1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MỚI
TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
APPLICATION OF NEW TECHNOLOGY ON AQUACULTURE Nha Trang, tháng 11 năm 2012 3
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ BIOFLOC, GIẢI PHÁP KỸ THUẬT THAY THẾ CHO
NGHỀ NUÔI TÔM HE THƯƠNG PHẨM HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM
Lục Minh Diệp
Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Đại học Nha Trang
1. MỤC ĐÍCH
Giới thiệu phương pháp quản lý môi trường ao nuôi tôm he thương phẩm bằng cách ứng
dụng công nghệ tạo biofloc: bổ sung C hữu cơ, tạo nên tỉ lệ C/N phù hợp để vi sinh vật
chuyển hóa được lượng N thừa thải ra từ thức ăn, tạo sinh khối vi sinh giàu dinh dưỡng làm
thức ăn cho tôm.
2. NỘI DUNG
2.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện trạng nghề nuôi tôm tại Việt Nam và các giải pháp thay thế:
Hai loài tôm he chủ yếu đang được nuôi tại Việt Nam là tôm sú (Penaeus monodon) và
tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei). Tôm sú là loài tôm bản địa, là đối tượng nuôi chủ
lực của ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam từ 2007 trở về trước. Tuy nhiên, gần đây diện
tích và sản lượng nuôi loài tôm này giảm sút do dịch bệnh, đặc biệt là bệnh đốm trắng. Tôm
thẻ chân trắng được di nhập vào Việt Nam từ 2001, bắt đầu mở rộng diện tích nuôi từ năm
2004. Từ năm 2008, tôm thẻ chân trắng trở thành đối tượng nuôi thay thế tôm sú ở các vùng
nuôi thâm canh. Năm 2011, với tổng diện tích nuôi tôm tại Việt Nam là 656.426 ha, diện tích
nuôi tôm sú: 623.377 ha, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng: 33.049 ha, chỉ chiếm hơn 5%. Tuy
nhiên, sản lượng tôm thẻ chân trắng năm 2011 là 139.400 tấn, chiếm đến 32,42% sản lượng
). Amonium hình thành trong ao có thể do tôm thải
trực tiếp chất bài tiết hoặc từ quá trình khoáng hóa chất hữu cơ tạo nên (do vi khuẩn).
Trong môi trường ao nuôi, Amonium là khí độc, gây chết tôm nếu tồn tại với tỷ lệ cao ở
dạng NH
3
(phụ thuộc vào pH); gây nên sự phì dưỡng, dẫn đến sự nở hoa của tảo. Tảo tàn lụi
sẽ gây nên sự căng thẳng về môi trường. Xác tảo bị phân hủy, tái khoáng hóa lại tạo thành
Amonium. Hình 1: Sơ đồ chuyển hóa N trong ao nuôi tôm
(Nguồn: Burford et al., 2004)
Các giải pháp quản lý và tái sử dụng nguồn nitơ:
(i) Thay nước: Thay nước sẽ giúp đào thải trực tiếp khỏi môi trường ao nuôi nguồn nitơ
thải ra từ thức ăn. Tuy nhiên, giải pháp này sẽ gây nên sự ô nhiễm môi trường chung,
tốn nhiều nước sạch (Ước tính cần 20 m
3
nước sạch cho 1 kg tôm thẻ chân trắng thương
phẩm), không tái sử dụng được nguồn dinh dưỡng bị đào thải, và không phù hợp với
nghề nuôi tôm hiện nay: nuôi ít thay nước để hạn chế rủi ro do thay nước thường xuyên gây ra.
