Xuất khẩu thuỷ sản việt nam vào thị trờng nhật bản
Lời nói đầu
Thế kỉ hai mốt mở ra một kỷ nguyên mới cho nền kinh tế toàn cầu với xu hớng
đa phơng hoá và quốc tế hoá. Cùng với công cuộc xây dựng đất nớc theo nền kinh
tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã và đang hội nhập vào nền
kinh tế thế giới trên nhiều phơng diện và bằng nhiều con đờng khác nhau, trong đó
xuất khẩu hàng hoá ra thị trờng quốc tế là một con đờng thiết yếu, đem lại nguồn
ngoại tệ chủ lực cho việc nhập khẩu và phát triển nền kinh tế nớc nhà.
Trong mời năm trở lại đây, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam tăng trởng mạnh,
liên tục đạt tốc độ tăng trởng bình quân từ 15%-18%/ năm, trở thành một trong ba
ngành hàng thu về nhiều ngoại tệ nhất cho đất nớc. Nếu năm 1991 thu đợc 278,8
triệu USD thì năm 2000 lên 1,4 tỉ USD, tăng gấp 5 lần năm 1991, và năm 2001 đạt
1,75 tỉ USD, tăng gấp 6,3 lần năm 1991. Năm 2001, hàng thuỷ sản của Việt Nam
đã có mặt trên 60 nớc, đợc FAQ xếp vị trí thứ 18 về sản lợng thuỷ sản, thứ 26 về
XK thuỷ sản. Tuy nhiên, nếu nhìn vào thực tiễn xuất khẩu thuỷ sản trên thế giới
hiện nay và những bài học kinh nghiệm sàng lọc đợc trong thời gian qua thì việc
khẳng định vị trí của ngành thuỷ sản Việt Nam trên trờng quốc tế là việc không hề
đơn giản. Ngoài những mặt hạn chế về vốn, về cơ sở hạ tầng, về công nghệ, nguồn
lực trong n ớc, vấn đề sống còn đặt ra cho ngành thuỷ sản Việt Nam là thị trờng,
chất lợng sản phẩm và tiêu chuẩn vệ sinh công nghiệp. Mỗi thị trờng xuất đó tuy có
những tơng đồng về chất lợng sản phẩm, vệ sinh công nghiệp nhng lại có những nét
đặc thù riêng, đòi hỏi các nhà xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam phải đi sâu nghiên cứu
và tìm ra một hớng đi thích hợp.
Bên cạnh việc thâm nhập và đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang các thị trờng
tiềm năng, ngành thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam phải không ngừng củng cố và gia
tăng mối quan hệ làm ăn với các thị trờng nhập khẩu thuỷ sản truyền thống, mà tiêu
biểu là thị trờng Nhật Bản. Với những đặc điểm về kinh tế, về văn hoá tiêu dùng và
thực trạng nhập khẩu thuỷ sản trên thế giới, Nhật Bản hiện là một trong những bạn
1
hàng lớn nhất và quan trọng nhất của nớc ta. Việc đi sâu nghiên cứu thị trờng Nhật
Bản để thâm nhập và đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu hiện là một nhu cầu
tích đất liền.
Vùng biển Việt Nam có trên 4.000 hòn đảo lớn, nhỏ, có nhiều vịnh, vùng, đầm,
phá, cửa sông và trên 400.000 ha rừng ngập mặn, là những khu vực đày tiềm năng
cho phát triển giao thông, du lịch, đồng thời cũng rất thuận lợi cho phát triển nuôi,
trồng thuỷ sản và tạo nơi trú đậu cho tàu thuyền đánh cá.
Về mặt kỉ thuật trong lĩnh vực khai thác hải sản, ngời ta thờng chia vùng biển n-
ớc ta thành 3 vùng nhỏ, đó là vùng biển Bắc Bộ, vùng biển miền Trung và vùng
Đông Tây Nam Bộ. Tuỳ thuộc vào đặc điểm tự nhiên của từng vùng mà mỗi
vùng biển có những nét đặc thù khác nhau qui định chủng loại và trữ lợng khai thác
khác nhau.
3
b. Đặc điểm nguồn lợi hải sản
Biển Việt Nam có trên 2.000 loài cá, trong đó khoảng 130 loài cá có giá trị kinh
tế. Theo những đánh giá mới nhất, trữ lợng cá biển trong toàn vùng biển là 4,2 triệu
tấn, trong đó sản lợng cho phép khai thác là 1,7 triệu tấn/năm, bao gồm 850.000 cá
đáy, 700.000 tấn cá nổi nhỏ, 120.000 tấn cá nổi đại dơng.
