Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Luận văn
Phân tích chiến lược kinh doanh
của bia Hà Nội HABECO
1
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Lớp : 1307SMGM0111
Nhóm : 08
Họ và tên SV :
Nguyễn Thị Ngọc Trâm
Trần Hồ Thu
Lê Thị Thủy
Nguyễn Thị Thúy
Đặng Thị Trang
Phạm Thị Thùy
Nguyễn Thị Huyền Trang
Phạm Thị Thu Trang
Tống Thị Trang
PHIẾU PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC DOANH NGHIỆP
Tên đầy đủ DN : Tổng Công ty cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội
Tên giao dịch: Hanoi Beer-Alcohol and beverage joint stock corporation
Tên viết tắt DN : HABECO.
Trụ sở : 183 Hoàng Hoa Thám – Quận Ba Đình – Thành phố Hà Nội
Ngày tháng năm thành lập : 06/05/2003
Loại hình doanh nghiệp : Doanh nghiệp quốc doanh của nhà nước được thành
lập theo quyết định 75/2003/QĐ-BCN ngày 06/05/2003 của Bộ trưởng Bộ Công
Nghiệp và được chuyển đổi hoạt động tổ chức theo mô hình công ty mẹ-con theo
quyết định số 36/2004/QĐ-BCN ngày 11/05/2004 của Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp
Tel : ( 84.4) 8.453843 | Fax ( 84.4) 8.464549
Website:
Ngành nghề kinh doanh của DN
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI :
Ngành kinh doanh của doanh nghiệp : Ngành Bia
- Tốc độ tăng trưởng năm 2009: Năm 2009, Việt Nam tiêu thụ 1,6 tỷ lít bia
3
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
- Tốc độ tăng trưởng năm 2010 : Tổng sản lượng bia khoảng 2.59 tỷ lít, tăng ~
62% so với năm 2009
- Tốc độ tăng trưởng năm 2011 : Năm 2011, sản lượng bia đạt 2.620 triệu lít, nộp
ngân sách là 13.600 tỷ đồng tương đương khoảng 4% tổng thu ngân sách, tăng 4%
so với 2010
-Năm 2012 sản lượng bia toàn ngành Việt Nam đạt 2,8 triệu lít, tăng 8% so với
năm 2011.
Giai đoạn trong chu kỳ phát triển của ngành :
Ngành đang trong giai đoạn tăng trưởng trong chu kỳ, do :
(i) Về sản lượng sản xuất: Việt Nam đứng thứ 13 thế giới về sản xuất bia (năm
2011, nhảy từ thứ hạng 20 năm 2008), là thị trường lớn thứ 3 Châu Á (sau Trung
Quốc, Nhật Bản); tuy nhiên sản lượng mới chỉ chiếm 1,14 % sản lượng toàn cầu;
(ii) Tiêu thụ bia bình quân đầu người tăng nhanh: hiện mức tiêu thụ là 28 lít
trên/đầu người/năm; gấp đôi giai đoạn 2005-2011 và tăng gấp 3 so với năm 1995.
Khả năng mức tiêu thụ còn có thể nâng lên, vì còn thấp so với mức 37 lít và 47 lít
của người Hàn Quốc, Nhật Bản; và bằng khoảng 1/10 so với Châu Âu;
(iii) Lợi nhuận biên còn cao, do 3/4 lượng bia được tiêu thụ trực tiếp, uống tại
chỗ; rất ít qua kênh siêu thị, bán lẻ. Theo nghiên cứu của APB, biên lợi nhuận
ngành bia Việt Nam cao hơn 50% so với các nước cùng khu vực Châu Á thái bình
dương
(iv) Tốc độ tăng trưởng hiện nay khá cao, khoảng 13-15%/năm (dù đã giảm nhiều
so với giai đoạn 1990-2000 tăng trưởng ớ mức 20%-30%/năm);
(v) Ngành Bia vẫn phát tài trong khủng hoảng. Năm 2008 là năm Việt Nam đạt kỷ
lục lạm phát gần 20% nhưng người dân cũng không vì thế mà cắt giảm chi phí
nhậu. Đến nay kinh tế vẫn chưa hết khó khăn nhưng ngành bia vẫn “phát tài” do
Trung Quốc. Trong 10 năm qua, tốc độ tiêu thụ bia của người Việt Nam đã tăng
Doanh nghiệp
Nhân tố
kinh tế
Nhân tố
văn hóa – xã hội
Nhân tố
công nghệ
Nhân tố
Chính trị
-pháp luật
5
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
hơn 200%. Quy mô Ngành bia Việt Nam năm 2012 ước đạt 4,6 tỷ USD (chiếm
3,7% GDP), tốc độ bình quân tăng trưởng là 11-15%. Thu nhâp bình quân đầu
người tăng (gấp 10 lần từ 1994 đến 2012, đạt gần 1.600 USD) và dân số ở độ tuổi
uống bia (20-40 tuổi) được dự báo tăng 5%/năm, tương đương mức tiêu thụ sẽ
tăng thêm 1,7 triệu người đến năm 2015.