5
(ii) Áp dụng công nghệ nuôi tôm sử dụng vi tảo:
Trong môi trường ao nuôi tôm mà vi tảo chiếm ưu thế (Green water system), vi tảo được
xem như một yếu tố quan trọng để kiểm soát chất lượng nước. Với công nghệ này, nguồn N
thải được chuyển thành nguồn dinh dưỡng trong tảo (chủ yếu), rong biển và thực vật thủy sinh
khác, sau đó:
Quản lý vi tảo, cố gắng duy trì sự ổn định của tảo bằng nhiều giải pháp. Đào thải vi tảo
thông qua thay nước: Hạn chế thay nước vào đầu vụ, tăng tỷ lệ thay nước vào cuối vụ.
x 3%/ngày x 28% x 16% = 1,34 g N/m
2
/ngày.
(16% là tỷ lệ nitơ có trong protein)
75% lượng N này bị thải ra môi trường, tương đương với:
1,34 g N/m
2
/ngày x 75% = 1,005 g N/m
2
/ngày
6
Ví dụ trên cho thấy: ngay cả khi vi tảo phát triển ổn định nhất cũng không thể hấp thụ
hết lượng nitơ thải ra từ thức ăn.
+ Sự phát triển không ổn định của vi tảo sẽ tạo nên những thời điểm căng thẳng về môi
trường ao nuôi.
(iii) Sử dụng trực tiếp nguồn dinh từ mùn bã hữu cơ và sinh khối vi sinh vật phát triển trên
mùn bã hữu cơ:
Nuôi ghép trực tiếp trong ao các loài ăn mùn bã hữu cơ như cá rô phi. Bên cạnh việc
cần sinh khối lớn cá nuôi ghép và sự hạn chế về giá trị sản phẩm nuôi ghép, cần lưu ý mùn bã
hữu cơ có giá trị dinh dưỡng thấp. Nguồn dinh dưỡng quan trọng là sinh khối vi sinh vật phát
triển trên mùn bã hữu cơ. Tuy nhiên, trong điều kiện ao nuôi bình thường (chưa có tác động
kỹ thuật), chỉ khoảng 7% N và 6% P từ thức ăn được chuyển thành sinh khối của vi khuẩn
(trong khi lượng N mất từ thức ăn khoảng 60 – 80%, trung bình 75%).
(iv) Sử dụng công nghệ biofloc:
Bổ sung thêm C hữu cơ để vi sinh vật sử dụng hiệu quả nguồn N thải ra từ thức ăn,
chuyển thành sinh khối vi sinh vật làm thức ăn cho tôm. Quản lý môi trường dựa vào biofloc
có các ưu điểm: Giảm amonium hiệu quả do quá trình hấp thu N của vi khuẩn liên tục, diễn ra
cả ngày và đêm, và nhanh gấp 10 lần quá trình nitrat hóa. Tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng
từ thức ăn: Lượng N thức ăn được tôm tích lũy trong cơ thể tăng lên, trung bình: 45% (thay vì
hydroxy butirate. Các polymer sinh học có tác dụng kết dính các thành phần khác tạo thành
biofloc ở dạng bông, lơ lửng trong nước. Poly -hydroxy butirate còn có khả năng loại bỏ vi
khuẩn gây bệnh Poly -hydroxy butirate
Các loài vi sinh vật có khả năng tạo polymer sinh học: Zooglea ramigera, Escherichia
intermedia, Paracolobacterium aerogenoids, Bacillus subtilis, Bacillus cereus,
Flavobacterium, Pseudomonas alcaligenes, Sphaerotillus natans, …
8
Thành phần biofloc bao gồm: Hỗn hợp các vi sinh vật dị dưỡng (vi khuẩn tạo floc và vi
khuẩn sợi), mảnh vụn, keo, polymer sinh học, cation, tế bào chết, muối tinh thể,….
Bám vào biofloc còn có vi tảo (tảo sợi, tảo silic), nấm, động vật nguyên sinh, động vật
phù du (luân trùng,…), giun tròn,…,
Trong biofloc, vật chất hữu cơ chiếm 60-70%, vật chất vô cơ chiếm 30-40%. Trong vật
chất hữu cơ, vi khuẩn sống chiếm khoảng 2-20%. Mật độ sinh khối vi khuẩn trung bình: 1 g
tươi/ml biofloc.
