A. Các phương thức thanh toán quốc tế cơ bản trong
thương mại quốc tế
Phương thức thanh toán là cách thức người hưởng lợi đòi tiền người trả tiền
và người trả tiền trả tiền cho người hưởng lợi.
Trong thực tế thanh toán quốc tế hiện nay, người ta thường chỉ sử dụng bốn
phương thức thanh toán: phổ biến nhất là tín dụng chứng từ, sau là đến chuyển tiền,
mở tài khoản và một số lượng nhỏ các giao dịch sử dụng phương thức nhờ thu vì đây
là bốn phương thức thanh toán có nhiều ưu điểm và phù hợp với thông lệ quốc tế cũng
như hoạt động thanh toán quốc tế.
1. Phương thức chuyển tiền (Remittance).
(Sẽ được giới thiệu ở phần sau)
2. Phương thức mở tài khoản (Open account).
(Sẽ được giới thiệu ở phần sau)
3. Phương thức nhờ thu (Collection).
“ Phương thức thanh toán nhờ thu là một phương thức thanh toán quốc tế trong đó người
xuất khẩu (người bán) sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, hoặc cung ứng dịch vụ
cho người nhập khẩu (người mua), uỷ thác cho Ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền
ở người nhập khẩu nước ngoài, trên cơ sở hối phiếu do người xuất khẩu ký phát”.
Trong thanh toán quốc tế, khi sử dụng phương thức này các nước thường vận dụng “
Bản quy tắc thông nhất về nhờ thu chứng từ thương mại – ICC 522” do phòng thương
mại quốc tế Paris ban hành, bản sửa đổi năm 1995.
4. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C – Letter of credit).
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là sự thỏa thuận, trong đó, một ngân
hàng (ngân hàng mở tín dụng - the issuing bank) theo yêu cầu của một khách hàng
(người xin mở tín dụng - applicant for credit) sẽ trả cho người thứ ba hoặc trả cho bất
cứ người nào theo lệnh của người thứ ba đó (gọi là người hưởng lợi - beneficiary); hoặc
sẽ trả, hoặc chấp nhận và thanh toán hối phiếu do người hưởng lợi phát hành; hoặc ủy
quyền cho một ngân hàng khác thanh toán; chấp nhận và thanh toán hoặc cho phép
ngân hàng khác chiết khấu chứng từ với điều kiện chúng phù hợp với tất cả mọi quy
1
định và điều kiện của thư tín dụng.
(thông lệ quốc tế và tập quán quốc tế) và pháp luật quốc gia.
1. Các thông lệ quốc tế và tập quán ngân hàng quốc tế
a) Bản quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP)
22
Bản quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ lần đầu tiên được áp dụng vào
năm 1993 (gọi tắt là UCP 500) do Phòng Thương mại Quốc tế ban hành nhắm thống nhất những
nội dung và sự hiểu biết chung trong iao dịch thương mại quốc tế giữa các khu vực, các châu lục.
UCP5000 đã vượt qua quãng thời gian tồn tại hơn mười năm, vì vậy có những vấn đề không còn
phù hợp với thực tiễn ứng dụng và sự phát triển của các ngành vận tải, bảo hiểm, công nghệ và
viễn thông.
Vì những lý do trên, tháng 5 năm 2003, Ủy ban ngân hàng của ICC đã ra quyết định sửa đổi
UCP500, thành lập nhóm soạn thảo để nghiên cứu, tập hợp ý kiến và dự thảo UCP600. UCP600
bao gồm 39 điều khoản, đã được hoàn tất vào tháng 10 năm 2006 và có hiệu lực từ ngày
01/07/2007.
b) Một số văn bản pháp lý quan trọng khác
- Quy tắc thống nhất về nhờ thu - bản sửa đổi năm 1995 số 522 (URC, rEv 1995, Pub 522,
ICC).
- Quy tắc hoàn trả liên hàng theo phương thức tín dụng chứng từ - bản sửa đổi số 525, năm
1995 (UrR, REV 1995, Pub 525, ICC).
- Luật thống nhất về hối phiếu theo công ước Geneve năm 1930 (ULB 1930 Geneve).
- Công ước Geneve về Séc quốc tế năm 1931 (Geneve Conventions for Check 1931) v v
2. Luật quốc gia điều chỉnh quan hệ thanh toán quốc tế
Đây là nguồn pháp luật cơ bản điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động
thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng.
- Bộ luật dân sự 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Luật thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Luật các tổ chức tín dụng 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Pháp lệnh ngoại hối 2005 và Nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định chi tiết
pháp lênh ngoại hối …
C. Một số lưu ý khi lựa chọn phương thức thanh toán quốc tế.
tiền cho người hưởng lợi
(4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người hưởng lợi
Các nghiệp vụ ngân hàng chuyển tiền
Đối với ngân hàng có hai nghiệp vụ chuyển tiền đi và chuyển tiền đến.
Khi chuyển tiền đi, nghiệp vụ ngân hàng diễn ra theo 4 b ước: (1) tiếp nhận hồ sơ xin
chuyển tiền; (2) Kiểm tra hồ sơ chuyển tiền đi; (3) Lập điện chuyển tiền và (4) Hạch toán - Lưu hồ
sơ.