Tiếp theo là ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái với việc tăng giá đồng USD và giá cả
nguyên vật liệu tăng đã khiến chi phí tài chính tăng cao. Thêm nữa là biến động
lãi suất ngân hàng cũng là 1 thách thức không nhỏ với ngành bia Việt Nam
Do đó môi trường kinh tế trong nước vừa là thách thức vừa là cơ hội cho các
DN trong ngành
1.3. Môi trường văn hoá – xã hội (S): Người tiêu dùng Việt Nam đang có xu thế
thay rượu bằng bia và bia bắt đầu được coi là một loại nước giải khát không thể
thiếu trong các bữa tiệc. Nhưng xu hướng lựa chọn ngành nghề liên quan đến: tài
chính, ngân hàng, du lịch, ngoại giao, luật pháp ngày càng tăng cao ở độ tuổi trẻ;
cùng với việc đào tạo chuyên môn sinh, hoá, thực phẩm…tại các trường hiện nay
ở Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực cho ngành sản xuất kinh
doanh Bia là một khó khăn cho sự phát triển ổn định của Ngành.
và giảm hao phí và quan trọng là có tính tự động hoàn toàn. Công nghệ mới này
có hệ thống vệ sinh CIP riêng; hệ thống cấp nước, lọc nước hiện đại và điều khiển
tự động các công nghệ mới đã góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, bao bì
đẹp, giảm tiếng ồn, hơi nóng, đảm bảo vệ sinh, giảm hao phí sản xuất, giảm lao
động nặng nhọc,…Nhưng mức độ sử dụng vốn đầu tư, công nghệ và trang thiết bị
kỹ thuật của các doanh nghiệp trong Ngành còn rất khác nhau. Có doanh nghiệp
đầu tư theo hướng chuyên sâu, có doanh nghiệp đầu tư theo hướng phân tán.
Cơ hội cho các DN trong ngành tiếp cận KHKT hiện đại áp dụng vào sản xuất
ra các sản phẩm có chất lượng với chi phí cắt giảm
Đánh giá cường độ cạnh tranh (Giải thích ngắn gọn các câu trả lời) :
Tồn tại các rào cản ra nhập ngành :
- Ngành bia luôn phải song hành cùng phải vấn nạn “hàng giả, hàng nhái” gây khó
khăn cho nhiều doanh nghiệp. Các thương hiệu uy tín trên thị trường dễ bị làm
giả, ảnh hưởng đến uy tín nhà sản xuất cũng như sức khỏe người tiêu dùng, gây
thất thu thuế.
- Bia là thức uống rất phổ biến và là sản phẩm cũng sẽ chịu cả thuế GTGT và thuế
tiêu thụ đặc biệt. Trong đó lượng bia hơi, bia cỏ trôi nổi không quản lý được ước
7
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
tính khoảng 130 triệu lít. Trung bình thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) chiếm 24 –
25% giá thành xuất xưởng mỗi lít bia hơi.