Biofloc có cấu trúc rỗng, xốp (99% thể tích là khoảng không), kích thước không nhất
định, có thể biến đổi: 0,1 – 2 mm, tốc độ chìm lắng chậm: 1-3 m/giờ.
Tỉ lệ C/N và tính toán lượng carbohydrate cần bổ sung.
Vấn đề mấu chốt trong công nghệ biofloc là tạo điều kiện tối ưu để vi sinh vật dị dưỡng
phát triển, hấp thụ amonium, tạo sinh khối làm thức ăn cho vật nuôi.
Vi sinh vật dị dưỡng sử dụng C hữu cơ được bổ sung và nguồn nitơ thải ra từ thức ăn để
tổng hợp nên protein. Nếu bổ sung C với tỷ lệ thích hợp sẽ tăng cường quá trình chuyển hóa
nitơ vô cơ thành protein trong sinh khối vi sinh vật.
Tỷ lệ C:N tối ưu để hình thành biofloc: >12,5 : 1. Với C:N = 10:1, vi khuẩn dị dưỡng có
thể hấp thụ hoàn toàn 10 mgNH
4
N = W thức ăn x %N thức ăn x %N thải
= W thức ăn x %Pr thức ăn x 16% x 50%
= 0,08 x W thức ăn x %Pr thức ăn
(N là lượng nitơ vi sinh vật chuyển hóa được. Trong trường hợp này, chúng ta mong
muốn toàn bộ lượng nitơ thải ra từ thức ăn đều được chuyển hóa thành sinh khối vi sinh vật,
cho nên N cũng chính là lượng nitơ thải ra từ thức ăn).
Hiệu quả chuyển hóa C của vi sinh vật:
E = C đồng hóa (C
mic
) / C hấp thụ (C)
E thường: 40-60% (chọn gần đúng: E = 40% = 0,4)
Tỷ lệ C:N thích hợp cho hình thành biofloc là 10 hoặc 12.
Trong cơ thể vi sinh vật, tỷ lệ C/N thường là 4/1 (C
mic
/ N =4)
CH là lượng carbohydrate cần bổ sung. Tỉ lệ C trong carbohydrate bổ sung thường là
50%. Vì vậy: C/ CH = 50%
Lượng N được vi sinh vật hấp thụ để tổng hợp protein:
N = C
mic
: 4 = 0,4 x C : 4 = 0,4 x 0,5 x CH : 4 = 0,05 x CH
Hay: CH = N/0,05
Tức là: Để vi khuẩn chuyển hóa 1g NH
4
+
-N/m
3
, cần cung cấp 20 g carbohydrate/m
3
.
10
o Nuôi tôm ứng dụng công nghệ biofloc (hoàn toàn không có vi tảo): Lượng carbohydrat
bổ sung bằng khoảng 50% lượng thức ăn.
o Nuôi tôm với công nghệ semi-biofloc (có kèm theo vi tảo): Lượng carbohydrat bổ sung
bằng khoảng 20% lượng thức ăn.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và duy trì biofloc trong ao nuôi tôm.
i. Tỷ lệ N/P
Tỷ lê N/P quyết định thành phần tảo (tự dưỡng) hay vi khuẩn dị dưỡng chiếm ưu thế
trong ao.