Bên cạnh cá biển còn nhiều nguồn lợi tự nhiên nh trên 1.600 loài giáp xác, sản l-
ợng cho phép khai thác 50 - 60 nghìn tấn/năm, có giá trị kinh tế cao là tôm biển,
tôm hùm và tôm mũ ni, cua, ghẹ; khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, trong đó
có y nghĩa kinh tế cao nhất là mực và bạch tuộc(cho phép khai thác 60 - 70 nghìn
tấn/ năm) Bên cạnh đó còn rất nhiều loài đặc sản quí nh bào ng, đồi mồi, chim
biển và có thể khai thác vây cá, bóng cá, ngọc trai
Bị chi phối bởi đặc thù của vùng biển nhiệt đới, nguồn lợi thuỷ sản nớc ta có
thành phần loài đa dạng, kích thớc cá thể nhỏ, tốc độ tái tạo nguồn lợi cao. Phân bố
trữ lợng và khả năng khai thác cá đáy tập trung chủ yếu ở vùng bờ biển có độ sâu d-
ới 50 m(56,2%), tiếp đó là vùng sâu từ 51- 100 m (23,4%). Theo số liệu thống kê,
khả năng cho phép khai thác cá biển Việt Nam bao gồm cả cá nổi và cá đáy ở khu
vực gần bờ có thể duy trì ở mức 600.000 tấn. Theo vùng và theo độ sâu, nguồn lợi
cá cũng khác nhau. Vùng biển Đông Nam Bộ cho khả năng khai thác hải sản xa bờ
lớn nhất, chiếm 49,7% khả năng khai thác cả nớc, tiếp đó là Vịnh Bắc Bộ (16,0%),
vừa nuôi trồng thuỷ sản, đa phần đã tích luỹ đợc nhiều kinh nghiệm vê thuỷ hải sản
và nghề nuôi trồng.
Bảng 1: Tình hình sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam năm 1998
Chỉ tiêu Tổng So với kế hoạch (%) Tăng so với năm trớc(%)
Tổng sản lợng(tấn) 1.668.530 105,93 5,04
Khai thác Thuỷ Sản(tấn) 1.130.660 10,72 4,82
Nuôi trồng Thuỷ Sản(tấn) 537.870 100,54 5,5
Xuất Khẩu(triệu USD) 858,6 101,01 10,58
Theo số liệu trong năm 98 của Bộ thuỷ sản, số thị trờng xuất thuỷ sản đã tăng lên
50 thị trờng. Xuất khẩu sang EU và Mỹ tăng mạnh. Mỹ tăng 115,31% , EU tăng
80,42%.
5
Với những dặc điểm trên, Việt Nam đã và đang có những thuận lợi về nhiều mặt
trong việc khai thác và nuôi trồng thuỷ sản. Chính vì vậy chúng ta có tiềm năng to
lớn trong việc sản xuất, chế biến xuất khẩu thuỷ hải sản sang thị trờng nớc ngoài.
Trong mời năm trở lại đây, XK thuỷ sản Việt Nam tăng trởng mạnh, liên tục và đạt
bình quân 15-18%/năm, là một trong ba ngành hàng mang lại nhiều ngoại tệ nhất
cho đất nớc. Nếu năm 1991 thu đợc 278.8 triệu USD thì năm 2000 lên 1,4 tỉ USD
(tăng gấp 5 lần), năm 2001 đạt 1,75 tỉ USD, tăng gấp 6,3 lần năm 1991. Hàng thuỷ
sản của Việt Nam đã có mặt trên 60 nớc, đợc FAQ xếp vị trí 18 về sản lợng thuỷ
sản. thứ 26 về XK thuỷ sản.
1.2. Đặc điểm thị trờng Nhật Bản
Là một trong ba trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới, với qui mô GDP hàng năm
là 6900 USD/ngời, Nhật Bản hiện là một trong những thị trờng nhập khẩu hàng hoá
hấp dẫn và lớn hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, việc thâm nhập vào thị trờng này
không hề dễ dàng. Độ mở cửa của Nhật Bản thấp, chỉ số XNK/GDP xấp xỉ 20%.
Nh vậy, khả năng thâm nhập của hàng ngoại vào thị trờng Nhật Bản là tơng đối
khó. Thông qua việc cho vay và các chính sách hỗ trợ làm cơ sở cho các dự án đầu
t và hợp tác với các quốc gia khác, Nhật Bản có vị trí cao nhất về kinh tế và chính
trị trong khu vực Châu á Thái Bình Dơng và vị thế cao trên trờng Quốc tế.
