tiến bộ theo chủ
trương hướng mạnh về cơ sở.
Như vậy việc áp dụng khoa học công nghệ là một bước đi lớn mang tính đột phá
trong ngành thủy sản nói chung và xuất khẩu thủy sản nói riêng.
Tôm chân trắng hiện đang được phát triển ở Thái Lan , Mỹ và một số nước
khác. ở Việt Nam giống tôm này mới đang được áp dụng nuôi trồng ở một số khu
vực. Vì vậy đây sẽ là vấn đề mà các nhà quản lí cần phải quan tâm.
2.Về khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi trên làm góp phần tăng sản lượng tôm xuất khẩu nhanh
qua các năm, vấn đề đầu vào của tôm xuất khẩu cũng gặp phải những trở ngại sau:
Một là: Điều kiện khí hậu, môi trường nước ta diễn biến rất thất thường ảnh
hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của các loại tôm. Đặc biệt có thể có nững
biến động lớn làm thiệt hại đến sức người, sức của.
Trang 9
Hai là : Vấn đề sử dụng hóa chất, kháng sinh cấm kỵ làm giảm sút chất lượng của
mặt hàng tôm xuất khẩu. Đây là nguyên nhân một măt do nhận thức còn hạn chế của
các ngư dân họ chỉ biết cái lợi trước mắt của việc tăng năng suất mà không quan
tâm đến tác hại của việc sử dụng không hợp lí các hóa chất, kháng sinh cấm kỵ
trong nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh đó là việc quản lí lỏng lẻo của các cấp chính
quyền về vấn đề này. Do đó cần phải quan tâm hơn nữa để đảm bảo chất lượng tôm
không chỉ cho mặt hàng tiêu dùng trong nước mà cho cả mặt hàng xuất khẩu có giá
trị kinh tế lớn.
Ba là : Thiếu nguyên liệu sản xuất ở một số địa phương là khó khăn lớn nhất
mang tính phổ biến ở các địa phương. Tình trạng này bộc lộ trầm trọng nhất ở
khu vực phía bắc và duyên hải miền trung.
Bốn là : Các cộng đồng ven biển nhìn chung còn nghèo, thiếu vốn đầu tư và cơ sơ
hạ tầng sản xuất thủy sản kém: Từ cơ sở ngiên cứu khoa học công nghệ thủy sản,
khu vực bảo tồn biển và bảo tồn thủy sản nội địa, thủy lợi đầu mối, cảng cá và
khu tránh trú bão, hệ thống thông tin quản lí ngành nghề thủy sản. Điều này gây
ảnh hưởng đến chất lượng nuôi trồng, khai thác, chế biến các mặt hàng thủy sản,
từ đó sẽ tác động lớn đến mặt hàng tôm xuất khẩu.
Năm là : Về đánh bắt và khai thác còn nhiều bất cập: mức độ khai thác chưa hợp
lí, phương tiện khai thác chưa đảm bảo.
Sáu là : Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lí đầu tư xây dựng vừa yếu vừa thiếu,
Thành công lớn trong nuôi trồng thủy sản nữa là đã ứng dụng các tiến bộ kĩ thuật
sinh học phân tử trong phòng và trị bệnh nguy hiểm đối với các loại tôm cá, sử dụng
các chế phẩm sinh học nhằm tăng khả năng chống chịu bệnh và quản lí chất lượng.