N/P < 10, dinoflagellata (tảo giáp) chiếm ưu thế
N/P = 10-20, tảo lục, tảo silic, tảo giáp và vi khuẩn sẽ cân bằng
N/P > 20, vi khuẩn chiếm ưu thế
Trong ao nuôi với công nghệ biofloc, cần duy trì N/P > 20, bằng cách dùng zeolite để
hấp thụ bớt P. Không dùng urea để nâng N/P, vì sẽ làm cho tảo nhanh chóng chiếm ưu thế.
ii. Độ kiềm:
Duy trì độ kiềm 100-200 mgCaCO
3
/lít bằng vôi CaCO
3
hoặc Dolomite (1-20 ppm, mỗi
1-2 ngày).
iii. Oxy hòa tan (DO):
Trong ao nuôi áp dụng biofloc, nhu cầu oxy cao, cần thiết cho sự hoạt của các vi sinh
vật hiếu khí. Yêu cầu: > 4 mgO
2
/lít. Sục khí để bảo đảm DO và bảo đảm sự lơ lửng của
biofloc nhưng không ảnh hưởng đến cấu trúc của floc. Thực nghiệm cho thấy: Năng lượng
dùng cho đảo nước ở mức 0,1-10 W/m
20 ppm hàng ngày. Sử dụng Calcium peroxide.
Thông tin về quy trình nuôi tôm ứng dụng công nghệ biofloc đang thực nghiệm
Viêt Nam.
Phương pháp áp dụng biofloc đang thực nghiệm (tại Phòng Kinh tế Cần Giờ):
Ao lót bạt HDPE (với ao không lót bạt, chỉ thích hợp cho ứng dụng semi-biofloc). Tăng
sục khí: 30-32 HP /ha
Chuẩn bị ao nuôi: Gây màu biofloc thay cho gây màu bằng vi tảo.
Ngày trước
khi thả
giống
Công việc
15
Cải tạo ao nuôi, bơm nước
12
Gây màu biofloc: Bón 20 kg thức ăn + 20 g Pro-W đã ủ qua đêm, và 20 kg bột
mì (hoặc bột gạo), và 15 kg NutriLake
11
Yêu cầu độ kiềm: 100-200 mgCaCO
3
/lít.
Nếu < 90 mgCaCO
3
/lít, bón 50 kg Dolomite
10
Bón 20 kg thức ăn + 20 g Pro-W đã ủ qua đêm, và 10 kg mật đường
9
Nếu độ kiềm < 100 mgCaCO
3
Nếu lượng biofloc > 15ml, ngưng bón bột mì/mật đường
Lưu ý theo dõi ngày nuôi 25-50, khi môi trường chuyển sang hoàn toàn biofloc.
Không thay nước, chỉ bổ sung nước
2.3. KẾT LUẬN
Ứng dụng công nghệ biofloc đang được ứng dụng hiệu quả ở một nước, là giải pháp có
thể được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam, mang lại hiệu quả quản lý môi trường, giảm
lượng thức ăn.
Ứng dụng công nghệ biofloc đang được quan tâm bởi nhiều công ty, doanh nghiệp nuôi
tôm tại Việt Nam hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Avnimelech, Y., 1999. Carbon/Nitrogen ratios as a control element in aquaculture
system. Aquaculture 176, 227-235.
2.
Boyd, C.E., 1998. Pond water aeration systems. Aquaculture Engineering 18, 9-40.
3.
Burford, M.A., Lorenzen, K., 2004. Modeling nitrogen dynamics in intensive shrimp
ponds: the role of sediment remineralization. Aquaculture 229, 129–145
4.
De Schryver, P., Crab, R., Defoirdt, T., Boon, N., Verstraete, W., 2008. The basics of
bioflocs technology : The added value for aquaculture. Aquaculture 277, 125-137.
13
5.
Ekasarin J., Crab, R. and Verstraete, W., 2012. Primary nutritional content of bio-flocs
cultured with different organic carbon sources and salinity. HAYATI Journal of
Biosciences September, Vol. 17 No. 3, 125-130
6.