- Gia nhập WTO đã buộc Chính phủ phải thay đổi một số loại thuế bảo hộ , trong
vòng 3 năm sau khi hội nhập Việt Nam sẽ áp dụng một mức thuế TTĐB cho tất cả
các sản phẩm bia, không kể đến hình thức đóng gói. Hiện nay, chính sách thuế
TTĐB đối với bia hơi đang được áp dụng như sau: Từ 01/01/2010 đến
31/12/2012: bia hơi: 30%; bia chai, bia lon, bia tươi: 75%. Từ 01/01/2013: Các
loại bia không phân biệt hình thức đóng gói đều chịu mức 50%.
- Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thuế suất thuế nhập khẩu bia cũng đã giảm từ
mức 80% xuống 65%, và sẽ xuống còn 35% trong vòng 5 năm. Hiện nay, mức
65% thuế còn là khá cao, nên các nhà sản xuất còn hạn chế xâm nhập, thông
Nguyên vật liệu ngành bia Việt Nam được nhập khẩu từ các quốc gia sản xuất lúa
mạch ở khu vực ôn đới. Đứng đầu về sản xuất lúa mạch là: Nga, Canada, Tây Ban
Nha, Đức, Pháp Biến đổi khí hậu có thể gây cản trở đến việc trồng lúa mạch, gây
ảnh hưởng đến ngành công nghiệp sản xuất bia.
Malt nhập khẩu có thể được thay thế bằng Malt chế biến từ đại mạch trồng trong
nước. Việc trồng cây lúa mì (tiểu mạch) và đại mạch ở một số tỉnh miền núi phía
Bắc nước ta với quy mô nhỏ đã có từ nhiều năm trước đây: trồng thử nghiệm trên
diện tích 15 ha, năng suất bình quân từ 1,5-2,5 tấn/ha tại Cao Bằng; triển khai dự
án tới một số tỉnh Sapa, Đà Lạt, Hà Giang, Sơn La
Trên thực tế, mới chỉ trồng được vài chục ha thử nghiệm, kết quả chưa thực sự
khả thi vì điều kiện khí hậu Việt Nam chưa thích hợp, chất lượng của đại mạch
ảnh hưởng đến chất lượng lên men bia, vị bia. Ðể nhân cấy và phát triển lên vài
nghìn ha cần phải có một thời gian dài nhiều năm nữa, và cũng chỉ thay thế được
khoảng 10% malt nhập khẩu.
- Sự phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu ảnh hưởng tới chi phí sản xuất, lợi
nhuận của doanh nghiệp
Tỷ lệ nguyên liệu chung cho bia ở Việt Nam là 70% lúa mạch, 30% gạo (có thể
thay bằng ngô). Để có 1.000 lít bia thành phẩm thì cần 4-5 tạ lúa mạch (giá 10.000
- 10.500 đồng/kg); 1,8-1,9 tạ gạo nguyên liệu (giá 9.600 – 9.750 đồng/kg); và 2g
houblon hoa cánh cho 1 lít bia (khoảng 3.230 đồng/g); ngoài ra còn có nước, nấm
men enzyme và các nguyên liệu phụ trợ khác Như vậy, trong giá trị 1 lít bia
thành phẩm có chi phí nguyên vật liệu chính chiếm 82.3% (gồm 55,6% malt,
21,1% gạo và ~7% houblon). Nhà sản xuất chỉ thu về với biên lợi nhuận dưới
20% (khoảng 18-20%).
9
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Nếu nguyên vật liệu chính (gồm malt và houblon) cho ngành còn và sẽ tiếp tục
phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu; doanh nghiệp trong nước sẽ gặp khó khăn do
không làm chủ được nguyên vật liệu, ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Qua đó có thể thấy nhà cung cấp có vai trò quyết định trong ngành bia, có
Sabeco và Habeco
(2). Doanh nghiệp Liên doanh với các thương hiệu bia quốc tế sản xuất tại Việt
Nam như: Tiger (Thái), Heineken (Hà Lan), Calsberg (Đan Mạch), Foster's (Úc)
(3). Các nhà máy bia địa phương như Huda Huế, Thanh Hóa, Bến Thành…
Thị phần ngành bia không thay đổi nhiều trong thập kỷ với sự vững mạnh của 3
doanh nghiệp là: Sabeco, Habeco và VBL. Thị trường có dâu hiệu của độc quyền
nhóm khi 3 doanh nghiệp lớn nhất Ngành chiếm tới 83% thị phần (tiêu chuẩn theo
Luật cạnh tranh là CR3 < 65%). Tuy nhiên, bia không phải hàng hóa thiết yếu nên
nhà sản xuất khó gây sức ép độc quyền lên người tiêu dùng; các doanh nghiệp vẫn
đang cạnh tranh khá quyết liệt và chưa có biểu hiện đôc quyền.