(Hình 4.2.)
Hình 4.1. Trình tự nghiệp vụ thanh toán chuyển tiền
Hình 4.2. Trình tự
44
Khi chuyển tiền đến, ngân hàng thực hiện thanh toán theo ba bước: (1) Tiếp nhận lệnh
chuyển tiền; (2) Thanh toán cho người hưởng lợi và (3) Lưu hồ sơ.
(Hình 4.3.)
Các yêu cầu về chuyển tiền
Muốn chuyển tiền ra nước ngoài phải có giấy phép của Bộ chủ quản và hoặc Bộ Tài
chính. Chuyển tiền thanh toán trong ngoại thương phải có các giấy tờ sau đây:
(1) Hợp đồng mua bán ngoại thương
(2) Bộ chứng từ gửi hàng của người xuất khẩu gửi đến
(3) Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu
(4) Ủy nhiệm chi ngoại tệ và phí chuyển tiền
Người chuyển tiền cần viết đ ơn chuyển tiền gửi đến VCB hoặc một ngân h àng thương
mại được phép thanh toán quốc tế, trong đơn cần ghi đủ:
(1) Tên địa chỉ của người hưởng lợi, số tài khoản nếu người hưởng lợi yêu cầu
(2) Số ngoại tệ xin chuyển cần ghi rõ bằng số và bằng chữ, loại ngoại tệ
(3) Lý do chuyển tiền
(4) Những yêu cầu khác
(5) Ký tên, đóng dấu
Trường hợp chuyển tiền cá nhân, theo qui định Quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam các khoản ngoại tệ muốn chuyển ra nước ngoài đều phải có nguồn gốc từ
người ta có thể thực hiện chuyển tiền trước khi giao hàng trong trường hợp người mua ứng trước
một phần tiền hàng cho người bán. Khoản tiền này thực chất là một khoản tín dụng do người
mua cấp cho người bán, hay cũng có thể coi là một khoản tiền đặt cọc để tạo sự yên tâm cho bên
bán giao hàng đồng thời ràng buộc người mua phải nhận hàng. Trong tình huống này, hai bên
cần ghi rõ trong hợp đồng mua bán. Người ta cũng có thể vận dụng hình thứuc chuyển tiền trả
chậm một khoảng thời gian sau khi giao hàng mà thực chất đây là một hình thức mua bán chịu.
Ngược lại với tình huống trên, trong tình huống này chính là người bán cấp tín dụng cho người
mua
Nhận xét
Phương thức chuyển tiền thủ tục đ ơn giản, nhanh chóng, tiện lợi. Ngân hàng chỉ đóng vai
trò trung gian thanh toán, việc trả tiền nhanh hay chậm hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và
thiện chí người chuyển tiền hay người trả tiền, nếu trong quan hệ thương mại thì đó chính là
người mua, người nhập khẩu. Do vậy phương thức này không đảm bảo quyền lợi cho người xuất
khẩu, tức là người hưởng lợi, tốc độ thanh toán thường chậm.
Trường hợp áp dụng
Do phương thức chuyển tiền mức độ an toàn trong thanh toán thấp, nó chỉ nên sử dụng
cho các mối quan hệ giữa các đối tác tin cậy lẫn nhau hoặc quy mô thanh toán nhỏ. Nó thường
được áp dụng cho các trường hợp chuyển vốn đầu tư, chuyển tiền tư nhân, chuyển tiền chính
phủ, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài hoặc cho các nghiệp vụ thanh toán phi mậu dịch khác.
Tronhg quan hệ thanh toán mậu dịch, không nên sử dụng trong thanh toán hàng xuất khẩu mà
chỉ nên sử dụng trng thanh toán hàng nhập khẩu.
Thông thường, phương thức chuyển tiền được thực hiện sau khi giao hàng, trên thực tế
người ta có thể thực hiện chuyển tiền trước khi giao hàng trong trường hợp người mua ứng trước
một phần tiền hàng cho người bán. Khoản tiền này thực chất là một khoản tín dụng do người
mua cấp cho người bán, hay cũng có thể coi là một khoản tiền đặt cọc để tạo sự yên tâm cho bên
bán giao hàng đồng thời ràng buộc người mua phải nhận hàng. Trong tình huống này, hai bên
cần ghi rõ trong hợp đồng mua bán. Người ta cũng có thể vận dụng hình thứuc chuyển tiền trả
chậm một khoảng thời gian sau khi giao hàng mà thực chất đây là một hình thức mua bán chịu.
Ngược lại với tình huống trên, trong tình huống này chính là người bán cấp tín dụng cho người
mua, nó có lợi cho người mua.
Thứ bảy, việc chuyển tiền thanh toán chậm của ng ười mua được giải quyết thế nào, có
phạt chậm trả không, mức phạt bao nhiêu, tính từ lúc nào?
Thứ tám, nếu phát sinh sự khác nhau giữa số tiền ghi nợ của người bán và số tiền nhận
nợ của người mua thì giải quyết thế nào?