Trong hệ thống Nuôi trồng thủy sản tuần hoàn, chất thải sinh ra có mối liên hệ mật thiết với
lượng thức ăn sử dụng trong hệ thống. Các dạng chất thải trong hệ thống bao gồm thức ăn dư
thừa, chất thải từ quá trình tiêu hóa và bài tiết của động vật thủy sản và sản phẩm phân hủy
của vi sinh vật. Vì hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn là hệ thống gần như khép kín, tất cả
các dạng vật chất này đều có nguồn gốc chuyển hóa từ thức ăn sử dụng. Do đó, lượng chất
thải sinh ra trong hệ thống hoàn toàn có thể tính toán xử lý được dựa trên khối lượng thức ăn
cùng một số thông số đặc trưng về đối tượng nuôi và phương tiện xử lý.
Dựa trên kiến thức tiếp thu được từ lớp tập huấn Hệ thống tuần hoàn trong nuôi trồng thủy
sản (RAS-C2C) tháng 9/2012 cùng một số tài liệu chuyên ngành liên quan, tác giả rút ra một
số nội dung cô đọng và quan trọng nhất để trình bày trong báo cáo. Các nội dung này bao
gồm: (i) cấu trúc chung của RAS, (ii) tính toán sức tải thiết kế của hệ thống, (iii) chọn lựa
phương tiện xử lý chất thải phù hợp, (iv) tính toán xử lý chất thải trong RAS.
2.2.1. Cấu trúc chung của Hệ thống Nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS)
15
Một hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn cơ bản thường gồm một số bể nuôi đối tượng
thủy sản, bể tách chất thải rắn (TSS), bể chứa với máy bơm và bể lọc sinh học. Ngoài ra, hệ
thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn có thể có thêm một hoặc các bộ phận như: bể phản
nitrate, dụng cụ khử trùng, bể periphyton hoặc bể rong bèo.
Hình 1. Cấu trúc chung của hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS)
2.2.2. Tính toán sức tải thiết kế của hệ thống
Sức tải thiết kế của hệ thống khả năng tải được sinh khối cá mong muốn, lượng thức ăn tối đa
có thể sử dụng trong ngày hoặc lượng chất thải tối đa mà hệ thống có thể xử lý. Để tính toán
17
Hình 4. Ví dụ biểu diễn biến động lượng thức ăn sử dụng theo ngày trong RAS
Từ lượng thức ăn tối đa sử dụng trong ngày, lượng chất thải tối đa sinh ra trong hệ thống cũng
có thể được ước lượng một cách khoa học. Các dạng chất thải quan trọng nhất cần quan tâm
trong hệ thống gồm total ammonia nitrogen (TAN), CO
2
, chất thải rắn (TSS) sinh ra và lượng
oxy hòa tan (DO) cần cung cấp hàng ngày cho hệ thống.
Có nhiều công thức khác nhau để xác định lượng thải các vật chất trên từ thức ăn sử dụng.
Công thức các chi tiết và phức tạp thường có độ chính xác càng cao. Các công thức đơn giản
của Timon (2005) cũng có thể được sử dụng, chi tiết như sau:
Lượng TAN sinh ra = lượng thức ăn sử dụng x protein thức ăn x 0,092
Lượng O
2
cần cung cấp = lượng thức ăn sử dụng x 0,5
Lượng CO
2
sinh ra = 1,375 x lượng O
2
cần cung cấp
Lượng TSS sinh ra = 0,25 x lượng thức ăn sử dụng
Từ lượng thức ăn sử dụng tối đa trong ngày, dựa vào các công thức trên, người thiết kế RAS
có thể tính toán được các chất thải với lượng tối đa sinh ra trong hệ thống. Với thể tích nước
nuôi đã biết trong hệ thống, hàm lượng các chất thải trên cũng có thể tính toán được để so
sánh với các giới hạn thích nghi của đối tượng nuôi.
2.2.3. Chọn lựa phương tiện xử lý chất thải phù hợp
Có rất nhiều phương tiện xử lý chất thải có thể ứng dụng trong hệ thống nuôi trồng thủy sản
tuần hoàn. Các phương tiện này được chia làm 2 loại: lọc chất thải rắn TSS và lọc sinh học.