Tổng cộng 336.296 331.453 279.063 287.369 288.104
Thị phần nhập khẩu 90,5% 90,3% 89,8% 90,1% 90,1%
Nguồn: Viện ngiên cứu hải sản
Làm tròn số : trung tâm thông tin KHKT và Kinh tế thuỷ sản
b. Chữ tín đi đầu trong kinh doanh
Theo nhận định chung của nhiều chuyên gia kinh tế, Nhật Bản là một thị trờng
đặc biệt khó tính, nhng khi đã gây đợc lòng tin với khách hàng thì rất thuận lợi
trong kinh doanh. Nhìn chung, ngời Nhật Bản trọng uy tín, sự trung thực và thờng
theo đuổi kế hoạch làm ăn lâu dài. DN XK cần đảm bảo thời gian giao hàng đúng
thời điểm, đồng thời duy trì chất lợng sản phẩm ổn định. Bởi, nếu DN Nhật phát
7
hiện ra đối tác nào đang lừa dối họ thì mọi sự hợp tác làm ăn sẽ chấm dứt ngay. Các
DN nên theo sát diễn biến tình hình thị trờng, thị hiếu, sức mua của ngời tiêu dùng
để kịp thời cải tiến sản phẩmcho phù hợp. Khi lô hàng có sai sóthay h hỏng bị phía
đối tác khiếu nại, nhà XK nên thành thật nhận sai sót và thậm chí chịu bồi thờng
thiệt hại để tạo sự tin cậy của khách hàng. Có nh vậy mới tạo đợc mối quan hệ làm
ăn lâu dài.
c. Hàng nhập khẩu phải đạt tiêu chuẩn chất lợng
Thị trờng Nhật tiêu thụ hàng hoá từ rất nhiều nguồn. Do đó tính độc đáo và chất
lợng là những yếu tố mang tính quyết định. Chính vì thế hnàg hoá XK sang Nhật
phải thể hiện đợc những đặc trng khác so với những sản phẩm cùng loại, có mẫu
mã bao bì, độc đáo, hay sử dụng những nguyên liệu mới; nếu không thì phải cạnh
tranh bằng giá cả. Tại thị trờng Nhật Bản, trớc khi mua hàng, ngời tiêu dùng thờng
muốn biết rõ những chi tiết về hàng hoá chứ không chỉ gọi tên chung chung. Thật
ra, thị trờng Nhật có nhu cầu rất lớn về sản phẩm giá rẻ chứ không đơn thuần là các
sản phẩm cao cấp, song các sản phẩm giá rẻ đó vẫn phải nằm trong chuẩn mực tiêu
chuẩn chất lợng. Có thể khẳng định, thị trờng Nhật rất chuộng các sản phẩm đạt
tiêu chuẩn chất lợng hàng hoá nhng điểm khác biệt ở đây là là phải đạt theo tiêu
chuẩn Nhật. Cũng nh Mỹ và EU, hệ thống tiêu chuẩn hàng hoá ở Nhật đòi hỏi rất
cao. Các tiêu chuẩn này đợc các cơ quan Nhật chuẩn hoá bằng những chứng nhận
nhất, đồng thời cần đa hàng hoá vào các mạng lới lu thông và phân phối của thị tr-
ờng Nhật mới dễ đợc tiêu thụ. Hiện nay trên thị trờng Nhật Bản, phần lớn hải sản
NK bỏ qua các chợ sỉ. Ngày càng có nhiều trờng hợp các nhà chế biến thực phẩm
buôn bán sỉ, lẻ thực phẩm và các nhà hàng nhập hàng trực tiếp nhằm rút ngắn quá
trình phân phối. Bên cạnh đó, tận dụng cuộc cách mạng công nghệ thông tin, một
số nhà bán lẻ đang cung cấp thông tin về các loại hải sản qua hệ thống máy vi tính.
Ngoài ra, các nhà bán lẻ địa phơng đang bán đặc sản của họ khắp nớc nhờ internet.
Một số nhà bán lẻ cá sống có qui mô nhỏ hơn không địch lại các siêu thị lớn về số
lợng và chủng loại thì lại chuyển qua cung cấp theo từng gu của khách hàng. Khi
có một loại hải sản một khách hàng nào đó a thích, những ngời bán lẻ này sẽ điện
thoại thông báo cho khách hàng và chuyển đến tận nơi nếu khách hàng đặt mua.
9
DN Việt Nam XK thuỷ sản sang Nhật cần lu y những thông tin này để thiết lập một
mạng lới kinh doanh, phân phối có hiệu quả cao tại Nhật.
e. Cẩn thận trong việc chọn đối tác
Về thanh toán, có hai hình thức thanh toán thông dụng ở thị trờng Nhật Bản, đó
là thanh toán bằng chuyển tiền (TTR) và thanh toán qua th tín dụng (L/C). Với hai
hình thức này, các DN Nhật Bản có thể kiểm tra kĩ lỡng số hàng đợc giao về số l-
ợng, chất lợng yêu cầu, độ đồng đều về hàng hoá trớc khi có quyết định thanh toán.
