TIỂU LUẬN: Một số ý kiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và doanh thu của Công ty sứ thanh trì Hà Nội - Pdf 11

TIỂU LUẬN:

Một số ý kiến nhằm nâng cao chất
lượng sản phẩm và doanh thu của
Công ty sứ thanh trì Hà Nội
Lời nói đầu

Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hiện nay cùng với quá trình
mở cửa hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, sự cạnh tranh trên thị trường
sẽ ngày càng gay gắt, quyết liệt. Sức ép của thị trường, của hàng nhập lậu, của
người tiêu dùng trong và ngoài nước buộc các nhà kinh doanh và các nhà quản lý
phải hết sức coi trọng vấn đề đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây
chính là chìa khoá quan trọng góp phần nâng cao sức cạnh tranh, chiếm lĩnh thị
trường của các doanh nghiệp. Để làm được điều này đòi hỏi doanh nghiệp trươc
tiên phải có một hệ thống quản lý tốt, có khả năng thích nghi cao với sự biến động
của thị trường.
Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO - 9000 hiện đang là mô
hình quản lý được áp dụng rộng rãi nhất trên thế giới do những lợi ích thiết thực
mà nó đem lại cho các doanh nghiệp áp dụng. Việc áp dụng hệ thống này chính là

Chương I - thực trạng sản xuất kinh doanh của Công ty hiện nay

I. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty Sứ Thanh Trì (tên giao dịch: Thanh Trì Sanitary Wase Company)
là một doanh nghiệp Nhà nước có trụ sở tại xã Thanh Trì - huyện Thanh Trì - Hà
Nội. Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Công ty là sản xuất vật liệu xây dựng.
Công ty có nguồn gốc sơ khai từ một cơ sở sản xuất bát của tư nhân. Sau khi được
tiếp quản thành xí nghiệp quốc doanh, Công ty đã trải qua nhiều bước thăng trầm
để có được sự phát triển như ngày nay.
- Giai đoạn 1961 - 1987: Tháng 3 - 1961, xưởng gạch Thanh Trì được
thành lập, sau đó đổi tên thành xí nghiệp gạch Thanh Trì, trực thuộc Liên hiệp các
xí nghiệp sành sứ Thuỷ Tinh. Nhiệm vụ chủ yếu của xí nghiệp là sản xuất các loại
gạch lá nem, gạch chịu lửa cấp thấp, gạch lát vỉa hè, ống máng thoát nước Sản
lượng sản xuất trong giai đoạn này rất nhỏ, chỉ khoảng vài trăm viên mỗi loại.
Năm 1980, xí nghiệp lại đổi tên thành Nhà máy sành sứ xây dựng Thanh Trì và bắt
đầu sản xuất các loại sản phẩm sứ có tráng men.
- Giai đoạn 1988 - 1991: Trong khi Nhà nước chuyển đổi cơ chế quản lý từ
bao cấp sang cơ chế thị trường thì nhà máy vẫn quen cách làm ăn cũ. Sản phẩm
làm ra có chất lượng kém, mấu mã đơn điệu, chi phí sản xuất lại quá cao, do đó đã không thể cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại ở trong nước cũng như của
nước ngoài. Nhà máy đứng bên bờ của sự phá sản.
- Giai đoạn 1992 - đến nay: Được sự giúp đỡ của Lãnh đạo Bộ xây dựng
và Liên hiệp các xí nghiệp Thuỷ tinh và Gốm xây dựng (nay là Tổng Công ty
Thuỷ tinh và Gốm xây dựng). Nhà máy đã vượt qua thời kỳ khó khăn. Bên cạnh
việc bố trí lại tổ chức nhân sự, Tổng Công ty đã quyết định đặt nhà máy dưới sự
chỉ đạo trực tiếp của Tổng giám đốc. Nhận thức rõ vai trò của công nghệ trong
quyết định chất lượng sản phẩm, Tổng giám đốc đã chỉ đạo nhà máy ngừng sản
xuất để tập trung nghiên cứu công nghệ mới, đổi mới thiết bị và điều kiện làm
2. Đặc điểm về cơ cấu sản phẩm của Công ty.
Hiện nay Công ty vào nhóm sản phẩm sứ cao cấp sau:
Bộ phận
khuôn