Lọc bằng hạt
Cỡ hạt
>20
Xốp tổ ong
Cỡ hạt
>0,1
Nổi
Tạo bọt
Bám lên bọt khí
< 30
Ozone
Xử lý ozone
Oxy hóa
< 30 Hình 5. Bể lắng lọc chất thải rắn
Hình 6. Bể lắng tấm nghiêng lọc TSS 19
Hình 7. Bể lắng xoáy lọc TSS Hình 8. Lọc trống và lọc đĩa
hàm lượng chất thải tối đa trong hệ thống (g/m
3
) và C2 là hàm lượng chất thải sau xử lý (cũng
là ngưỡng thích nghi của đối tượng).
2.3. KẾT LUẬN
Việc áp dụng RAS trong nuôi trồng thủy sản chưa phổ biến do thiếu cái nhìn toàn diện và vẫn
được cho là phức tạp [3]. Thực ra, thiết kế RAS đơn giản chỉ là tính toán xử lý chất thải trong
hệ thống [8]. Việc tính toán theo đúng các bước trên trong thiết kế RAS sẽ nâng cao hiệu quả,
khả năng áp dụng hệ thống vào thực tế sản xuất. Việc tính toán xử lý chất thải trong hệ thống
nuôi trồng thủy sản tuần hoàn gồm các bước sau.
Thu thập thông tin chi tiết về đối tượng nuôi
Xác định sản lượng mong muốn và sinh khối tối đa của hệ thống
Thông tin về loại thức ăn sử dụng và lượng thức ăn cho ăn tối đa trong ngày
Tính toán lượng chất thải tối đa trong ngày sinh ra trong hệ thống
Chọn lựa phương tiện xử lý từng loại chất thải
Tính lưu tốc nước hệ thống cần thiết cho mỗi đơn vị phương tiện xử lý chất thải
Điều chỉnh loại, số lượng và kích thước các đơn vị xử lý chất thải
Chọn lưu tốc xử lý chất thải tối ưu cho hệ thống
Tài liệu tham khảo:
1. Animal Science Group of Wageningen University, 2010. Recirculation Aquaculture System.
Lecture Notes for RAS-C2C Project Training.
2. Halachmi, I. (2007). Biomass management in recirculating aquaculture systems using queuing
networks. Aquaculture, 262, 514-520.
22
3. Losordo, T.M., Masser, M.P. và Rakocy, J. (1998). Recirculating Aquaculture Tank Production
Systems - An Overview of Critical Considerations. SRAC Publication, No 451.
4. Losordo, T.M., Masser, M.P. và Rakocy, J.E. (1999). Recirculating Aquaculture Tank Production
Systems - A Review of Component Options. SRAC Publication, No. 453.
5. Masser, M.P., Rakocy, J. và Losordo, T.M. (1999). Recirculating Aquaculture Tank Production
=
3,5±0,25cm. Chuyển từ Tp. Hồ Chí Minh về Nha Trang bằng ô tô. Cá nuôi trong bể xi măng
có thể tích 5m
3
, mật độ nuôi: 20con/m
3
thời gian nuôi 60 ngày. Thức ăn Cargill dạng viên nổi
có đường kính 1mm, khẩu phần cho ăn 5-7% khối lượng thân cá, ngày cho cá ăn 2 lần.
2.2 Nuôi vỗ cá bố mẹ: Cá nuôi trong bể xi măng có thể tích: 1m
3
. Cá bố mẹ tuyển chọn từ
đàn cá hậu bị: 400con, chiều dài trung bình cá L
tb
= 105±0,34mm, khối lượng trung bình cá
W
tb
= 9,2±0,41gam. Mật độ nuôi: 0,5kg/1m
2
. Thời gian nuôi: 50 ngày. Thức ăn Cargill dạng
viên nổi có đường kính 1mm, khẩu phần cho ăn: 3-5% khối lương thân cá, ngày cho cá ăn 2 lần.