Các doanh nghiệp “ngoại” đẩy mạnh xâm nhập thị trường
Kể từ sau khi hội nhập và mở cửa (năm 1991), Đầu tư nước ngoài tăng cường ở
Việt Nam; rất nhiều thương hiệu bia nổi tiếng thế giới từ Bỉ, Đức, Mỹ, Mexico,
Hà Lan, Nga, Séc…đã đến với thị trường như: Heineken, Fosters, Tiger, Larger,
Larue, BGI… Sự xuất hiện ngày càng nhiều của các dòng bia ngoại đã đẩy cuộc
cạnh tranh trong Ngành bia ngày càng khốc liệt hơn. Hiện nay các nhà đầu tư
nước ngoài đã được phép sở hữu 100% doanh nghiệp nội địa thuộc ngành bia,
tăng cường hơn sự xâm nhập của các đối thủ tiềm ẩn mới. Cụ thể cuối năm 2011,
Tập đoàn Carlsberg (Đan Mạch) đã nắm giữ 100% vốn Nhà máy bia Huế. Nhà
máy bia Sapporo Việt Nam với tổng vốn đầu tư 75 triệu USD (phía Nhật Bản góp
71% và phía Việt Nam góp 29%) cũng đã đi vào hoạt động và đang tìm cách phát
triển thị trường ở Việt Nam…
Cạnh tranh cũng khiến nhiều thương hiệu “ngoại” thâm nhập thất bại . Bên cạnh
sự trụ vững và ngày càng lên ngôi của các thương hiệu Heineken, Carlsberg, Ti-
ger , đã không ít đại gia ngành Bia trên thế giới sau khi đặt chân đến Việt Nam đã
phải ngậm ngùi ra đi. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại như: định vị sai,
sản phẩm không hợp gu của người Việt, rào cản kênh phân phối, năng lực tài
chính Cụ thể có trường hợp của bia “kiểu Úc” Fosters (Tập đoàn Fos- ters)
không thành công trong phân khúc cao cấp, hay “cuộc chia tay tức tưởi” của sản
phẩm “bia tươi đóng chai đầu tiên tại Việt Nam” Laser (thuộc tập đoàn Tân Hiệp
là áp lực với sản phẩm bia hiện tại của Habeco.
Nước trà xanh C2 của URC, trà xanh không độ của Tân Hiệp Phát, ….
12
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Chính vì vậy mối đe doạ của sản phẩm thay thế là hoàn toàn không hề nhỏ đối
với HABECO nói riêng và Ngành công nghiệp sản xuất Bia-Rưọu-Nước giải khát
Việt Nam nói chung, tạo nên sức ép cạnh tranh khá lớn.
Đánh giá điểm : 7.5/10
Đe dọa từ các ra nhập mới :
Nguy cơ có các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là áp lực không chỉ với HABECO mà
còn với cả Ngành Bia-Rượu-Nước giải khát của Việt Nam. Và thực tế điều này đã
bắt đầu diễn ra tại Việt Nam, điển hình là Liên doanh giữa Công ty cổ phần sữa
Việt Nam (Vinamilk) và Tập đoàn bia hàng đầu của Mỹ là SABMiller đã cho ra
đời nhãn hiệu bia mới ZoRok, bia nhẹ cho phụ nữ, sau thương vụ mua lại 50% cổ
phần của Vinamilk trong nhà máy bia tại Bình Dương vào năm 2008, Tập đoàn
SAB Miller (Hoa Kỳ) vẫn nuôi tham vọng mở rộng thị phần tại Việt Nam. Hay
Liên doanh hợp tác giữa Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam (Vinataba) và Tập
đoàn Scottish&New Castle (S&N) của Anh đã ra đời Công ty TNHH
Kronenbourg Việt Nam để sản xuất bia cao cấp và thức uống có cồn. Heineken
cũng được xem là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất trong ngành bia Việt Nam khi
là cổ đông sáng lập hoặc đang tham gia vào các doanh nghiệp bia như Công ty
Bia Việt Nam, Bia Sông Hàn, Bia Foster, Bia Dung Quất và Bia Quảng Nam. Sản
lượng bia năm 2011 nhà sản xuất này tiêu thụ ở Việt Nam là 464 triệu lít, chiếm
khoảng 19% thị phần.