Mẫu
Khuôn mẹ

Mộc trắng
Hoàn thiện
sơ b


Sấy cưỡng
b
ức

Kiểm tra hoàn
thi
ện mộc

Phun men dán
ch


Lò nung
Kiểm tra
phân lo
ại

Bộ phận men
Nguyên liệu
Cân định

ợng

Nghiền bi
Sàng và khử

- Về mầu sắc trước kia Công ty chỉ sản xuất một vài mẫu chính thì nay
Công ty đã cải tiến kỹ thuật mạnh dạn đưa ra các gam màu mới và đã được thị
trường hào hứng đón nhận. Do vậy bảng mẫu của Công ty hiện nay rất phong phú
về màu sắc như: trắng, ngà, xanh nhạt, xanh đậm, hồng nhạt, hồng đậm, mận, cốm,
đen
=> Sản phẩm sứ vệ sinh cao cấp của Công ty đa dạng về mẫu mã và màu
sắc có sức cạnh tranh cao, nhưng để tồn tại và phát triển hơn nữa Công ty phải
không ngừng duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm.
3. Đặc điểm về máy móc thiết bị
Hiện nay Công ty có máy móc thiết bị thuộc loại tiên tiến hiện đại, có tính
tự động hoá cao như:
+ Bên nguyên liệu có máy nghiền bi, hệ thống bơm hồ đổ rót, hệ thống sàng
khử từ đều đạt tiêu chuẩn Châu Âu.
+ Bên tạo hình có các hãng két MCO28E2, hãng chậu LVA110V2, băng
ASTB, băng bệt LBRE3, băng BCC60, băng ĐRBCC59 đều được nhập từ Italy.
+ Bên lò nung có hai loại lò nung hiện đại.
- Lò Tuynel là lò nung kín được nhập từ Italy tương đối hiện đại công suất
thiết kế của dây chuyền là 75.000sản phẩm/năm. Nhưng với sự sáng tạo trên cơ sở khoa học của tập thể cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty đã đưa công suất
dây truyền lên 100.0000sản phẩm/năm.
- Lò nung Shuttel là lò nung liên hoàn được nhập từ Mỹ có tính tự động hoá
cao có công suất 7.400.000sản phẩm/năm.
Hiện nay năng lực sản xuất của Công ty là 500.000 - 600.000sản
phẩm/năm đứng đầu so với các doanh nghiệp cùng ngành khác.
4. Đặc điểm về lao động
- Do tính đặc thù của công việc nên cán bộ công nhân viên của Công ty chủ
yếu là nam giới, Công ty cơ sở học lượng lao động tuổi trung bình tương đối trẻ.
Cán bộ của Công ty hiện nay đa số đã có bằng đại học, công nhân có tay nghề cao


I. Bộ phận nguyên liệu.
- Nguyên vật liệu làm hồ đổ rót bao gồm: đất sét, Feldspar, Quarta
- Nguyên liên men bao gồm: Feldspar, Quartz, Cao lanh, thuỷ tinh lỏng,
CaCO
3
, Mầu, CMC
Hiện nay nguồn cung ứng nguyên vật liệu cho Công ty chủ yếu là trong
nước, qua quá trình nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm Công ty đã có những bài
hồ đổ rót và men tương đối chuẩn. Nhưng hiện nay vẫn còn xảy ra hiện tượng một
số mẻ hồ và men chất lượng không được tốt dẫn đến chất lượng sản phẩm cuối lò
không được tốt, thành phẩm sản phẩm A các ngày day động lớn gây tiệt hại cho
Công ty.
* Nguyên nhân khách quan: do nhà cung cấp nguyên liệu cho Công ty
không đảm bảo chất lượng đồng đều. Để khắc phục tình trạng này Phòng kỹ thuật
cần kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ nguyên vật liệu về và Công ty nên đầu tư mở rộng
kho nguyên vật liệu để nguyên vật liệu cùng một lô hàng cung cấp cho sản xuất
trong một thời gian dài hơn. Như vậy thì sẽ dễ dàng hơn trong việc điều chỉnh các
bài hồ và men.
* Nguyên nhân chủ quan: do cán bộ quản lý ở bộ phận này còn xao nhãng
trong việc quản lý công nhân dẫn đến tình trạng này cán bộ quản lý cần tăng
cường đôn đốc, động viên hướng dẫn công nhân đẻ mọi người thấy rõ được tầm
quan trọng ở khâu này nó ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm cuối lò ra sao, có
như vậy chất lượng sản phẩm mới được nâng cao và thu nhập của mọi người được
tăng lên và ổn định lâu dài. II. Bộ phận tạo hình sản phẩm.
men. ở tổ phun men thì còn xảy ra hiện tượng.
+ Phun men không đều trên sản phẩm dẫn đến tình trạng có sản phẩm thì
bị mỏng men, sản phẩm thì bị co men.
+ Sản phẩm bị lẫn màu do khi chuyển màu men phun nổi không làm cẩn
thận.
=> Để khắc phục tình trạng này thì cán bộ lãnh đạo tại bộ phận này nên chỉ
đạo đúng đắn, kịp thời, khơi dậy tinh thần trách nhiệm của công nhân viên, tạo
môi trường thuận lợi, nhiệt tình khi làm việc. Chú trọng chất lượng cao nhất ở
trong lòng si phông về bề mặt, vì sản phẩm cuối lò đòi hỏi chất lượng ở vị trí này
rất cao.

IV. Bộ phận lò nung.
Hiện nay Công ty có 2 lò nung tương đối hiện đại và có tính tự động hoá
cao.
- Lò nung Tuynel sử dụng nhiên liệu dầu D.O dùng để nung lại sản phẩm
loại (B) của lò nung Shuttel xen kẽ với nung mộc lò nung này có tỷ lệ đạt khá cao
nhưng chi phí cao và công suất nhỏ.
- Lò nung Shuttel sử dụng nhiêu liệu gas là lò nung liên hoàn tự động hoá
cao dùng để nung sản phẩm mộc chi phí thấp hơn và có công suất lớn.
Cả hai lò đều tương đối hiện đại nên sản phẩm hư hỏng do lò nung ít hơn
các bộ phận khác. Tuy nhiên vẫn còn một số khuyết tật do lò nung như: Bụi lò,
giọt lò, đính sứt, nứt vỡ di xếp goòng
Để khắc phục các khuyết tật này đòi hỏi phải có sự quản lý khoa học theo
dõi thường xuyên liên tục các chỉ số, thông số kỹ thuật của lò. Điều chỉnh kịp thời
các thông số đưa về quy chuẩn, đôn đốc khích lệ tinh thần trách nhiệm của công
nhân lò tránh làm ẩm khi xếp goòng, dỡ goòng, quét chống dính
Như vậy thì chất lượng sản phẩm tại bộ phận này ngày càng được cải thiện

thanh trì Hà Nội

I. Thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty Sứ Thanh Trì
1. Doanh thu tiêu thụ của Công ty.
Hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm qua là tương đối tốt,
cụ thể là doanh thu không ngừng tăng trưởng qua từng năm và đã hoàn thành kế
hoạch, vượt kế hoạch của Ban lãnh đạo giao cho phòng kinh doanh. Hiện nay
doanh thu của Công ty đã vượt qua ngưỡng 100 tỷ/năm và trở thành doanh nghiệp
có doanh thu cao của Tổng Công ty Viglacera. Năm 2002 này Phòng kinh doanh
đang cố gắng phấn đấu đạt 140 tỷ đồng, mặc dù chỉ tiêu này là rất khó thực hiện
do thị trường năm nay có nhiều biến động nhưng tập thể cán bộ công nhân viên
phòng kinh doanh đang cố gắng phấn đấu để đạt được mục tiêu này.
2. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty.
Sản phẩm của Công ty Sứ Thanh Trì được tiêu thụ ở thị trường trong nước
và xuất khẩu sang một số nước.
* Thị trường xuất khẩu:
- Sản phẩm của Công ty đã và đang xuất khẩu sang một số nước như: Nga,
Italy, Nhật, Irắc, Miama Doanh thu tiêu thụ qua xuất khẩu trong những năm qua
đã đạt trên dưới 10 tỷ đồng và đang không ngừng phát triển, đi sâu thị trường cũ
và thâm nhập thị trường mới.
- Sản phẩm đã được các bạn hàng đánh giá cao và một số bạn hàng đã ký
kết hợp đồng lấy hàng lâu dài.
- Năm 2001 này Công ty đang xúc tiến hoàn thành kế hoạch 12 tỷ đồng
hàng xuất khẩu.
** Thị trường trong nước:
- Đây là thị trường tiêu thụ chính hiện nay của Công ty (khoảng 90% tổng
doanh thu). Sản phẩm của Công ty được bán trên toàn quốc và phục vụ phần lớn
là các công trình tư nhân và các khu tập thể, trung cư. - Hiện nay chế độ quảng cáo sản phẩm của Công ty thông qua hai mảng là
quảng cáo chung cùng Tổng Công ty và quảng cáo riêng Công ty mình.
- Quảng cáo chung cùng Tổng Công ty thông qua biểu tượng, nhãn hiệu,
thương hiệu, hội nghị khách hàng, hội trợ
- Quảng cáo riêng của Công ty thông qua: Sowl room, Catalogue, tờ rơi,
truyền hình, biển hiệu, tem nhãn
* Chính sách khuyến mại.
- Khuuyến mại là một hoạt động không thể thiếu của các doanh nghiệp sản
xuất trong nền kinh tế thị trường. Do cạnh tranh về giá là cực kỳ nguy hiểm đối
với các đối thủ cạnh tranh vì vậy để tồn tại và phát triển các hãng luôn luôn phải
có những chính sách khuyến mại nhằm mục đích kích cầu khi sản phẩm tiêu thụ
chậm.
- Hiện nay Công ty đang và đã áp dụng nhiều hoạt động khuyến mại kịp
thời đúng thời điểm, linh hoạt nên đã thu được những kết quả rõ rệt qua từng đợt
khuyến mại.
6. Chế độ bảo hành sản phẩm.
- Dịch vụ sau bán hàng này của Công ty được thực hiện tương đối tốt. Sản
phẩm của Công ty phần sứ được bảo hành vĩnh viễn và còn phần phú kiện được
bảo hành 2 năm.
- Các sản phẩm bị lỗi do sản xuất (trong tiêu chuẩn loại bỏ C hoặc sản
phẩm B) sẽ được thu hồi về Công ty xử lý. Khách hàng sẽ được thay thế sản phẩm
mới đúng tiêu chuẩn của Công ty, còn phần phụ kiện bị trục trặc thì sẽ được khắc
phục sửa chữa những lỗi nhẹ và thay thế phụ kiện mới những lỗi nặng (trong thời
gian bảo hành).
- Phòng bán hàng tại Công ty luôn có người trực điện thoại hướng dẫn
khách hàng cách lắp đặt, sử dụng và ghi lại những thắc mắc, hỏng hóc của sản
phẩm để nhân viên bảo hành thực hiện dịch vụ sau bán này.
7. Khả năng cạnh tranh của Công ty.

đích tiện lợi cho khách hàng. Phần này là phần phụ kiện không do Công ty sản
xuất nhưng nó có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng sản phẩm cũng như uy tín của
Công ty. Vì vậy phụ kiện nhập về Công ty phải được kiểm soát, kiểm tra, thử phụ
kiện thực tế chặt chẽ, xem xét độ phù hợp, độ tiện lợi khi sử dụng sản phẩm.
Hiện nay phần phụ kiện của Công ty là tương đối tốt, đa dạng, có tính thích
nghi cao. Nhưng để bộ sản phẩm được tốt hơn thì Công ty nên phối hợp với nhà cung ứng để nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo ra những mẫu mã mới đẹp về
hình dáng, tiện lợi khi sử dụng, tiết kiệm kinh tế.
2. Mẫu mã sản phẩm.
Hiện nay Công ty Sứ Thanh Trì đã sở hữu nhiều mẫu mà đa dạng về kiểu
dáng, phong phú về mầu sắc đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng. Nhưng để
Công ty có sức tăng trưởng mạnh thì Công ty phải không ngừng cải tiến kỹ thuật
để tung ra thị trường những mẫu mã mới có độ tiện lợi cao hơn, tính thẩm mỹ đẹp
hơn đáp ứng độ thoả dụng của khách hàng cao hơn. Chẳng hạn như hiện nay là bộ
phụ kiện hai nút nhất vì tương lai là bộ két liền. Có như vậy thì Công ty sẽ luôn
luôn tăng trưởng nhanh và chiếm lĩnh được thị phần trong nước và quốc tế.
3. Hoạt động bán hàng và sau bán hàng của Phòng kinh doanh.
Hiện nay hoạt động của Phòng kinh doanh là tương đối hiệu quả cụ thể là
đã hoàn thành kế hoạch của Tổng Công ty giao cho trong những năm qua. Nhưng
để hoạt động của phòng được tốt hơn, hiệu quả hơn thì Phòng kinh doanh nên có
một số hoạt động sau.
+ Trưng bày lại các cửa hàng trực thuộc Công ty tại thị trường Hà Nội vì
đây là thị trường mục tiêu, đóng góp doanh thu cao cho Công ty.
+ Các tiếp thị tích cực thu nhập thông tin thị trường báo cáo cho lãnh đạo.
+ Thông báo các thông tin từ Công ty đến các cửa hàng, đại lý nhanh
chóng, kịp thời, chính xác đầy đủ.
+ Tăng chi phí cho quảng cáo, khuyễn mại hơn nữa.
+ Chương trình khuyễn mại nên tách ra làm cho từng loại sản phẩm (ví dụ:

Mục lục
Lời nói đầu
Phần I: một số ý kiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của Công ty sứ thanh
trì Hà Nội
Chương I: Thực trạng sản xuất kinh doanh của
Công ty hiện nay
I. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 3
II. Những đặc trưng kinh tế kỹ thuật của Công ty 4
1. Đặc điểm của quy trình công nghệ sản xuất 4
2. Đặc điểm về cơ cấu sản phẩm của Công ty 6
3. Đặc điểm về máy móc thiết bị 6
4. Đặc điểm về lao động 7
5. Đặc điểm về tổ chức quản lý Công ty 7

chương II: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm
của Công ty sứ thanh trì
Hà Nội tại các khâu sản xuất
I. Bộ phận nguyên liệu 9
II. Bộ phận tạo hình sản phẩm 10
III. Bộ phận hoàn thiện mộc và phun men 10
IV. Bộ phận lò nung 11
V. Bộ phận phân loại - đóng gói 12
Phần II: hoạt động kinh doanh của Công ty sứ thanh trì Hà Nội
I. Thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty Sứ Thanh Trì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status