Lô hàng đầu tiên, các DN Nhật Bản thờng đặt với số lợng nhỏ để thăm dò khả năng
hợp tác, kinh doanh với đối tác. Khi soạn thảo hợp đồng, họ thờng trả giá rất chi li.
Kinh nghiệm của các DN đi trớc cho thấy, khi chào hàng, bên chào hàng chỉ nên đa
ra một vài mặt hàng chủ chốt, độc đáo, dễ nhớ, dễ gây ấn tợng nhất. Tóm lại, xây
dựng quan hệ làm ăn với Nhật Bản cần phải bài bản, kiên trì và tạo uy tín.
f. Qui dịnh nhập khẩu chặt chẽ
Cũng nh các quốc gia khác, Nhật Bản duy trì chế độ kiểm tra hải quan đối với
hàng NK. Tuy nhiên, đối với hàng thuỷ sản, trớc khi làm thủ tục hải quan, các mặt
hàng này phải đợc kiểm dịch và kiểm tra vệ sinh thực phẩm. Tuỳ thuộc vào việc
thuỷ sản XK có đạt yêu cầu về kiểm dịch và về vệ sinh thực phẩm hay không mà
DN có thể đợc làm thủ tục hải quan tiếp tục hay phải dừng lại (xuất trả lại ngời gửi,
kinh tế trong 6 tháng đầu năm và thực trạng manh mún của nghề cá ngừ đại dơng.
b. Về nuôi trồng thuỷ sản
Trong 6 tháng đầu năm, diện tích chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản đạt
35.300 ha, bằng 70,6% kế hoạch năm, đa diện tích nuôi thuỷ sản của cả nớc lên
1.050.300 ha, bằng 98,6% kế hoạch năm. Trên phạm vi cả nớc, việc giải quyết
nguồn tôm bố mẹ năm nay thuận lợi hơn 2003, về cơ bản đáp ứng nhu cầu nuôi tôm
giống. Tuy nhiên, việc quản lí vùng nuôi trồng thuỷ sản vẫn còn yếu kém. Tình
trạng tự phát, thiếu tổ chức thực hiện qui hoạch khá phổ biến. Giải quyết thuỷ lợi
cha theo kịp với mở rộng diện tích. Tại một số vùng nuôi tập trung dịch bệnh phát
sinh lan rộng với tốc độ khá nhanh có thể do yếu tố môi trờng nớc.
c. Về chế biến thuỷ sản
11
Về nguyên liệu chế biến, tôm vẫn là nguyên liệu chủ yếu. Nguồn nguyên liệu
từ 6 tháng đầu năm nuôi trồng đạt thấp. Giá tôm nguyên liệu lúc khan hiếm quá
cao, trong thời gian từ 6 tháng đầu năm đến nay, khi nguyên liệu dồi dào thì lại
giảm trầm trọng ảnh hởng tới lợi ích ngời nuôi. Việc quản lí chất lợng nguyên liệu
cha tốt, trang thiết bị kiểm nghiệm và năng lực phân tích chất lợng nguyên liệu
thiếu và yếu. Việc bơm tạp chất vào nguyên liệu thuỷ sản gây ra giảm sút chất lợng
và uy tín hàng thuỷ sản Việt Nam, song việc xử lí cha triệt để.
d. Về năng lực chế biến
Các DN chế biến thuỷ sản tiếp tục đầu t đổi mới công nghệ, thiết bị. Tuy nhiên,
tình trạng tiếp tục đầu t xây dựng cơ sở chế biến trong khi cha có qui hoạch hoặc có
qui hoạch song cha kĩ.
e. Về thị trờng và giá XK
Do ảnh hởng vụ kiện phá giá tôm của Mỹ, giá trị kim ngạch XK vào Mỹ quí
I/2004 giảm 16,5% so với cùng kì. Thị trờng Nhật Bản có khả quan hơn, giá trị kim
ngạch XK vào Nhật tăng 32,5%, đa tỉ trọng XK sang Nhật lên 26,2%. Tuy nhiên,
việc XK sang Nhật đang tiềm ẩn khó khăn do đòi hỏi truy xuất nguồn gốc và cạnh
tranh từ các nguồn cung cấp khác. 6 tháng đầu năm giá trị XK vào EU tăng 36,8%,
đa tỉ trọng XK vào thị trờng này đạt 7,8% (tăng 1,9% so với cùng kì). Trong khi đó,