TIỂU LUẬN:
Một số giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao chất lượng sản phẩm ở
từng bộ phận sản xuất tại Công ty
Sứ Thanh Trì Hà Nội
Lời nói đầu
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hiện nay cùng với quá trình mở
cửa hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, sự cạnh tranh trên thị trường sẽ
ngày càng gay gắt, quyết liệt. Sức ép của thị trường, của hàng nhập lậu, của người
tiêu dùng trong và ngoài nước buộc các nhà kinh doanh và các nhà quản lý phải hết
sức coi trọng vấn đề đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây chính là chìa
khoá quan trọng góp phần nâng cao sức cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường của các
doanh nghiệp. Để làm được điều này đòi hỏi doanh nghiệp trươc tiên phải có một hệ
thống quản lý tốt, có khả năng thích nghi cao với sự biến động của thị trường.
Chương I:
thực trạng sản xuất kinh doanh của
Công ty hiện nay
tư thế sẵn sàng sản xuất. Chỉ trong vòng 46 ngày cuối năm 1992, sau khi được phép
hoạt động trở lại, nhà máy đã sản xuất được 20.400 sản phẩm với chất lượng cao
hơn hẳn các năm trước, sản lượng gấp 3,4 lần sản lượng của cả hai năm 1990, 1991.
Từ đó cho đến nay sản lượng cũng như doanh thu của Nhà máy đã tăng trưởng
không ngừng qua mỗi năm sản xuất.
Ngày 24/3/1993 Nhà máy được nhận quyết định thành lập doanh nghiệp Nhà
nước (QĐ076A/BXD - TCLĐ)
Ngày 30//9/1994 để phù hợp với tình hình mới nhà máy đổi lên thành Công
ty Sứ Thanh Trì Hà Nội trực thuộc Tổng Công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng
(QĐ484/BXD - TCLĐ) và duy trì từ đó đến nay.
II. Những đặc trưng kinh tế kỹ thuật của Công ty
1. Đặc điểm của quy trình công nghệ sản xuất
Trong các doanh nghiệp, công nghệ sản xuất là yếu tố ảnh hưởng lớn tới chất
lượng sản phẩm. Quy trình công nghệ của Công ty Sứ Thanh Trì có thể khái quát
theo sơ đồ sau:
Sơ đồ: Quy trình công nghệ của Công ty Sứ Thanh Trì Hà Nội
Cân định
lư
ợng
Nghiền bi
Sàng và khử
t
ừ
động hoá cao như:
+ Bên nguyên liệu có máy nghiền bi, hệ thống bơm hồ đổ rót, hệ thống sàng
khử từ đều đạt tiêu chuẩn Châu Âu.
+ Bên tạo hình có các hãng két MCO28E2, hãng chậu LVA110V2, băng
ASTB, băng bệt LBRE3, băng BCC60, băng ĐRBCC59 đều được nhập từ Italy.
+ Bên lò nung có hai loại lò nung hiện đại.
- Lò Tuynel là lò nung kín được nhập từ Italy tương đối hiện đại công suất
thiết kế của dây chuyền là 75.000sản phẩm/năm. Nhưng với sự sáng tạo trên cơ sở
khoa học của tập thể cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty đã đưa công suất
dây truyền lên 100.0000sản phẩm/năm.
- Lò nung Shuttel là lò nung liên hoàn được nhập từ Mỹ có tính tự động hoá
cao có công suất 7.400.000sản phẩm/năm.
Hiện nay năng lực sản xuất của Công ty là 500.000 - 600.000sản phẩm/năm
đứng đầu so với các doanh nghiệp cùng ngành khác.
4. Đặc điểm về lao động - Do tính đặc thù của công việc nên cán bộ công nhân viên của Công ty chủ
yếu là nam giới, Công ty cơ sở học lượng lao động tuổi trung bình tương đối trẻ.
Cán bộ của Công ty hiện nay đa số đã có bằng đại học, công nhân có tay nghề cao
làm việc có trách nhiệm, gắn bó với Công ty.
- Hiện nay Công ty có khoảng 700 cán bộ công nhân viên, lương bình quân
trên 1 triệu đồng/tháng.
- Công ty kết hợp hài oà giữa lao động thủ công và máy móc thiết bị do vậy
chất lượng sản phẩm và năng suất lao động ngày càng được nâng cao.
5. Đặc điểm về tổ chức quản lý Công ty.
- Mặc dù doanh nghiệp có quy mô tương đối lớn nhưng Công ty Sứ Thanh
Trì lại có bộ máy quản lý rất gọn nhẹ theo mô hình trực tuyến chức năng.
Theo đó mọi thông tin đều được tập trung tại Phòng giám đốc và các quyết
định quản lý cũng được xuất phát từ đây. Theo chức năng các phòng được chia ra.
* Nguyên nhân khách quan: do nhà cung cấp nguyên liệu cho Công ty
không đảm bảo chất lượng đồng đều. Để khắc phục tình trạng này Phòng kỹ thuật
cần kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ nguyên vật liệu về và Công ty nên đầu tư mở rộng
kho nguyên vật liệu để nguyên vật liệu cùng một lô hàng cung cấp cho sản xuất
trong một thời gian dài hơn. Như vậy thì sẽ dễ dàng hơn trong việc điều chỉnh các
bài hồ và men.
