Quan điểm triết học về con người - Pdf 11

Lời nói đầu
Sự phát triển kinh tế xã hội nào rút cuộc cũng nhằm những mục tiêu xã
hội, nhân văn nhất định. Phát triển theo nghĩa đầy đủ là bên cạnh sự gia tăng
về lợng (tăng trởng kinh tế) còn bao hàm sự thay đổi về chất lợng(những biến
đổi về mặt xã hội).
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội cuả C.Mác là một thành tựu của
khoa học cuả loài ngời. Nó phác hoạ quy luật tổng quát cuả lịch sử nhân loại
và sự phát triển cuả xã hội loài ngời sẽ tiến tới Chủ nghiã Cộng sản mà giai
đoạn th áp cuả nó là Chủ nghiã xã hội. Chủ nghiã xã hội không đối lập với
phát triển, với kinh tế thị trờng mà là nấc thang phát triển cuả loài ngời đợc
đánh dấu bằng sự tiến bộ xã hội cuả sự phát triển. Nó là cách thức giải quyết
các quan hệ xã hội vì cuộc sống tốt đẹp của đại đa số nhaan dân lao động,
của toàn thể xã hội; là sự thiết lập một trật tự xã hội với mục tiêu công bằng
và văn minh.
Sự phát triển đem lại sự giàu có, phồn vinh và hạnh phúc cho đại đa số
nhân dân lao động, cho toàn thể xã hội thì sự phát triển đó mang tính chất
xã hội chủ nghĩa, là sự phát triển hiện đại. Cuộc đấu tranh cách mạng trờng
kỳ gian khổ và quyết liệt của nhân dân lao động ta dới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng Sản Việt nam, đứng đầu là Chủ Tịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng
nhân dân lao động, đem lại niềm vui và sự giàu sang cho nhân dân lao động.
Vì vậy, sự phát triển cuả Việt nam ở hiện tại và trong tơng lai phải là sự phát
triển vì sự giàu có, phồn vinh và hạnh phúc cuả nhân dân lao động, vì sự
hùng mạnh cuả cả xã hội, cuả toàn dân tộc; là sự phát triển mang tính chất
xã hội chủ nghiã, là sự phát triển hiện đại. Nghiã là, chúng ta phải phát triển
nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghiã; đồng thời đẩy mạnh Công
1
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Nhng muốn thực hiện đợc quá trình đó
chúng ta phải khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả mọi tiềm năng, thế
mạnh và mọi nguồn lực trong nớc cũng nh ngoài nớc; trong đó nguồn lực con
ngời giữ vị trí vô cùng quan trọng. Đến lợt nó, các thành tựu cuả quá trình đó
lại phục vụ cho sự phát triển cuả con ngời. Điều đó hoàn toàn phù hợp với

rời với hoạt động thực tiễn trong điều kiện lịch sử nhất định.
Với sự ra đời của quan điểm duy vật về lịch sử; lần đầu tiên vấn đề con
ngời có đợc vị trí mà nó cần phải có, lần đầu tiên vấn đề con ngời đợc nhận
thức một cách thực sự khoa học.
Với quan điểm duy vật triệt để và phơng pháo biện chứng, Mác đã đa ra
một quan niệm hoàn chỉnh về khái niệm con ngời. Chủ Nghĩa Mác phân biệt rõ
hai mặt trong khái niệm con ngời: mặt sinh vật và mặt xã hội hay nói cách
khác, theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác, cái sinh học và cái xã hội thống nhất
biện chứng với nhau, hoà quyện vào nhau làm nên con ngời.
C.Mác không hề phủ nhận mặt từ nhiên, mặt sinh học khi xem xét con
ngời với t cách là những cá nhân sống. Mác viết: Vì vậy, điều cụ thể đầu tiên
cần phải xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy và mối quan hệ mà tổ
chức cơ thể ấy tạo ra giữa họ với phần còn lại của giới tự nhiên.
3
Trớc hết, Mác thừa nhận con ngời là một động vật cao cấp nhất, sản
phẩm của sự tiến hoá lâu dài của giới sinh vật nh tiến hoá luận của Đac-uyn đã
khẳng định.
Vì vậy, con ngời chịu sự chi phối của môi trờng tự nhiên và các quy luật
tự nhiên. Khi môi trờng tự nhiên thay đổi thì buộc con ngời phải thích nghi với
nó, ví dụ khi từ mùa hè sang mùa đông thì con ngời phải mặc áo ấm; và các
quy luật tự nhiên cũng chi phối con ngời nh quy luật biến dị, di truyền làm cho
con sinh ra mang cả đặc điểm giống với cha mẹ và thế hệ trớc.
Nh mọi động vật khác, con ngời phải đấu tranh để tồn tại, ăn, mặc, ở,
sinh con đẻ cái tức con ngời cũng đòi hỏi đầy đủ nhu cầu sinh học.
Nh vậy, xét theo phơng diện này thì con ngời không khác động vật là
mấy.
Tuy nhiên, C.Mác không thừa nhận quan điểm cho rằng cái duy nhất tạo
nên bản chất con ngời là đặc tính sinh học, là bản năng sinh vật của con ngời.
Con ngời vốn là một sinh vật có đầy đủ những đặc trng của sinh vật nhng lại có
nhiều điểm phân biệt với các sinh vật khác. Vậy con ngời khác động vật ở chỗ

trong khuôn khổ của hoàn cảnh xã hội cụ thể, con ngời mới tồn tại với t cách
con ngời.
Từ đó, CMác đã chỉ ra bản chất của con ngời là:
"Bản chất con ngời không phải là cái trừu tợng, cố hữu của cá nhân
riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng hoà của
những mối quan hệ xã hội".
Nh vậy, xét trên bình diện tổng thể, bản chất con ngời không phải là cái
trừu tợng mà là hiện thực; không phải là cái vốn có, có sẵn trong mỗi cá thể
riêng biệt mà là tổng hoà của các quan hệ xã hội; không phải là cái tự nhiên
sinh học mà là cái lịch sử-xã hội.
Đây là cách tiếp cận cực kỳ biện chứng về bản chất con ngời của triết
học Mác trong khi triết học trớc Mác rơi vào quan điểm siêu hình.
Bản chất con ngời là tổng hoà các quan hệ xã hội có nghĩa là bản chất ấy
chỉ hình thành và thể hiện trong các quan hệ xã hội. Những quan hệ xã hội ấy
chi phối, quyết định hành vi trong đời sống hiện thực của con ngời, quyết định
phẩm chất và cuộc sống của từng cá nhân riêng lẻ và làm cho phơng thức thoả
mãn nhu cầu của con ngời đợc xã hội hội hoá , đợc nhân cách hoá. Chỉ trong
toàn bộ những quan hệ xã hội cụ thể đó, con ngời mới bộc lộ và thực hiện đợc
bản chất thật sự của mình. Xét về bản chất của một con ngời cũng nh của một
dân tộc phải xuất phát từ toàn bộ những quan hệ xã hội ấy.
Quan hệ xã hội ấy bao gồm:
5
- Nhu cầu tự khẳng định
- Nhu cầu được tôn trọng
- Nhu cầu tình cảm
- Nhu cầu an toàn
- Nhu cầu tâm sinh lý
- Quan hệ kinh tế, chính trị,pháp luật, đạo đức, tôn giáo, khoa học và
nghệ thuật.
- Quan hệ hiện tại, quá khứ (truyền thống, hiện tại)

Việc tìm ra nguồn gốc và bản chất con ngời đã giúp cho C. Mác có
những giải pháp giải phóng con ngời mang tính cách mạng và khoa học hay nói
một cách sâu sắc hơn thì chủ nghĩa Mác - Lênin đã thực sự trở thành Vũ khí
t tởng cho giai cấp công nhân đứng lên giải phóng xã hội, mang lại tự do,
hạnh phúc và phồn thịnh cho toàn xã hội - điều mà trớc chủ nghĩa Mác không
có đợc.
6
II. Quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
Khái niệm cá nhân chỉ con ngời cụ thể sống trong một xã hội nhất định
với t cách một cá thể, một thành viên của xã hội ấy; do những đặc điểm riêng
biệt của mình mà phân biệt với những thành viên khác của xã hội.
Xã hội bao giờ cũng do các cá nhân hợp thành. Bất cứ xã hội nào cũng
đợc cấu thành không phải bởi những con ngời trừu tợng mà bởi những con ngời
cụ thể, những cá nhân sống.
Mỗi cá nhân là một cái đơn nhất mang những đặc điểm riêng phân biệt
với các cá nhân khác không chỉ về mặt sinh học mà chủ yếu về mặt những quan
hệ xã hội. Những quan hệ này vô cùng phức tạp, rất cụ thể và có tính lịch sử.
Mỗi cá nhân có đời sống riêng, có những quan hệ xã hội riêng của mình
không hoàn toàn giống quan hệ xã hội của các cá nhân khác; có kinh nghiệm
riêng; có nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng riêng. Tuy nhiên, các cá nhân trong
một xã hội nhất định dù khác biệt nhau đến đâu, đều mang cái chung; họ đều là
thành viên của xã hội đều mang bản chất xã hội, không thể sống ngoài xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, mỗi giai cấp đều do các cá nhân- thành viên của giai
cấp hợp thành. Mỗi cá nhân trong một giai cấp, vừa mang bản chất chung của
con ngời và loài ngời, vừa mang bản chất của một giai cấp nhất định, đồng thời
có những đặc điểm riêng làm cho cá nhân này không giống với cá nhân khác.
Trong bất cứ xã hội nào, cá nhân cũng không tách rời xã hội. Cá nhân là
hiện tợng có tính lịch sử. Quan hệ giữa cá nhân và xã hội biến đổi trong sự phát
triển của lịch sử. Mối quan hệ đó trong xã hội cổ đại không giống trong xã hội
trung đại, xã hội cận đại cũng nh xã hội hiện đại.

tinh thần:
Nói về vai trò quần chúng trong sáng tạo nghệ thuật, Hồ Chí Minh nhận
định: Quần chúng là những ngời sáng tạo, công nông là những ngời sáng tạo.
Nhng quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội
mà còn sáng tác nữa. "Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý. Những nền
văn học nghệ thuật lớn đều bắt nguồn từ văn học nghệ thuật dân gian. Mác viết:
Thần thoại Hy lạp không những cấu thành kho tàng nghệ thuật của Hy lạp mà
còn là miếng đất đã nuôi dỡng nghệ thuật Hy lạp nữa.
Quần chúng nhân dân đông đảo với hoạt động thực tiễn của họ là cơ sở
của sản xuất tinh thần của xã hội.
Tóm lại, xét từ kinh tế đến chính trị, từ thực tiễn đến tinh thần t tởng thì
quần chúng nhân dân luôn đóng vai trò quyết định trong lịch sử.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, vai trò của quần chúng và
vai trò của cá nhân trong lịch sử không tách rời nhau, trái lại nó quan hệ khăng
khít với nhau. Cá nhân u tú lãnh đạo kiệt xuất là sản phẩm của thời đại, đại
diện cho lợi ích và ý chí của quần chúng và chỉ những cá nhân nh thế mới đợc
quần chúng công nhận là ngời lãnh đạo thực sự của họ. Cá nhân u tú, lãnh đạo
kiệt xuất là sản phẩm, là con đẻ của phong trảo quần chúng nên sức mạnh của
họ, trí tuệ của họ bắt nguồn từ quần chúng nhân dân. Lãnh tụ có vai trò vô cùng
quan trọng đối với phong trào quần chúng. Lãnh tụ sáng suốt, đức độ, tài năng
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status