Nhận xét
Trong phương thức ghi sổ, thực chất là người bán cho người mua vay số tiền trả chậm,
tuy nhiên ở đây người bán có tính lãi trên số tiền trả chậm này. Như vậy, hàng hoá sau khi đã
giao cho người mua thì người bán mới chỉ nhận được một phần số tiền hàng, do vậy mặc dù có
tính lãi trên số tiền trả chậm thì rủi ro đối với người bán là vẫn cao. Đối với người mua thì có thể
giải quyết được vấn đề thiếu vốn tức thời, nhưng họ lại phải chịu g iá cao hơn do phải trả lãi trên
số tiền sẽ trả định kỳ.
Trường hợp áp dụng
Với đặc điểm của phương thức ghi sổ, nó sẽ phù hợp trong trường hợp nhà nhập khẩu
khan hiếm ngoại tệ, khi đó họ chấp nhận trả giá cao hơn, đổi lại họ sẽ mua được hàng hoá. Nó
cũng phù hợp trong các mối quan hệ mua bán hàng đổi hàng hoặc hàng bán giao làm nhiều lần.
Phương thức này chỉ áp dụng giữa các bên có quan hệ mua bán thường xuyên và tin cậy lẫn
nhau, giữa nội bộ các công ty với nhau, giữa công ty mẹ và công ty con. Nó cũng có thể được áp
dụng trong các thanh toán phi mậu dịch.
F. Thực trạng áp dụng & đề xuất giải pháp của hai phương thức
thanh toán này ở Việt Nam.
1. Phương thức chuyển tiền:
• Phương thức chuyển tiền ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế. Nó được
sử dụng chủ yếu trong thanh toán phi mậu dịch, cũng như các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập
khẩu hàng hoá như cước vận tải, bảo hiểm, bồi thường…
Các ngân hàng áp dụng phương thức Điện chuyển tiền T/T:
Ngân hàng ngoại thương VN ( Vietcombank)
Ngân hàng Techcombank.
Ngân hàng thương mại Á Châu (ACB)
Ngân hàng đầu tư và phát triển VN (BIDV)
Ngoài những ngân hàng lớn trên thì hầu hết những ngân hàng khác như HD Bank, Saigonank,
Chuyển tiền đến 72 92,3% 90 91,8% 99 90%
Chuyển tiền đi 6 7,7% 8 8,2% 11 10%
Tổng số 78 100% 98 100% 110 100%
• Những khó khăn trở ngại tại Việt Nam khi áp dụng phương thức chuyển tiền trong thanh
toán quốc tế.
Thực tế, nhiều trường hợp, nhà nhập khẩu sẽ không chuyển tiền hàng cho nhà xuất khẩu
cho đến khi nhận đầy đủ hàng. Đây là một lợi thế của nhà nhập khẩu nhưng lại là rủi ro
của nhà xuất khẩu khi hàng hóa đã được chuyển giao nhưng tiền hàng không được thanh
toán, bị chậm trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ. Tuy vậy, bên nhập khẩu cũng
có thể gánh chịu rủi ro, đặc biệt trong trường hợp chuyển tiền trước khi giao hàng như:
nhận toàn bộ tiền hàng trước khi giao hàng, đặt cọc, tạm ứng… Trong trường hợp này
nhà nhập khẩu có thể sẽ phải gánh chịu rủi ro nếu tiền đã chuyển mà hàng không được
giao đúng thời hạn, đúng chất lượng hoặc số lượng, vì vậy thanh toán quốc tế bằng
phương thức chuyển tiền là một trong những phương thức rủi ro nhất vì vậy khó khăn
đầu tiên chính là sự tin tưởng giữa các bên, vì vậy phương thức này thường được sử dụng
với những khoản tiền có giá trị nhỏ ở VN thường dưới 30.000USD.
Hệ thống ngân hàng tại Vn chưa phát triển, chưa bắt kịp với trình độ tiên tiến trên thế
giới vì vậy gây rất nhiều khó khăn khi áp dụng phương thức này:
Đầu tiên là về phần nhân lực mặc dù hiện này ngành ngân hàng đang trở thành
một trong những ngành hấp dẫn nhất nhưng việc đào tạo nhân lực vẫn chưa đạt
yêu cầu, chưa có sự liên kết giữa các trường đại học và cao đẳng với các ngân
hàng. Đặc biệt là trong lĩnh vực thanh toán quốc tế nơi có yêu cầu rất cao về
nghiệp vụ và ngoại ngữ vì làm việc với những đối tác nước ngoài.
Thời gian hoạt động của các ngân hàng thương mại tại VN cũng còn quá ít so với
những ngân hàng thương mại lớn trên thế giới do vậy kinh nghiệm hoạt động và
kỹ thuật của các ngân hàng tại VN còn thiếu và chưa thể đáp ứng đủ yêu cầu
chung cho tiêu chuẩn một ngân hàng hiện đại trong khu vực.
Các hình thức thanh toán dù được mở rộng nhưng chưa có cơ sở vật chất đầy đủ,
nhiều khi dẫn đến những sai sót không đáng có.
• Giải pháp: