Hướng dẫn cách nuôi chim bồ câu
pháp VN1 đạt năng suất cao ?
Ai có nhu cầu mua chim bồ câu giống, xin liên hệ:
CƠ SỞ SỐ 2 BÁN GIỐNG:
SỐ NHÀ 222 THÔN 1 - THỊ TRẤN EA PỐK - HUYỆN CƯM'GAR -ĐẮK LẮK
Điện thoại: Gfone: 0500.360.1954, Beeline: 099.562.7.562 gặp Anh Luận
Email: -
Website: www.taynguyen24h.com.vn - www.taynguyen24h.com
Dưới đây là một số kỹ thuật giúp người nuôi chim có thể đạt năng suất cao, lợi ích
lớn
chăm sóc và chọn giống
Nuôi chim bồ câu lấy thịt giờ đây đã không còn xa lạ với nhiều người. Chim bồ câu ra
ràng thường được dùng làm thực phẩm như nấu cháo, hầm thuốc bắc để tẩm bổ sức khoẻ.
Người nuôi chim bồ câu không phải đầu tư nhiều, nhanh thu hồi vốn nên nó đã trở thành
một trong những nghề mang lại thu nhập cao cho người chăn nuôi .
1. Chuồng nuôi chim bồ
câu
Theo kinh nghiệm, chuồng
nuôi chim bồ câu phải
thoáng mát , yên tĩnh thì
chim mới mau lớn.
Nếu là nuôi thả tự do thì
chuồng nuôi yêu cầu
không được trống trải, có
mái che nắng, mưa, có ổ
cho chim mái đẻ trứng.
Nếu nuôi chim để sinh sản và khai thác thịt thì cần có chuồng nuôi khác nhau.
Làm chuồng nên lấy tre chẻ ra thành nan, sau đó làm thành phên ghép lại. Chuồng nuôi
phải có ánh sáng mặt trời, khô ráo, thoáng mát, sạch sẽ, tránh gió lùa, tránh ồn ào. Nên
chia chuồng thành các ô nhỏ cho mỗi cặp chim: Chiều cao 50cm, chiều sâu 50cm, chiều
Máng uống cho một đôi chim bố mẹ: Đường kính: 5-6cm x cao: 8-10cm. Máng uống
phải đảm bảo tiện lợi và vệ sinh. Có thể dùng đồ hộp
(lon nước giải khát, lon bia…), cốc nhựa…
Máng đựng thức ăn bổ sung: nuôi nhốt nên cần chất
khoáng, sỏi, muối ăn. Kích thước của máng đựng thức
ăn bổ sung như máng uống, nên dùng gỗ hoặc nhựa,
không nên làm bằng kim loại.
2. Chọn giống
Trong một ổ chim cần phải có một con trống và một
con mái. Muốn chim bố mẹ đẻ nhiều, nuôi con tốt phải chọn chim có lông bụng dầy
mượt, khoẻ mạnh, mỏ xẻ, không có dị tật, lanh lợi, đuôi nhọn…. Nên mua chim đã được
ghép đôi
Chim bồ câu mái có thể đẻ trải dài trong năm, lứa nọ tiếp lứa kia, khoảng cách giữa hai
lứa khoảng 40 ngày. Như vậy, trong những điều kiện nuôi thả hợp lý, một cặp bồ câu có
thể sản sinh ra 12 đến 14 lứa chim bồ câu con trong một năm.
CON GIỐNG: Bồ câu pháp VN1
Chim bồ câu được chọn làm giống phải đảm bảo các yêu cầu: khỏe mạnh, lông mượt,
không có bệnh tật, dị tật, lanh lợi.
Dòng chim bồ câu Pháp : Titan & Mimas:
Chim bồ câu Pháp ti tan (dòng “siêu nặng“) có bộ lông phong phú đa dạng: trắng, đốm,
xám, nâu
Giống Ngoại Tên tiếng Anh: Titan Tên khác: Bồ câu “Siêu nặng” Phân loại: Dòng Nguồn
gốc: Từ Pháp nhập vào Việt Nam từ tháng 5 năm 1998. Phân bố: Trung tâm Nghiên cứu
Gia cầm Thụy Phương – Hà Nội, Hưng Yên, Hà Tây, Hà Bắc, Vĩnh Phúc, Sơn La, Nghệ
An, Quảng Ninh, Tp. Hồ Chí Minh… Hình thái: Lông đa màu: xám (chiếm 20%), màu
trắng (chiếm 12%), nâu (12%) và đốm (4%). Chân ngắn, vai nở. Chim trống dài 19, cao
31 cm, chim mái dài 16,5, cao 28,5 cm. Chim mới nở nặng 17gam/con, lúc 28 ngày tuổi:
647gam. Lúc 6 tháng tuổi:677gam/con, và 1 năm tuổi chim sinh sản: 691gam/con. Năng
suất, sản phẩm: Khoảng cách hai lứa đẻ là 40 ngày. Đẻ 12-13 chim non/cặp/năm. Tỷ lệ
tăng lên 300ml vào ngày nóng và ít nhất 150ml vào lúc lạnh. Chim bồ câu thường nhúng
mỏ vào nước trong suốt thời gian chúng uống nước. Đặc biệt, chim bồ câu rất thích tắm,
nhất là trong thời gian thay lông, chim non thích tắm quanh năm.
4. Phòng và trị bệnh cho chim bồ câu
Chim bồ câu có sức đề kháng với bệnh dịch khá tốt, nhưng nếu nuôi theo đàn trong một
không gian hẹp thì nguy cơ mắc bệnh rất lớn. Muốn cho chim bồ câu khoẻ mạnh, có sức
đề kháng tốt thì trước hết chim phải được nuôi dưỡng trong môi trường tốt, thức ăn được
cung cấp đầy đủ
- Một năm nên tiêm vắc xin phòng bệnh 2-3 lần cho chim
- Vệ sinh chuồng trại cho chim bồ câu sạch sẽ. Nên định kỳ 1 tháng dọn dẹp làm vệ sinh
chuồng, sửa chữa và làm mới chỗ hư hỏng, cạo sạch phân, thay ổ đẻ, phun thuốc sát trùng
chuồng.
- Vệ sinh máng ăn, máng uống: Hàng ngày nên rửa máng uống để tránh cho chim uống
nước bẩn, đã lên men do cặn thức ăn đọng lại trong máng
Lồng vận chuyển chim bồ câu cũng là nguồn lây nhiễm bệnh cho chim, vì ở chuồng có
chim bị bệnh và chết thì dễ dàng lây nhiễm bệnh sang chuồng khác. Vì thế lồng khi dùng
để vận chuyển chim mới cần phải được lau rửa sát trùng cẩn thận.
- Hạn chế cho chim lạ vào chuồng. Tránh để phân chim vương vãi ra mọi nơi. Phòng
tránh chuột, mèo, chó… tấn công chim.
- Một số bệnh thường gặp ở chim bồ câu như: Bệnh kẹt trứng, trứng vỏ mềm, bệnh cầu
trùng, bệnh đậu mùa, bệnh herpes virus đường hô hấp… Cần phải theo dõi kỹ nếu chim
bị mắc các bệnh đó thì nên đến các cơ sở hỗ trợ chăn nuôi để được tư vấn loại thuốc chữa
cho phù hợp.
Chăm sóc nuôi dưỡng: chim non (0-20 ngày tuổi) chim mới nở rất yếu, ít lông, chưa mở
mắt và tự ăn được, việc nuôi dưỡng hoàn toàn phụ thuộc vào bố mẹ, nên chăm sóc nuôi
dưỡng có tính chất quyết định, chim dò (1-6 tháng tuổi) sau 28 ngày chim con tách mẹ
gọi là chim dò, sau khi rời tổ chim còn yếu khả năng đề kháng và khả năng tiêu hoá kém
dễ bị bệnh nên phải nuôi riêng. Chim sinh sản: giai đoạn này phải theo dõi kịp thời khi
chim đẻ, bổ sung lót ổ bằng rơm sạch sẽ và dài để chim ấp trứng đảm bảo, khi nuôi con
cần thay ổ thường xuyên 02lần/tuần và tránh tích tụ phân tại ổ đẻ
không có bệnh tật, dị tật, lanh lợi: con trống to hơn, đầu thô, có phản xạ gù mái (lúc thành
thục), khoảng cách giữa 2 xương chậu hẹp; con mái thường có khối lượng nhỏ hơn, đầu
nhỏ và thanh, khoảng cách giữa 2 xương chậu rộng.
Chuồng nuôi và thiết bị nuôi chim
a. Chuồng nuôi cá thể (dùng nuôi chim sinh sản từ 6 tháng tuổi trở đi)
Mỗi cặp chim sinh sản cần một ô chuồng riêng. Ô chuồng là một đơn vị sản xuất, trên đó
được đặt các ổ đẻ, máng ăn, máng uống, máng đựng thức ăn bổ sung và 1 đôi trống mái
sinh sản. Kích thước của một ô chuồng: Chiều cao: 40 cm; Chiều sâu: 60 cm; Chiều rộng:
50 cm;
b. Chuồng nuôi quần thể (nuôi chim hậu bị sinh sản từ 2-6 tháng tuổi)
Kích thước của 1 gian: Chiều dài: 6m; Chiều rộng: 3,5m; Chiều cao: 5,5m (cả mái);
Máng ăn, máng uống, ổ đẻ, máng đựng thức ăn bổ sung được thiết kế riêng cho kiểu
chuồng này.
Chuồng nuôi dưỡng chim thịt (nuôi vỗ béo chim thương phẩm từ 21-30 ngày tuổi) mật độ
dày hơn 45-50 con/m2, không có ổ đẻ, không có máng ăn (chúng ta phải nhồi trực tiếp
cho chim ăn), ánh sáng tối thiểu.
ổ đẻ: khô ráo, sạch sẽ, tiện cho việc vệ sinh thay rửa thường xuyên. Kích thước của ổ:
Đường kính: 20-25cm; chiều cao: 7-8cm;
Máng ăn: Kích thước máng ăn cho một đôi chim bố mẹ: Chiều dài: 15cm; Chiều rộng:
5cm; Chiều sâu: 5cm x 10 cm
Máng uống: Có thể vỏ dùng đồ hộp, cốc nhựa với kích thước dùng cho một đôi chim bố
mẹ: Đường kính: 5-6 cm; chiều cao: 8 -10 cm;
Mật độ nuôi chim: Nếu nuôi nhốt theo kiểu ô chuồng thì mỗi ô chuồng là một đôi chim
sinh sản. Nếu nuôi thả trong chuồng thì mật độ là 6-8 con/m2 chuồng. Khi được 28 ngày
tuổi, chim non tách mẹ (giai đoạn về sau này được gọi là chim dò). Nuôi chim dò với mật
độ gấp đôi nuôi chim sinh sản (10-14 con/m2).
Chế độ chiếu sáng: Chuồng trại phải thiết kế thoáng đảm bảo cung cấp đủ ánh sáng cho
chim. Tuy nhiên ở miền Bắc ban ngày mùa đông ánh sáng ngắn, có thể lắp bóng đèn 40w
chiếu sáng thêm vào ban đêm (nếu nuôi theo quy mô lớn) với cường độ 4-5w/m2 nền
chuồng với thời gian 3-4h ngày.
- Chim sinh sản: (6 tháng tuổi trở đi)
+ Khi nuôi con: 125-130g thức ăn/đôi/ngày
+Không nuôi con: 90-100g thức ăn/đôi/ngày
- Lượng thức ăn/đôi sinh sản/năm: 45-50kg
Nước uống
Nhu cầu nước uống của chim bồ câu không lớn, nhưng cần có đủ nước để chim uống tự
do. Nước phải sạch sẽ, không màu, không mùi và phải thay hằng ngày.
Có thể bổ sung vào trong nước Vitamin và kháng sinh để phòng bệnh khi cần thiết, trung
bình mỗi chim bồ câu cần 50-90ml/ngày.
Chăm sóc và nuôi dưỡng chim bồ câu
Khi ghép đôi xong, quen với chuồng và ổ, chim sẽ đẻ. Trước khi chim đẻ, chuẩn bị ổ (chỉ
dùng 1 ổ). Dùng rơm khô, sạch sẽ và dài để lót ổ. ở những lứa đầu tiên chim thường có
hiện tượng làm vãi rơm gây vỡ trứng, do đó nên bện 1 vòng rơm lót vừa khít đường kính
của ổ. Nơi ấp trứng phải yên tĩnh, đặc biệt với chim ấp lần đầu nên giảm bớt tầm nhìn,
âm thanh, ánh sáng để chim chuyên tâm ấp trứng.
Khi chim ấp được 18 -20 ngày sẽ nở, nếu quả trứng nào mổ vỏ lâu mà chim không đạp vỏ
trứng chui ra thì người nuôi cần trợ giúp bằng cách bóc vỏ trứng để chim non không chết
ngạt trong trứng.
Trong thời kỳ nuôi con (từ khi nở đến 28 ngày tuổi), cần thay lót ổ thường xuyên (2-3
ngày/lần), để tránh sự tích tụ phân trong ổ vì đó là nơi lý tưởng cho ký sinh trùng, vi
khuẩn và virus.
Khi chim non được 7-10 ngày mới tiến hành cho ổ đẻ thứ hai vào. Sau khi tách mẹ, ổ đẻ
tương ứng được bỏ ra rửa sạch, phơi khô để bố trí lứa đẻ tiếp theo.
Sau khi được 28-30 ngày tuổi chúng ta tiến hành tách chim non khỏi mẹ.
Chim dò được nuôi thả ở
chuồng quần thể với lứa
tuổi tương đương nhau.
Sau khi rời ổ, chim non
chuyển sang một giai đoạn
mới phải tự đi lại, tự ăn.
Gà ủ rũ, ăn ít, uống nước nhiều, lông xù, gà bị sốt cao 42 – 43oC, hắt hơi, sổ mũi, thở khó
trầm trọng, mào và yếm tím bầm, từ mũi chảy ra chất nhớt. Gà rối loạn tiêu hoá, thức ăn
ở diều không tiêu, nhão ra do lên men, khi dốc gà ngược thấy có nước chảy ra có mùi
chua khắm. Vài ngày sau gà tiêu chảy phân có màu nâu sẫm, trắng xanh hay trắng xám.
Niêm mạc hậu môn xuất huyết thành những tia màu đỏ.
Gà trưởng thành triệu chứng hô hấp không thấy rõ như ở gà giò. Ở gà đẻ sản lượng trứng
giảm hoặc ngừng để hoàn toàn sau khi nhiễm bệnh 7 – 21 ngày
Thể mãn tính:
Xảy ra ở cuối ổ dịch. Gà có triệu chứng thần kinh, cơ quan vận động bị tổn thương biến
loạn nặng. Con vật vặn đầu ra sau, đi giật lùi, vòng tròn, mổ không đúng thức ăn, những
cơn co giật thường xảy ra khi có kích thích. Chăm sóc tốt gà có thể khỏi nhưng triệu
chứng thần kinh vẫn còn, gà khỏi bệnh miễn dịch suốt đời.
Bệnh tích
Thể quá cấp:
Bệnh tích không rõ, chỉ thấy những dấu hiệu
xuất huyết ở ngoại tâm mạt, màng ngực, cơ
quan hô hấp.
Thể cấp tính:
Xoang mũi và miệng đều chứa dịch nhớt màu
đục. Niêm mạc miệng, mũi, khí quản xuất
huyết, viêm phủ màng giả có Fibrin Tổ chức
liên kết vùng đầu, cổ, hầu bị thuỷ thủng thấm
dịch xuất huyết vàng.
Thể mãn tính:
Bệnh tích điển hình tập trung ở đường tiêu hoá Niêm mạc dạ dày tuyến xuất huyết màu
đỏ, tròn bằng đầu đinh ghim, các điểm xuất huyết này có thể tập trung thành từng vệt Dạ
dày cơ xuất huyết. Ruột non xuất huyết, viêm. Trong trường hợp bệnh kéo dài có thể có
những nốt loét hình tròn, hình bầu dục, cúc áo. Trường hợp bệnh nặng nốt loét có thể lan
xuống ruột già, ruột non. Gan có một số đám thoái hoá mỡ nhẹ màu vàng. Thận phù nhẹ
có màu nâu xám. Bao tim, xoang ngực, bề mặt xoang ức xuất huyết Dịch hoàn, buồng
Tripathy, 1991).
Virut đậu rất mẫn cảm với eter và chloroform. Các hoá chất sau đây có thể diệt được
virut: phenol-1% formalin 1/1000 sau 9 ngày; dung dịch NaOH -1% chi trong nửa giờ. ở
nhiệt độ 600C, virut bị chết sau 8 phút. Trong nhiệt độ lạnh âm virut có thể tồn tại hàng
năm.
2. Bệnh lý và lâm sàng
Virut xâm nhập vào cơ thể bồ câu chủ yếu qua tiếp xúc ngoài da. Virut cũng xâm nhập
niêm mạc đường hô hấp như niêm mạc mũi, niêm mạc phế quản khi bồ câu hít thở không
khí có nhiễm mầm bệnh. Virut phát triển ở các tế bào biểu bì da, xung quanh các bao
lông và niêm mạc miệng, vòm khẩu cái, tạo ra các nốt sùi đặc trưng cho bệnh đậu. Các
nốt đậu đầu tiên đỏ, sau mọng mủ trắng, vỡ ra, chảy dịch vàng, để lại nốt loét trên niêm
mạc hoặc trên mặt da, đóng vảy màu nâu. Các mụn đậu cũng lan đến niêm mạc mắt, sưng
to, vỡ ra làm nổ mắt vật bệnh.
Biến chứng nguy hiểm cho chim bệnh là các mụn đậu phát triển ở phế quản phổi, gây
viêm phổi cấp do bội nhiễm các vi khuẩn đường hô hấp. Một số trường hợp, virut đậu
còn xâm nhập đường tiêu hoá, gây các tổn thương niêm mạc dạ dày và ruột. Chim bệnh
có biến chứng hô hấp hoặc tiêu hoá sẽ phát bệnh nặng, chết trong khoảng thời gian 3-5
ngày và tỷ lệ chết 100%.
Bình thường chim bị bệnh đậu, các biểu hiện lâm sàng cũng như các mụn đậu sẽ giảm
dần và hồi phục sức khoẻ sau 7-10 ngày, tỷ lệ chết 15-20%.
3. Dịch tễ học
Chim ở các lứa tuổi đều có thể mắc bệnh đậu. Nhưng thường thấy chim non 1-6 tháng bị
nhiễm bệnh nhiều hơn.
Mỗi loài chim hoặc họ chim đều có các chủng virut gây bệnh riêng biệt. Nhưng các
chủng virut này cũng có thể nhiễm chéo giữa các giống loài động vật. Chẳng hạn virut
đậu gà (Avian poxvirus) có thể gây nhiễm cho bồ câu và ngược lại.
Bệnh đậu cũng là một trong các bệnh virut phổ biến gây nhiều thiệt hại cho bồ câu non.
Bệnh đậu phát triển quanh năm. Nhưng thường xuất hiện nhiều vào mùa xuân có khí hậu
ấm, ẩm ướt và mùa thu chuyền sang mùa đông.
4. Chẩn đoán
Sau khi chủng đậu 7 ngày phải kiểm tra, nếu có vết đậu mọc là tốt, nếu không thấy phải
chủng lại.
6. Phòng bệnh
- Phòng bệnh bằng vacxin, chủng vacxin đậu nhược độc vào dưới da cho chim hoặc nhỏ
vào lông cánh và bôi dung dịch vacxin vào đó. Vacxin thường dùng là vacxin virut đậu
nhược độc.
- Thực hiện vệ sinh chuồng trại và môi trường; giữ chuồng luôn khô sạch, thoáng mát
mùa hè, ấm áp mùa đông.
3/ BỆNH VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP DO HERPES VIRUS (PIGEON
HERPESVIRUS INFECTION)
Bệnh viêm đường hô hấp do Herpesvirus ở bồ câu đã được biết đến từ 1945 khi nghiên
cứu gen của một bồ câu bệnh. Nhưng mãi đến 1967, Herpesvirus mới được phân lập
(Coruell và Wright, 1970). Hiện nay, người ta đã xác định rằng: bệnh phổ biến và được
phân bố rộng khắp thế giới.
1. Nguyên nhân
Người ta đã xác định bệnh viêm đường hô hấp gồm viêm thanh khí quản và viêm hoại tử
mũi họng cấp tính ở bồ câu các nước Bỉ, Tiệp, Đức, úc, Hungary… là do một virut thuộc
nhóm Herpesvirus nên được gọi là Herpesvirus ở bồ câu.
2. Bệnh lý và lâm sàng
Virut xâm nhập vào cơ thể bồ câu quan niệm mạc đường hô hấp từ bồ câu bệnh sang bồ
câu khẻo một cách trực tiếp. Mặt khác bồ câu khoẻ cũng có thiết bị nhiễm virut do hít thở
không khí bị nhiễm mầm bệnh.
Virut phát triển ở niêm mạc mũi, thanh quản và khí quản, xâm nhập vào các hạch lâm ba
khí quản và phổi. Do tác động virut, niêm mạc đường hô hấp bị tổn thương, loét và chảy
dịch nhày trắng hoặc vàng xám. Một số loài vi khuẩn có sãn ở đường hô hấp sẽ phối hợp
làm cho hiện tượng viêm nặng hơn. Đó là các Mycoplasma columborale, Pasterella
multocida, liên cầu Streptococcus beta-hemolysin và tụ cầu Staphilococcus
betahemolitic.
Virut cũng tác động đến niêm mạc ruột gây ra hiện tượng viêm ruột và ỉa chảy.
Bồ câu bị bệnh ở hai thể:
Bệnh thương hàn ở bồ câu đã được phát hiện và nghiên cứu ở Hoa Kỳ và một số nước
Châu Âu (Pomeroy và Nagaraja, 1991). Đây là một bệnh chung của bồ câu, gà, ngan,
ngỗng, vịt với hội chứng viêm ruột, ỉa chảy (Levcet, 1984).
1. Nguyên nhân
Bệnh gây ra do vi khuẩn Salmonella gallinacerum và S. enteritidis thuộc họ
Enterbacteriacae. Vi khuẩn là loại trực khuẩn nhỏ, ngắn có kích thước: 1-2×1,5
micromet, thường chụm 2 vi khuẩn với nhau, thuộc gram âm (-), không sinh nha bào và
nang (Copsule). Vi khuẩn có thể nuôi cấy, phát triển tốt ở môi trường thạch nước thịt và
peptone, độ pH=7,2, nhiệt độ thích hợp 370C.
Vi khuẩn sẽ bị diệt ở nhiệt độ 600C trong 10 phút, dưới ánh sáng mặt trời trong 24 giờ.
Nhưng có thể tồn tại 20 ngày khi đặt trong bóng tối. Các hoá chất thông thường diệt được
vi khuẩn như: axit phenol -1/1000; chlorua mercur-1/20.000; thuốc tím 1/1000 trong 3-5
phút.
2. Bệnh lý và lâm sàng
Trong tự nhiên có một số chủng Salmonella gallinacerum có độc lực mạnh, gây bệnh cho
bồ câu nhà, bồ câu rừng, gà, vịt và nhiều loài chim trời khác.
Bồ câu nhiễm vi khuẩn qua đường tiêu hoá. Khi ăn uống phải thức ăn hoặc nước uống có
vi khuẩn, bồ câu sẽ bị nhiễm bệnh. Vi khuẩn vào niêm mạc ruột, hạch lâm ba ruột, phát
triển ở đó, tiết ra độc tố. Độc tố vào nước, tác động đến hệ thần kinh trung ương, gây ra
biến đổi bệnh lý như nhiệt dộ tăng cao, run rẩy. Vi khuẩn phát triển trong hệ thống tiêu
hoá gây ra các tổn thương niêm mạc ruột, cơ ruột, làm cho ruột bị viêm và xuất huyết.
Trong trường hợp bệnh nặng, vi khuẩn xâm nhận vào máu gây ra hiện tượng nhiễm trùng
máu.
Bồ câu có thời gian ủ bệnh từ 1-2 ngày, thể hiện: ít hoạt động, kém ăn, uống nước nhiều.
Sau đó, thân nhiệt tăng, chim đứng ủ rũ một chỗ, thở gấp, đặc biệt là ỉa chảy, phân màu
xanh hoặc xám vàng, giai đoạn cuối có lẫn máu. Chim sẽ chết sau 3-5 ngày.
Mổ khám chim bệnh, thấy: các niêm mạc bị sưng huyết; niêm mạc diều, dạ dày tuyến và
ruột tụ huyết từng đám. ở ruột non và ruột già còn thấy niêm mạc bị tổn thương, tróc ra
và có các điểm hoại tử ở phần ruột gà. Chùm hạch lâm ba ruột cũng bị tụ huyết.
3. Đặc điểm dịch tễ
- Thuốc trợ sức: như phác đồ 1.
- Hộ lý: như phác đồ 1.
6. Phòng bệnh
- Khi có bệnh xảy ra cần cách ly chim ốm để điều trị; chim ốm chết phải chôn có đổ vôi
bột hoặc nước vôi 10%, không được mổ chim ốm gần nguồn nước và khu vực nuôi chim.
Toàn bộ số chim trong chuồng có chim ốm cho uống dung dịch chloramphenicol 2/1000
hoặc sulfamethazone 5/1000 trong 3 ngày liền.
- Khi chưa có dịch: thực hiện vệ sinh chuồng trại và vệ sinh môi trường; nuôi dưỡng chim
với khẩu phần ăn thích hợp và đảm bảo thức ăn, nước uống sạch.
5/ BỆNH GIẢ LAO Ở BỒ CÂU (PSEUDOTUBERCULOSIS)
Bệnh giả lao ở các loài gia cầm và chim hoang, trong đó có bồ câu đã được biết đến từ
lâu (Riech, 1889), nhưng mãi đến 1904, Kynyoun (1904) mới phân lập được vi khuẩn
gây bệnh, gọi là Yersinia pseudotuberculosis (vi khuẩn giả lao).
1. Nguyên nhân
Tác nhân gây bệnh giả lao ở bồ câu là Yersinia pseudotuberculosis. Vi khuẩn này có các
đặc tính gần giống vi khuẩn tụ huyết trùng nên còn gọi là Pasteurella pseudotuberculosis.
Vi khuẩn thuộc gram âm, tròn hai đầu, có kích thước 0,5×0,8-5 micromet, còn gọi là vi
khuẩn lưỡng cực vì khi nhuộm bắt màu sẫm ở hai đầu. Vi khuẩn phát triển tốt trên môi
trường thạch pepton, thạch máu có thêm một số axit amin và thích hợp ở nhiệt độ 370C.
Vi khuẩn dễ dàng bị diệt dưới ánh sáng mặt trời, ở nhiệt độ 600C hoặc làm khô. Nhưng
có thể bảo quản hàng năm trong môi trường thạch để ở nhiệt độ lạnh.
Hiện có 6 serotyp vi khuẩn đã được xác định là typ I, II, III, IV, V, VI và 8 subtyp gây
bệnh cho một số loài chim và thú.
2. Bệnh lý và lâm sàng
Chim bị nhiễm vi khuẩn chủ yếu qua đường tiêu hoá. Vi khuẩn tồn tại và lưu hành trong
môi trường tự nhiên và thức ăn. Chim ăn uống phải thức ăn nước uống bị nhiễm vi khuẩn
sẽ bị mắc bệnh. Vi khuẩn cũng xâm nhập vào cơ thể chim qua đường hô hấp, do hít thở
không khí có vi khuẩn.
Vào cơ thể chim, vi khuẩn nhanh chóng xâm nhập vào hệ thống hạch lâm ba, phát triển
nhanh số lượng, rồi vào máu, đến các phủ tạng như gan, lách, phổi, thận và ruột. Các
Phác đồ điều trị:
- Thuốc điều trị: Phối hợp hai loại thuốc sau:
Kanamycin 2 gam
Tetracyclin 2 gam
Nước 1000 ml
Cho toàn đàn chim uống liên tục 3-4 ngày.
- Thuốc trợ tim mạch: tăng sức đề kháng: cho uống hoặc trộn thức ăn các vitamin B1, K,
A, D, E.
- Hộ lý: Cho chim ăn thức ăn dễ tiêu, bớt ăn các loại hạt.
6. Phòng bệnh
- Thực hiện cho chim ăn sạch, uống sạch.
- Giữ gìn vệ sinh chuồng trại và môi trường sống của chim, cần làm vệ sinh và tiêu độc
theo định kỳ.
- Khi có dịch xảy ra: Phát hiện sớm chim bệnh để cách ly điều trị hoặc xử lý, tránh lây
nhiễm cho đàn chim.
- Tổ chức tiêm vacxin phòng bệnh cho đàn chim trưởng thành khi có vacxin phòng bệnh
giả lao.
CHÚC BÀ CON THÀNH CÔNG!
MỘT SỐ NÔNG DÂN ĐIỂN HÌNH TRONG VIỆC LÀM GIÀU TỪ NUÔI BỒ
CÂU PHÁP
1/ MÔ HÌNH TẠI LÂM ĐỒNG
Bồ câu là loài chim thường được mọi người nuôi chủ yếu là để làm cảnh cho “vui cửa,
vui nhà”, còn nuôi bồ câu để làm kinh tế thì hẳn là nhiều người còn chưa nghĩ tới. Thế
nhưng, anh Đặng Văn Cẩn trú tại xóm 2, thôn Tân Thuận, xã Tân Hội, huyện Đức Trọng,
sau một lần tình cờ xem một chương trình nông nghiệp giới thiệu về mô hình nuôi bồ câu
trên đài truyền hình, nhận thấy đây là một mô hình mới mẻ, có nhiều triển vọng và có thể
làm giàu, nên anh đã quyết định tiến hành nuôi thử nghiệm 10 cặp chim bồ câu đầu tiên.
Sau hơn 2 năm, với đức tính ham học hỏi và sự quyết tâm, giờ đây anh Cẩn đã xây dựng
cho mình một mô hình nuôi chim bồ câu khá hoàn chỉnh , với khoảng hơn 200 cặp bồ câu
là bắp, lúa, cám trộn lẫn) vào khoảng 7 ngàn đồng trên 1 kg, một ngày trung bình 200 cặp
chim bồ câu ăn hết 10 kg thức ăn, một tháng thức ăn cho chúng vào khoảng 3 tạ thì chi
phí thức ăn chỉ hết khoảng 2,1 triệu đồng. Mỗi tháng, sau khi trừ các chi phí thức ăn cho
chúng, gia đình anh Cẩn cũng thu về từ 7 – 8 triệu đồng tiền lãi, đối với một người làm
nông thì đây là một thu nhập rất đáng kể. Bên cạnh việc nuôi bồ câu, gia đình anh Cẩn
còn trồng cà phê, bắp, lúa để tăng gia sản xuất, đồng thời lấy sản phẩm lúa, bắp dùng
nuôi chim bồ câu, như vậy thật là hiệu quả đôi đường. Trong thời gian tới, anh Cẩn sẽ
tiếp tục triển khai mở rộng mô hình này với một quy mô lớn hơn. Đồng thời, anh Cẩn cho
biết là sẽ sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệp nuôi bồ câu của mình cho bà con nào có ý định
làm kinh tế theo mô hình này.
Vừa qua, Hội nông dân Lâm Đồng cùng Trung tâm Nông nghiệp huyện Đức Trọng, đã
ghé thăm mô hình của anh Đặng Văn Cẩn, nhằm tìm hiểu, đánh giá hiệu quả kinh tế mà
mô hình trên mang lại.
2/ MÔ HÌNH TẠI QUẢNG NGÃI
Quảng Ngãi: Nuôi chim bồ câu – Vốn ít, hiệu quả cao
Trong những năm gần đây, phong trào chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi phát triển
khá mạnh, đa dạng về mô hình và cho hiệu quả kinh tế khá cao. Điển hình như mô hình
nuôi chim bồ câu Pháp của bà Ngô Thị Thanh ở thôn 6, xã Đức Chánh (Mộ Đức), đây là
mô hình chăn nuôi khá mới đối với bà con trong tỉnh. Ý tưởng nuôi bồ câu Pháp của bà
Ngô Thị Thanh xuất phát trong một lần vào thăm người thân ở TP. Hồ Chí Minh thấy
người dân nơi đây nuôi giống chim này đạt hiệu quả kinh tế cao, nhiều hộ trở nên giàu
có.
Nhận thấy đây là một cách chăn nuôi mới có nhiều triển vọng nên sau khi tìm hiểu kỹ, bà
Thanh đã quyết định mua 20 cặp chim bồ câu về nuôi. Thời gian đầu khi mới bắt tay vào
nuôi, bà cũng rất lo vì thông thường chim bồ câu được nuôi thả tự do, chim tự kiếm mồi,
tự xây tổ. Sự can thiệp của con người là rất ít. Giờ lại nuôi theo phương pháp nhốt
chuồng, cộng với khí hậu tại địa phương, nên bà sợ không phù hợp với chim bồ câu
giống ngoại này.
Thế nhưng, do biết áp dụng đúng quy trình kỹ thuật trong chăn nuôi, sau 5 tháng nuôi
cửa, vui nhà, còn nuôi bồ câu để làm kinh tế thì hẳn là nhiều người còn chưa nghĩ tới. Do
đó thành công từ mô hình nuôi chim bồ câu Pháp của bà Ngô Thị Thanh ở thôn 6, xã Đức
Chánh (Mộ Đức) đã mở ra hướng đi mới cho người dân trong tỉnh, góp phần giải quyết
công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân; đồng thời cung cấp nguồn thực phẩm an
toàn, có giá trị dinh dưỡng cao, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.
3/ MÔ HÌNH TẠI ĐẮK NÔNG
Giúp nhau làm kinh tế: Nuôi chim bồ câu giống Pháp
Gia đình anh Lê Viết Sơn là một trong những hộ đầu tiên ở thôn Tân Tiến, xã Quảng
Thành (Gia Nghĩa) đưa giống chim bồ câu Pháp về nuôi. Hiện gia đình anh nuôi trên 140
đôi chim. Với giá bán chim giống là 140.000 đồng/cặp, chim thịt là 120-130.000
đồng/cặp, mỗi năm anh đều thu lãi khá. Chỉ tính riêng năm 2010, gia đình anh bán được
hơn 600 cặp, trừ chi phí tất cả cũng cho thu lãi trên 50 triệu đồng. Anh Sơn cho biết:
“Năm 2007, gia đình tôi mua 25 cặp chim từ Lâm Đồng về nuôi thử. Nhận thấy đây là
giống chim dễ nuôi, lại nhanh lớn hơn giống chim bồ câu ta, tôi vừa nuôi vừa rút kinh
nghiệm và nhân giống lớn dần lên”. Cũng theo anh Sơn thì nuôi chim bồ câu không khó,
đặc tính của chim bồ câu là loài động vật hoang dã, chỉ cần một không gian chuồng trại
thoáng mát, ánh sáng đầy đủ, sạch sẽ, buổi sáng tranh thủ cho ăn 1 lần, để đầy đủ máng
nước uống, sau đó đi làm rẫy chiều về cho ăn 1 lần nữa là được. Giống chim bồ câu Pháp
tạp ăn, chúng ăn các thức ăn sẵn có như lúa, gạo, bắp nghiền. Bồ câu Pháp rất ít dịch
bệnh, chỉ cần chú ý thu dọn phân thải theo định kỳ 1 lần/ tuần. Chim bồ câu nuôi 6 tháng
là bắt đầu sinh sản, một cặp chim bồ câu sinh sản có thể tới 7-8 lứa/năm, mỗi lứa 2
trứng/ổ. Thời gian từ khi chim ấp đến khi chim non ra ràng là 28 ngày và đến khi chim có
thể bán được tổng cộng là 45 ngày. Giống chim này tự ấp và nuôi con giỏi, tỷ lệ sống cao
đạt 95-99%. Mỗi cặp chim sinh sản có một ô chuồng riêng và nên lót lá khô tạo thành ổ
cho chim sinh sản thuận lợi. Theo kinh nghiệm của anh thì để có chim giống tốt phải
chọn chim giống bảo đảm các yêu cầu như lông mượt, con trống to hơn, đầu thô, con mái
nhỏ hơn, đầu nhỏ và thanh, không có dị tật, lanh lợi…Thấy nuôi chim cũng đơn giản mà
hiệu quả kinh tế đạt khá nên nhiều gia đình trong thôn cũng đã học hỏi kinh nghiệm và
xây chuồng, mua chim về nuôi. Đơn cử như anh Nguyễn Văn Thắng nuôi chim bồ câu
nhiều loại thức ăn như: đậu, lúa, gạo; cần cho chúng ăn thêm thức ăn công nghiệp, nhằm
bổ sung khoáng chất và vitamin; cho chim ăn 2 lần trong ngày, buổi sáng lúc 8h và buổi
chiều khoảng 15h; nước uống của chim phải sạch sẽ và thay hàng ngày. Vào đêm có thời
tiết lạnh, có thể lắp thêm đèn để sưởi ấm cho chim. Chim bồ câu ít bị bệnh, cần chú ý tẩy
giun cho chim 2 lần/năm.
Theo anh, chim bồ câu dễ nuôi, không tốn nhiều thời gian chăm sóc, chi phí nuôi thấp,
mà lợi nhuận thu về rất khả quan. Sau 18 ngày nuôi, mỗi cặp bồ câu nuôi bán lấy thịt có
giá khoảng 70.000đ, còn đối với bồ câu nuôi bán làm giống, thời gian nuôi là trên 30
ngày, mỗi cặp có giá từ 120.000 đ trở lên. Tính từ thời điểm nuôi vào tháng 10 năm 2009
đến nay, sau khi trừ chi phí, gia đình anh đã lãi hơn 35 triệu đồng từ việc bán bồ câu thịt
và bồ câu giống. “ cũng nhờ nuôi chim bồ câu nên tôi mới có điều kiện sửa sang lại căn
nhà, cuộc sống gia đình bây giờ đã ổn định hơn trước rất nhiều. Sắp tới, tôi sẽ mở rộng
chuồng trại, tăng số lượng nuôi, phát triển nghề nuôi bồ câu theo hướng công nghiệp”,
anh Hoặc nói.
Anh cho biết thêm, hiện nay, mặt hàng bồ câu thịt đang hút hàng, sản lượng cung ứng
không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường. Do đó, việc nhân rộng mô hình này ở xã, nhất
là trong hội viên cựu chiến binh đang được quan tâm thực hiện, bước đầu kết quả đạt
được là rất đáng ghi nhận. Ông Nguyễn Đức Thành, chủ tịch hội cựu chiến binh xã Sơn
Định, cho biết: “ hội đang khuyến khích hội viên tham gia mô hình nuôi bồ câu lấy thịt,
đặc biệt hội viên có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, các hộ sẽ được hướng dẫn kỹ thuật nuôi
và đảm bảo đầu ra cho sản phẩm. Đây là một hướng đi phù hợp cho những hộ nghèo
muốn thoát nghèo bền vững ”.
Chọn hướng phát triển kinh tế phù hợp với nhu cầu của thị trường; dám nghĩ, dám làm,
cần mẫn trong lao động đã giúp cho cựu chiến binh Nguyễn Văn Hoặc vươn lên làm giàu
chính đáng./.
Theo Wesite Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre
Làm giàu từ nuôi bồ câu Pháp
Ở huyện Diên Khánh (Khánh Hòa), có anh Nguyễn Hữu Khánh nuôi chim bồ câu Pháp
hiệu quả, thu nhập ổn định.
Theo business.vnmic
Đổi đời nhờ nuôi loài chim “hòa bình”
Mày mò dựng mô hình
Chúng tôi tìm đến tham quan mô hình nuôi bồ câu giống Pháp của chàng thanh niên trẻ
Nguyễn Ngọc Thức (27 tuổi) giữa trưa hè tháng 7. Trang trại của anh nằm giữa cánh
đồng rộng mát với tiếng gù huyên náo của bầy chim bồ câu. Trước khi chuyển qua nuôi
chim bồ câu, anh Thức là tài xế cho một công ty tại Bình Dương. Lúc này gia đình anh
cũng nuôi chim bồ câu sẻ nhưng hiệu quả kinh tế không cao.
Với ý nghĩ không muốn làm thuê mãi cho người khác, bằng số vốn tích lũy được, năm
2008 anh đã đầu tư xây dựng chuồng trại và bắt tay lập nghiệp từ nuôi loài chim bồ câu
giống Pháp. Lúc đầu anh chỉ nuôi 400 cặp chim nhưng đến nay anh đã có trong tay 1.000
cặp chim bố mẹ. Trong câu chuyện trao đổi, anh không ngần ngại kể với chúng tôi về
những khó khăn thời gian đầu khi mới lập nghiệp. Trong một lần lên mạng anh tình cờ
tìm được thông tin về nuôi bồ câu giống Pháp – loại chim có giá trị kinh tế cao hơn so với
chim bồ câu sẻ. Anh lần mò xuống tận Vũng Tàu tìm mua giống bồ câu này và bắt đầu
từng bước xây dựng chuồng trại, làm lồng nuôi chim. Lúc đầu do chưa có kinh nghiệm
anh cho bồ câu ấp cả 2 lứa trứng đầu nên khi nở ra chúng yếu, trọng lượng nhỏ. Nguyên
nhân là do lúc này bồ câu đực chưa “thuần” và bồ câu mẹ chưa đủ sức khỏe để ấp trứng
tốt. Rồi có khi đàn bồ câu của anh cũng bị mắc một số chứng bệnh mà chưa có sách vở
nào nhắc đến như bệnh đường hô hấp. Với loại bệnh này anh cũng phải tự mày mò tìm
thuốc về điều trị cho đàn bồ câu của mình.
Đến nay đàn bồ câu của anh đã phát triển ổn định. Bồ câu giống Pháp có trọng lượng lớn
hơn, sản lượng cũng đạt cao hơn so với bồ câu sẻ. Giá trị của thịt chim bồ câu Pháp cũng
cao và được nhiều người chuộng mua. Theo anh Thức nuôi bồ câu rất khỏe do sức đề
kháng của chúng cao nên ít bệnh tật; thiết kế chuồng trại cũng khá đơn giản và cũng
không hao tốn nhiều công chăm sóc. Chuồng trại cần xây cho kín để tránh sự xâm hại của
các loài vật gây hại cho chim như mèo, chuột. Ngoài ra chuồng trại cũng cần sạch, thoáng
mát, khô ráo. Với mỗi lồng 9 tấc vuông chia làm 4 ngăn là có thể nuôi được 4 cặp chim
bố mẹ. Mỗi ngày cho bồ câu ăn 2 lần và 2 ngày thay nước uống để phòng bệnh cho chim.
Làm giàu từ nuôi chim bồ câu Pháp
Chị Hoàng Thị Vân Anh Sơn Dương (Tuyên Quang) là người đầu tiên trong xã mạnh dạn
đầu tư nuôi giống chim bồ câu Pháp.
Sau lần đi học tập mô hình nuôi chim bồ câu Pháp ở Vĩnh Phúc, chị đã mạnh dạn đầu tư
10 triệu đồng mua 50 đôi chim bồ câu về nuôi. Sau một thời gian, thấy đây là giống chim
dễ nuôi lại nhanh lớn hơn giống chim bồ câu ta, chị lại nhập thêm 70 đôi về nuôi. Đến
nay, gia đình chị đã có 120 đôi chim bồ câu Pháp. Trung bình một đôi chim bồ câu ta khi
bán chỉ đạt trọng lượng từ 0,7 - 0,8 kg, nhưng với một con chim bồ câu Pháp khi bán đã
đạt 0,8 - 0,9 kg. Giống chim bồ câu Pháp ăn các thức ăn sẵn có như ngô hạt, lúa, gạo, đỗ
tương. Trong đó, ngô là thức ăn chủ yếu của chim.
Chị Anh cho biết, để có chim giống tốt phải chọn chim giống bảo đảm các yêu cầu như
lông mượt, con trống to hơn, đầu thô, con mái nhỏ hơn, đầu nhỏ và thanh. Mỗi cặp chim
sinh sản có một ô chuồng riêng. Chị Anh đã làm gần 30 ô chuồng bằng gỗ xẻ mỏng,
trong đó đặt các ổ đẻ lót rơm khô, máng ăn, máng uống cho chim. Chiều cao của mỗi ô
chuồng là 40 cm, chiều rộng 50 cm. Để phòng bệnh cho chim, chị Anh luôn chú ý để các
ô chuồng khô ráo, tránh ẩm ướt.
Mỗi năm, một cặp chim bồ câu sinh sản có thể tới 7-8 lứa. Thời gian từ khi chim ấp đến
khi chim non ra giàng là 28 ngày và đến khi chim có thể bán được tổng cộng là 45 ngày.
Một đôi chim giống, chị Anh bán với giá 200 nghìn đồng. Mỗi lứa, đàn chim bồ câu
giống Pháp của gia đình chị cho khoảng 50 đôi, sau khi trừ chi phí, chị thu lãi từ 6-7 triệu
đồng. Từ một hộ có kinh tế trung bình, từ thu nhập nuôi chim bồ câu, gia đình chị Anh đã
trở thành hộ khá. Chị Anh dự định sẽ tận dụng diện tích vườn tạp đầu tư làm chuồng và
nhập thêm 200 đôi chim bồ câu Pháp về nuôi trong thời gian tới.
Báo Tuyên Quang
Chim bồ câu với tác dụng bồi bổ cơ thể
Dân gian hay nói "một con bồ câu hơn chín con gà" vì tác dụng bổ dưỡng của nó. Chất
thịt bồ câu non mịn, vị tươi ngon, có đặc điểm lượng protein cao, lượng mỡ và
cholesterol thấp, đồng thời trong thịt chim bồ câu còn có vitamin A, B1, B2, E và nhiều
nguyên tố vi lượng là thành phần tạo máu, do vậy giá trị dinh dưỡng trong thịt bồ câu cao
bát thì đậy lại, cho bát vào nồi nước sôi hầm cách thuỷ trong 3 giờ là dùng được.