Ngoài ra Tập đoàn Asahi (Nhật Bản) hiện chưa có khoản đầu tư nào tại Việt Nam,
dù đây là một trong 4 đại gia sản xuất bia tại Nhật.
Cuối cùng là hãng AB Inbev – đơn vị sở hữu nhiều thương hiệu như Budweiser,
Corona, Stella Artois, Beck’s và Brahma sẽ tràn ngập vào thị trường VN trong
những tháng cuối năm 2013
Số lượng gia nhập mới tăng nên cường độ cạnh tranh cao
Đối thủ cạnh tranh
SP thay thế
Rào cản gia nhập
Gia nhập mới
Khách hàng
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Mô hình EFAS
Các nhân tố chiến lược Độ quan
trọng
Điểm xếp
loại
Tổng điểm
quan trọng
Ghi chú
Các cơ hội
-Kinh tế chính trị VN
ổn định
-SP cho nữ còn ít
-Cơ cấu dân số trẻ
-Hội nhập kinh tế
-Thị trường đồ uồng
giàu tiềm năng
0.05
0.1
0.1
0.1
0.15
2
3
3
3
2
0.2
0.45
0.2
0.3
0.1
-Chính phủ không
khuyến khích đồ có cồn
-Giá nhập không ổn định
-Ảnh hưởng XNK
-Các sản phẩm thay thế
-Ảnh hưởng nhu cầu tiêu
thụ, chi trả
Tổng 1.0 2.6
Từ mô hình EFAS có thể thấy mức độ thích ứng với môi trường của
Habeco là tương đối tốt
Xác định các nhân tố thành công chủ yếu trong ngành (KFS) :
1- Khả năng tăng cường nhận thức của khách hàng với thương hiệu do người dân
trong nước quen với hương vị đặc trưng của bia nội hơn với bia ngoại nhập
2- Kênh phân phối mở rộng
3- Mức giá cạnh tranh
15
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG :
Sản phẩm chủ yếu :
Sản phẩm Bia
Hiện nay, HABECO tham gia vào 2 phân khúc chính là Bia tiệt trùng đóng
lon/chai và Bia hơi.
Phân khúc Bia tiệt trùng đóng lon/chai
với sản lượng hơn 3 triệu lít trong năm 2006.
Thị trường :
- Do khác biệt về thị hiếu, công nghệ sản xuất, thu nhâp, cách thể hiện đẳng cấp
người dùng bia có sự phân khúc sản phẩm và thị phần:
Phân khúc bia hơi (chưa tiệt trùng) chiếm khoảng 43% khối lượng tiêu thụ và
30% giá trị tiêu thụ. Habeco là Doanh nghiệp chiếm được vị trí dẫn đầu phân khúc
này tại Hà Nội và các tỉnh phía Bắc.
Phân khúc bia tiệt trùng đóng lon hoặc chai chiếm vị trí số 1 trên thị trường với
mức tiêu thụ 45% về khối lượng và 50% về giá trị. Dẫn đầu phân khúc là Sabeco,
Habeco với dòng sản phẩm bia Sài gòn (xanh, đỏ), Bia Hà Nội và Nhà máy bia
Huế với thương hiệu bia Huda.
Phân khúc nhỏ nhất là bia thượng hạng chiếm 12% về khối lượng và 20% về giá
trị tiêu thụ. Dẫn đầu phân khúc là các sản phẩm Tiger, Heineken được VBL phân
phối, Carlbergs của Nhà máy Bia Đông Nam Á, ngoài ra còn có các thương hiệu
Việt là Sài Gòn Đỏ và 333 của Sabeco.
Trong đó phân khúc Trung và Cao cấp cạnh tranh khá gay gắt khi Sabeco dẫn đầu
thị trường chiếm 31% thị phần với các dòng sản phẩm bia hạng trung và sản phẩm
cao cấp; Bia liên doanh VBL chiếm 20% với các dòng sản phẩm bia cao cấp; tiếp
theo là Bia Hà Nôi chiếm 10%.
Habeco nổi tiếng với sản phẩm bia hơi chiếm tỷ trọng cao nhất 50.92% trong
tổng khối lượng sản xuất và tiêu thụ. Bia hơi của Habeco là đồ uống thông dụng
đối với người dân Hà nội và Miền Bắc bởi giá thành phù hợp với người tiêu dùng
và có hương vị thơm ngon độc đáo nhờ vào sử dụng nguồn nước ngầm đặc biệt.
Bia hơi của Habeco đang chiếm giữ thị phần chính tại thị trường miền Bắc.
Habeco cũng đưa ra sản phẩm bia cao cấp bia lon 330 và Bia Chai Hanoi
premium, tuy nhiên sản phẩm này vẫn chưa được tiêu thụ mạnh
HABECO chưa chiếm lĩnh được thị trường phía Nam, từ Quảng Bình trở vào,
tuy nhiên đã có hai công ty con trong khu vực này là Công ty Cổ phần Bia Hà
Nội-Quảng Bình và Công ty Cổ phần Bia Hà Nội-Vũng Tàu góp phần giảm phí
vận chuyển sản phẩm từ Bắc vào Nam.
(bao gồm Hệ thống ISO 22000-2005. Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:
2000 và Hệ thống quản lý môi trường ISO 14001 : 2004)
18
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Hệ thống nuôi cấy men hiện đại, hệ thống sản xuất CO2 tinh khiết, hệ thống
nén khí không dầu và hệ thống vệ sinh CIP tự động, hiện đại thay thế cho cách tiệt
trùng bằng nước nóng và xút cũ cũng được hoàn thành, toàn bộ quy trình sản xuất
của Công ty thuộc loại lên men cổ truyền, khép kín, tự động hoá cao
Bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất tại Công ty mẹ, Tổng công ty còn rất chú
trọng đến công tác sản xuất bia chai Hà Nội tại các Công ty con. Tổng công ty
luôn có kế hoạch chỉ đạo, giám sát chặt chẽ các công ty con trong quá trình sản
xuất nhằm đảm bảo về quy trình và đạt chất lượng tốt nhất để bia trai mang nhãn
hiệu Hà Nội dù sản xuất ở đâu đều đảm bảo chất lượng như sản xuất tại Công ty
mẹ. Tổng công ty và các công ty con luôn phối hợp chặt chẽ, đẩy mạnh sản xuất
và tiêu thụ các mặt hàng chủ lực, tiếp tục phát triển và mở rộng thị trường, duy trì
việc bình ổn giá, nâng cao chất lượng sản phẩm, nghiên cứu đa dạng hoá mặt
hàng, cải tiến mẫu mã, bao bì để đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng.
Trong sản xuất, giải pháp tiết kiệm được triển khai tập trung vào những những
vấn đề chính sau:
- Tiết kiệm điện
- Tiết kiệm môi chất sử dụng: nước, khí nén, CO2, hơi bão hòa, hóa chất
- Vận hành hợp lý và hiệu quả thiết bị, tăng năng suất, giải quyết các điểm
thắt nút cổ chai trong dây chuyền sản xuất.
- Tiết kiệm nguyên vật liệu, vật tư sản xuất.
- Tiết kiệm nhân lực.
Đối với khâu quản lý và vận hành thiết bị, Phòng Kỹ thuật cơ điện đã lập phương
án trên cơ sở phối hợp chặt chẽ cùng các Xí nghiệp chế biến, thành phẩm, động
lực, cơ điện và triển khai theo chuỗi giải pháp sau:
1. Tiết kiệm điện: sử dụng triệt để đèn tiết kiệm điện tại các vị trí chiếu sáng,
tắt bớt những đèn không cần thiết; một số khâu có thể tiết giảm năng lượng điện:
tra, phân tích trị giá hàng tỷ đồng, kiểm soát tốt hơn chất lượng sản phẩm ở mọi
công đoạn và kiểm tra được nhiều hơn các thông số kỹ thuật như thiết bị phân tích
bia tự động, thiết bị phân tích độ xốp của malt…Tất cả các dây chuyền thiết bị
mới của Tổng công ty đã được tự động hóa hoàn toàn, từ khâu nhập nguyên liệu
đến khâu nấu, lên men, lọc, chiết… với các phần mềm điều khiển hiện đại.
Sự thay đổi về dây chuyền công nghệ đã khiến sản phẩm HABECO có nhiều cải
tiến. Từ khi có dây chuyền chiết chai số 1, chai Bia Hà Nội “cổ rụt” loại 500ml đã
được thay thế bằng chai mới 450ml, hình thức và chất lượng được nâng cao rõ rệt,
nhãn trước, nhãn sau thể hiện rõ thông tin sản phẩm, chụp bạc cổ chai gọn gàng,
20
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
giúp tiết kiệm chi phí. Tiếp đó, các dòng sản phẩm Hanoi Beer Premium, Bia Hà
Nội nhãn xanh tiếp tục ra đời.
- Hậu cần đầu ra :
Hiện nay, HABECO đã có trên 470 đại lý phân phối trong cả nước và 12 công ty
con tại các địa bàn trọng điểm phía bắc (Hà Nội, Hải Dương, Quảng Ninh, Hải
Phòng, Thanh Hóa, Nam Định, Quảng Trị) và 9 công ty liên kết, 3 chi nhánh là
Phố Nối (Hưng Yên), Nghệ An, Nam Định cùng hai Công ty Thương mại là
HABECO Trading và Công ty CP Bia - Rượu-NGK Hà Nội- Quảng Ninh, thị
phần Habeco đã chiếm khoảng 40% từ Nghệ An trở ra và kỳ vọng sẽ tăng lên
70% trong vài năm tới.
Thị trường tiêu thụ rộng mở, không chỉ ở trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều
quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga Vì thế sản lượng
bia các loại mang thương hiệu HABECO tiêu thụ đến 2007 đạt 199 triệu lít, hết
năm 2008 ước đạt 245 triệu lít.
Hệ thống kênh phân phối của Công ty bia Hà Nội khá phức tạp và rộng rãi, có thể
đáp ứng ngay lập tức mọi yêu cầu của khách hàng. Họ có thể trực tiếp đến cửa
hàng giới thiệu sản phẩm của công ty để thưởng thức mà không cần qua tay các
đại lý hay những nhà bán lẻ khác, đây là một lợi thế nhằm tăng uy tín cũng như
quảng bá ngày càng rộng rãi hơn cho sản phẩm của công ty. Với một cấu trúc đầy
nhiều thị trường trên khắp thế giới. Năm 2013 Bia Hà Nội tiếp tục đẩy mạnh
chiến lược phát triển thương hiệu và khẳng định vai trò hàng đầu trong ngành bia,
rượu, nước giải khát bằng việc triển khai nhiều chương trình khuyến mại, tri ân
khách hàng trên cả nước. Sắp tới đây HABECO sẽ tổ chức Ngày hội bia Hà Nội
tại Quảng Bình, Nghệ An, Quảng Binh, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội. Đây là những
nét văn hóa đặc trưng của Bia Hà Nội đã và đang nhận được rất nhiều sự tin yêu
và ủng hộ mạnh mẽ từ người tiêu dùng trên cả nước.
Các chương trình nhằm quảng bá hinh ảnh thương hiệu bia Hà Nội khác:
Năm mới uống bia Vàng- Xuân sang đắc lộc lớn
Vui cùng ngày hội bia Hà Nội tại Quảng Ninh 2012
Chương trình khuyến mại “ Sôi động với EURO- Trúng thưởng cùng
HABECO”
Gala Step Up Sum 2012 sức trẻ HABECO
Tham gia chương trình: “Doanh nghiệp tin cậy vì người tiêu dùng”
- Dịch vụ sau bán : Chủ yếu là hướng dẫn cách sử dụng và cách bảo quản đồ
uống
22
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Tại các đại lý, nhà phân phối :
- Phải cẩn thận khi xuống hàng từ các xe hàng, nhằm tránh làm hư hỏng các sản
phẩm thành phẩm.
- Phải loại bỏ các sản phẩm bị xì vì bất cứ lí do nào trước khi chất hàng vào kho.
- Không được làm rơi hoặc quăng mạnh các két, thùng bia thành phẩm.
- Không nên chất hàng ở nơi có nhiệt độ trên 35oC hoặc trực tiếp dưới ánh sáng
mặt trời, nơi ẩm thấp hoặc bị mưa dột
- Khi phát hiện sản phẩm bị xì rỉ không phải do bị làm rơi, cấn móp, vật nhọn đâm
thủng thì nên báo cho nhà sản xuất để xử lý
- Tuân thủ nguyên tắc first in/ first out: hàng nhập vào trước thì xuất ra trước.
Đối với quán ăn nhà hàng:
- Loại bỏ ngay lập tức các két, thùng thành phẩm bị xì ướt báo với đơn vị cung
Hệ thống chiết bia lon của Đức công suất 7500 lon/h
Hệ thống chiết bia chai của Đức công suất 150000 chai/h
Hệ thống làm lạnh của Nhật
Hệ thống lò dầu của Đài Loan công suất 10 tấn hơi/h
Hệ thống xử lý nước và chất thải của Đức :
Sau khi đưa hệ thống xử lý nước thải vào hoạt động, chất lượng nước thải đảm
bảo yêu cầu tiêu chuẩn TCVN5945-1995, loại B - nước thải công nghiệp, Tổng
công ty đã thực hiện quản lý môi trường theo ISO 14001:2004 được từ đầu năm
2005, góp phần làm thay đổi bộ mặt doanh nghiệp và môi trường làm việc, được
tổ chức TUVNORD của CHLB Đức chứng nhận và khẳng định sự phù hợp.
Hệ thống trang thiết bị có khả năng sản xuất sản phẩm có chất lượng cao tuy
nhiên với công suất hiện tại chưa thể đáp ứng hết nhu cầu của thị trường, vì vậy
nó có ảnh hưởng lớn tới việc tiêu thụ của công ty.
Nguồn nhân lực : Chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan
trọng quyết định sự phát triển của Công ty, vì vậy Công ty luôn đặt mục tiêu xây
dựng đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn cao lên hàng đầu trong chiến
lược phát triển của mình.
Hiện tại, nguồn lực của HABECO bao gồm 753 người (năm 2011) trong đó 69
người đạt trình độ đại học và trên đại học chiếm 10%; 411 người đạt trình độ cao
đẳng, trung cấp, kỹ thuật dạy nghề chiếm 59%; 216 người trình độ lao động phổ
thông chiếm 31% và trên 50 kỹ sư giàu kinh nghiệm và đôi ngũ lãnh đạo, quản lý
đã gắn bó với Habeco qua nhiều thời kỳ, nhiều thế hệ. Độ tuổi làm việc trung bình
của nhân viên Habeco là 38,5 tuổi.
24
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Với đội ngũ lao động kỹ thuật như hiện nay-có tay nghề, kinh ngiệm giúp công ty
sản suất ra những sản phẩm có chất lượng cao, giảm tỷ lệ phế phẩm, tiết kiệm chi
phí sản xuất, cùng với đội ngũ nhân viên kinh doanh có năng lực và trình độ giúp
cho việc tiêu thụ sản phẩm bia Hà Nội diễn ra tốt trên thị trường. Trong những
năm gần đây thu nhập của cán bộ công nhân còn luôn được nâng cao, ổn định,