* Nguyên nhân chủ quan: do cán bộ quản lý ở bộ phận này còn xao nhãng
trong việc quản lý công nhân dẫn đến tình trạng này cán bộ quản lý cần tăng cường
đôn đốc, động viên hướng dẫn công nhân đẻ mọi người thấy rõ được tầm quan trọng
ở khâu này nó ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm cuối lò ra sao, có như vậy chất
lượng sản phẩm mới được nâng cao và thu nhập của mọi người được tăng lên và ổn
định lâu dài.
II. Bộ phận tạo hình sản phẩm.
Hiện nay tại bộ phận này sản phẩm được tạo hình bởi khuôn thử công và các
băng máy. Sản phẩm hiện nay của Công ty đa dạng về mẫu mã, phức tạp về kiểu
dáng do đó đòi hỏi công nhân phải có tay nghề cao, sức khoẻ tốt thì mới tạo ra được các sản phẩm như ý. Tại khâu này hiện nay tình hình lao động sản xuất của
cán bộ công nhân viên là tương đối tốt, cán bộ có trình độ chuyên môn cao, công
nhân lành nghề. Tuy nhiên còn xảy ra một số vấn đề ảnh hưởng tới chất lượng sản
phẩm như: tinh thần trách nhiệm của một số cong nhân chưa cao, chưa ý thức được
chất lượng sản phẩm tại khâu này là rất quan trọng nên xảy ra một số hành động
cẩu thả sau: cạo biva không kỹ, bóc khuôn nứt mộc thì hàn gắn qua loa dẫn đến nứt
mộc và khuyết tật xương ở sản phẩm cuối lò.
Để khắc phục tình trạng này thì cán bộ quản lý cần thường xuyên đôn đốc
nhắc nhở, giảm sút thường xuyên hơn nữa, luôn có thưởng, phạt kịp thời chính xác,
giác ngộ công nhân để họ thấy được tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm ở
khâu này. Nên điều động những người có tay nghề cao vào các khuôn mẫu phức
- Lò nung Tuynel sử dụng nhiên liệu dầu D.O dùng để nung lại sản phẩm
loại (B) của lò nung Shuttel xen kẽ với nung mộc lò nung này có tỷ lệ đạt khá cao
nhưng chi phí cao và công suất nhỏ.
- Lò nung Shuttel sử dụng nhiêu liệu gas là lò nung liên hoàn tự động hoá
cao dùng để nung sản phẩm mộc chi phí thấp hơn và có công suất lớn.
Cả hai lò đều tương đối hiện đại nên sản phẩm hư hỏng do lò nung ít hơn
các bộ phận khác. Tuy nhiên vẫn còn một số khuyết tật do lò nung như: Bụi lò, giọt
lò, đính sứt, nứt vỡ di xếp goòng
Để khắc phục các khuyết tật này đòi hỏi phải có sự quản lý khoa học theo dõi
thường xuyên liên tục các chỉ số, thông số kỹ thuật của lò. Điều chỉnh kịp thời các
thông số đưa về quy chuẩn, đôn đốc khích lệ tinh thần trách nhiệm của công nhân lò
tránh làm ẩm khi xếp goòng, dỡ goòng, quét chống dính
Như vậy thì chất lượng sản phẩm tại bộ phận này ngày càng được cải thiện
để đạt được mục đích của Công ty đề ra là tối thiểu đạt được 80% sản phẩm (A) ở
cuối lò.
V. Bộ phận phân loại - đóng gói.
Tại bộ phận này cán bộ công nhân viên làm việc khá hiệu quả có tinh thần
trách nhiệm cao. Tuy nhiên ở bên đóng gói và phân loại đôi khi công nhân viên còn
mất tập trung công việc để sản phẩm không đủ tiêu chuẩn lọt ra thị trường làm mất
uy tín của Công ty. Tại bộ phận đóng gói tinh thần trách nhiệm chưa cao thường ỷ lại vào bên
phân loại, chỉ biết công việc của mình là đóng gói sản phẩm chưa ý thức đầy đủ là
chính mình là người kiểm tra chất lượng sản phẩm lần cuối cùng trước khi sản
phẩm được tung ra ngoài thị trường.
* Biện pháp khắc phục.
+ Nên tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo giữa cán bộ và công nhân viên
vè đề tài chất lượng sản phẩm để mọi người cùng nhau trau dồi kiến thức về chất
vụ chính thức em sẽ hoàn thành tốt công việc của mình, góp phần đưa Công ty mình
thành công ty không chỉ có danh tiếng trong nước mà còn thương hiệu nổi tiếng trên
trường quốc tế. Mục lục
Lời nói đầu
Chương I: Thực trạng sản xuất kinh doanh của Công ty hiện nay
I. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 3
II. Những đặc trưng kinh tế kỹ thuật của Công ty 4
1. Đặc điểm của quy trình công nghệ sản xuất 4
2. Đặc điểm về cơ cấu sản phẩm của Công ty 6
3. Đặc điểm về máy móc thiết bị 6
4. Đặc điểm về lao động 7
5. Đặc điểm về tổ chức quản lý Công ty 7
chương II: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của
Công ty sứ thanh trì
Hà Nội tại các khâu sản xuất
I. Bộ phận nguyên liệu 9
II. Bộ phận tạo hình sản phẩm 10
III. Bộ phận hoàn thiện mộc và phun men 10
IV. Bộ phận lò nung 11