2.3 Cho cá đẻ nhân tạo: Cho cá đẻ bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo. Kích thích cho cá
đẻ bằng phương pháp tiêm kích dục tố với phép tiêm 2 liều. Kỹ thuật cho cá đẻ: Vuốt trứng và
tinh dịch, cho thụ tinh nhân tạo, khử dính và ấp trứng đã khử dính trong bình vây.
2.4 Ương nuôi cá giống:
- Ương từ cá bột lên cá hương: Cá ương trong bể có thể tích 1m
3
, mật độ thả 100 com/lít, thức
ăn bao gồm: thức ăn tổng hợp Sea Grass Powder (No 1), 60% artemia nhân tạo và thức ăn
24
4
Thời gian nuôi
Ngày
60
5
Chiều dài cá trung bình khi thu
Cm/con
10,5±0,34
6
Khối lượng cá trung bình khi thu
Gam/con
9,2±0,41
7
Tốc độ tăng trưởng theo chiều dài
Mm/ngày
1,17±0,21
8
Tỷ lệ sống
%
75
II.2 Nuôi vỗ cá bố mẹ
2.1 Kết quả tuyển chọn cá bố mẹ
Đàn cá hậu bị nuôi từ đàn cá giống chuyển về từ Thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn cá bố mẹ
đưa vào nuôi vỗ được tuyển chọn từ đàn cá hậu bị, có kích cỡ trung bình từ 8 -15g/con . Cá bố
mẹ được tuyển chọn dựa vào khối lượng, chiều dài và đồng thời cũng dựa vào lỗ sinh dục của
cá trước khi đưa vào nuôi vỗ trong các bể A1, A2, B1 và B2. Kết quả tuyển chọn đàn cá bố
mẹ được thể hiện ở bảng 3.2.
Bảng 2: Kết quả tuyển chọn đàn cá bố mẹ đưa vào nuôi vỗ
Bể nuôi
B1
1/3-3/3/2012
9,8
110
0,49
100
B2
1/3-3/3/2012
8,6
102
0,43
100
Ở cá chạch Đài Loan, cá đực có thể xác định được bằng cách vuốt tinh ra khi chúng thành
thục sinh dục. Kết quả giải phẫu của nhiều mẫu cá để quan sát tuyến sinh dục và kết hợp với
quan sát hình thái bên ngoài của cá chạch Đài Loan đực và cái cho thấy rằng, có một vài đặc
điểm có thể xác định được giới tính và sự xác định này chỉ có độ chính xác cao trong mùa vụ
sinh sản của cá.
2.2 Kết quả nuôi vỗ cá bố mẹ
Kết quả nuôi vỗ cá bố mẹ được thể hiện ở bảng dưới đây
Bảng 3: kết quả nuôi vỗ cá bố mẹ
TT
Các chỉ tiêu khảo sát
Đơn vị tính
Giá trị
1
Thể tích bể nuôi
m
3
9
Tỷ lệ thành thục
%
73,7
10
Hệ số thành thục
%
6,75
11
Sức sinh sản tuyệt đối
Trứng/cá cái
365-2994
12
Sức sinh sản tương đối
Trứng/gam
42-196
II.3 Cho cá đẻ nhân tạo
3.1 Kết quả chọn và kích thích cho cá chạch đẻ nhân tạo
Cá chạch Đài loan đực thường có kích cỡ lớn thon dài hơn cá cái, gai sinh dục dài nên dễ
dàng phân biệt chúng với những con cá cái.Cá chạch Đài Loan cái có tuyến sinh dục phát
triển, bụng thường to hơn cá đực, da bụng mỏng, gai sinh dục tù, hơi tròn đây là đặc điểm
chính giúp ta phân biệt cá chạch Đài Loan đực và cái trong mùa vụ sinh sản.