Về nuôi tôm nước lợ, diện tích năm 1999 là 210.448 ha so với năm 2005 là
604.479 ha
với mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 31,2% đây là tốc độ tăng trưởng rất cao
do vấn đề mở rộng diện tích gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại. Đối với nuôi tôm
nước lợ – mặn, sản lượng năm 1999 là 63.644 tấn. Song dưới tác dụng của mở rộng
diện tích và tăng cường đầu tư khoa học kĩ thuật và vốn, sản luợng nuôi trông đã đạt
Trang 11
324.680 tấn gấp 5,1 lần đem lại hiệu quả kinh tế cao. Các tỉnh Nam Trung Bộ thì
diện tích nuôi tôm hùm lồng phát triển mạnh và bước đầu được nuôi tại Quảng Ninh
với kết quả đạt được là từ 7.290 (1999) với tổng sản lượng là 425 tấn tăng lên
43.510 lồng với sản lượng là 4.800 tấn và đã chủ động được giống với 3.061 lồng
ươm giống, nuôi tôm hùm là hình thức nuôi có vốn đầu tư lớn và mang lại hiệu quả
cao nên một số doanh nghiệp và cá nhân nuôi tôm hùm đã thành công nhanh chóng
với mức doanh thu hàng năm hàng tỷ đồng và có những hộ sau khi trừ chi phí vẫn
còn đạt lợi nhuận tiền tỷ – Tôm càng xanh năm 2005 ước đạt 6.400 tấn trong đó tập
trung tại các tỉnh Tây Nam Bộ, các tỉnh này có sản lượng là 6.612 tấn (93,9%) thu
lợi từ 50 – 80 triệu đồng/ha và năng xuất theo khảo sát tại huyện Cao Lãnh, Tam
Nông thì năng suất trung bình đạt từ 1,2 – 2 tấn/ha và cá biệt có những xã năng suất
đạt 2,5 tấn/ha và diện tích nuôi tôm càng xanh trong những năm tiếp theo thì có thể
tăng lên nhiều và năng xuất tiếp tục tăng với tốc độ cao do trình độ người nuôi trồng
và khả năng áp dụng khoa học kĩ thuật ngày càng mạnh và có hiệu quả.
Bảng: Sản lượng tôm nuôi trồng so với tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng
Trang 12
( Nguồn tổng hợp từ tổng cục thống kê năm 2004 - 2005)
Trang 13
Chỉ tiêu
Sản lượng (tấn)
3.2.Thực trạng về chất lượng các loại tôm:
Đề cập đến vấn đề chất lượng thúy sản. Ông Bửu Huy- giám đốc công ty Afiex ở
An Giang khẳng định: “Thực chất khó khăn lớn nhất của xuất khẩu thủy sản Việt
Nam nói chung là vấn đề chất lượng chứ không phải chuyện phá giá hay không có
thị trường”.
Tình hình phát triển “quá nóng” không kiểm soát được diện tích, sản lượng của
tôm cá đã dẫn đến những yếu kém về quản lí chất lượng. Tỷ lệ nhiễm dư lượng
kháng sinh, hóa chất bị cấm trong cá nuôi khá cao, tình trạng bơm hóa chất vào tôm
chưa được xử lí một cách triệt để, khả năng đảm bảo truy xuất nguồn gốc sản phẩm
kém do diện tích nuôi còn manh mún, trình độ sản xuất chưa đồng đều đã dẫn đến
những bất lợi cho cả hai sản phẩm chủ lực của thủy sản Việt Nam trước các rào cản
“kĩ thuật” của các nước cạnh tranh.
Trong chương trình của VASEP- Đại hội nhiệm kì ba (2005-2001) diễn ra ngày
12/6/2005 ông Hồ Quốc Lựu phát biểu : “Tính an toàn sản phẩm đã trở thành yếu tố
cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu nói chung, từng doanh nghiệp nói riêng. Tôi
nghĩ, những bài học xương máu đã qua và hiện nay xung quanh vấn đề chất lượng
đã nói lên rằng, nếu không có sự liên kết thật sự thì thủy sản Việt Nam sẽ còn tiếp
tục bị trả giá, không chỉ về kinh tế mà còn cả về môi trường”.
Thực tế đã chứng minh được ảnh hưởng mạnh mẽ của vấn đề chất lượng của thủy
sản đến khả năng cạnh tranh của xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Năm 2002 một số lô
hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu vào EU không được an toàn (nhiễm khuẩn,
nhiễm bẩn..) và chất lượng chưa ổn định; Vì thế EU đã có qui định mới cho Việt
Trang 14
Nam về lượng dư hóa chất: từ 1.5 xuống còn 0.3 phần tỉ. Điều nàykhiến các doanh
nghiệp Việt Nam điêu đứng, hàng chục lô hàng xuất khẩu bị hủy. Nhiều đơn vị bị
loại khỏi danh sách xuất khẩu thủy sản vào thị trường này, 100% lô hàng bị kiểm
tra, nếu phát hiện nhiễm quá mức dư lượng hóa chất, EU sẽ đóng cửa ngay hàng
thủy sản Việt Nam, như họ đã từng làm với Trung Quốc.
Ngoài vấn đề về sử dụng lượng hóa chất quá mức cho phép, các loại tôm thường
mắc một số bệnh gây ảnh huởng không những đến năng suất mà còn ảnh hưởng đến