LUẬN VĂN: Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trước động thái mới của thương mại quốc tế potx - Pdf 11

LUẬN VĂN:

Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
trước động thái mới của thương
mại quốc tế
Lời mở đầu

Trong những năm qua, dệt may luôn được coi là một trong những ngành xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam, giá trị xuất khẩu mà nó mang lại tăng liên tục trong khoảng
20 - 25%/năm, chiếm 14 - 15% kim ngạch xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho hơn 2
triệu lao động, kim ngạch xuất khẩu luôn đứng vị trí thứ hai sau dầu thô và dự kiến sẽ
đạt 5,183 tỷ USD vào năm 2005. Cùng với thời gian, sản phẩm dệt may Việt Nam đã
dần khẳng định được vị trí của mình, đã thâm nhập được vào nhiều thị trường trên thế
giới kể cả những thị trường khó tính nhất như EU, Mỹ, Nhật Bản,….Chính từ những kết
quả kinh tế - xã hội to lớn mà ngành dệt may xuất khẩu mang lại cho đất nước mà việc
nghiên cứu, phân tích để nắm rõ và hiểu một cách cặn kẽ thực trạng trong hoạt động

các thị trường Liên Xô cũ và Đông Âu tan rã nhanh chóng. Cuộc khủng hoảng nghiêm
trọng sâu sắc về nhiều mặt của hệ thống XHCN Đông Âu và việc giải thể Hội đồng
tương trợ kinh tế đã đặt hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trước những khó khăn chồng
chất, nan giải nhất là không có thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trong hoàn cảnh đó, ngành
dệt may một mặt khôi phục lại vị trí của mình trên thị trường truyền thống, mặt khác
phải tìm cách thâm nhập các thị trường mới, đặc biệt là thị trường các nước công nghiệp
phát triển. Thị trường các nước phát triển với yêu cầu cao về chất lượng, mẫu mã, thời
gian giao hàng,….gây nhiều bỡ ngỡ cho doanh nghiệp dệt may Việt Nam từ lâu đã quen
với cách làm ăn của thị trường các nước anh em dễ tính.

Tuy nhiên, sang năm 1992 được sự phối hợp và hỗ trợ tích cực của các cơ quan
quản lý nhà nước ở cấp vĩ mô cùng những kết quả thu được của công cuộc đổi mới, cơ
chế quản lý kinh tế đang đi vào chiều sâu với những thắng lợi trong quan hệ đối ngoại,
chính sách mở cửa của ngành dệt may xuất khẩu đã từng bước phục hồi và phát triển.
Hiệp định buôn bán hàng dệt may giữa Việt Nam và cộng đồng châu Âu được ký kết
vào ngày 15/12/1992 đã mở ra cho ngành dệt may Việt Nam một thị trường tiêu thụ rộng
lớn.
Ngành dệt may Việt Nam cũng đã đẩy mạnh xuất khẩu theo hình thức gia công
hoặc phương thức thuơng mại thông thường với một số nước có nền công nghiệp phát
triển như Nhật Bản, Canada, các nước công nghiệp mới như Đài Loan, Hồng Kông,
Singapore. Và gần đây sau khi Mỹ bỏ cấm vận và bình thường hoá quan hệ với Việt
Nam, hàng dệt may Việt Nam có thêm thị trường Mỹ.
Trong những năm gần đây ngành dệt may Việt Nam đã phát triển quy mô sản
xuất một cách nhanh chóng. Hàng loạt công ty, doanh nghiệp ra đời thu hút hàng vạn lao
động, sản lượng dệt may sản xuất tăng nhanh cùng với việc không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm. Đặc biệt, một bước đánh dấu quan trọng trong lịch sử ngành dệt may
Việt Nam là ngày 29/4/1995, chính phủ Việt Nam đã ký quyết định thành lập Tổng công
ty dệt may Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là Vietnam National Textile And
Corporation, viết tắt là Vinatex. Vinatex là sự hợp nhất của Tổng công ty dệt Việt Nam
và Liên hiệp các xí nghiệp sản xuất - xuất nhập khẩu may mặc. Sự tổng hợp này nhằm

ứng cho một số ngành công nghiệp kỹ thuật cao (như công nghiệp lắp ráp, công nghiệp
điện tử). Những ngành này vẫn phải tốn nhiều chi phí cho đào tạo công nhân, gây tổn
thất về thời gian và tiền bạc. Song, với ngành dệt may, nhu cầu về lao động kỹ thuật cao
không lớn bởi đặc thù của ngành là sử dụng nhiều lao động giản đơn, đặc biệt là ngành
may. Trình độ tay nghề của công nhân cũng là cần thiết để nâng cao năng suất lao động,
nhưng đó không phải là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của ngành. Do vậy chúng ta
có thể khẳng định: mặc dù chất lượng lao động Việt Nam chưa cao, sự dồi dào về số
lượng lao động vẫn là một lợi thế trước mắt cơ bản và quan trọng để phát triển công
nghiệp dệt may trong thời gian tới. Vấn đề là cần có chính sách sử dụng nguồn nhân lực

này một cách hợp lý và có hiệu quả, đồng thời cũng cần tổ chức các hình thức giáo dục,
đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động. Ngoài ra nguồn
nhân lực của nước ta còn có lợi thế là tiền lương tính theo giờ thấp. Mức lương công
nhân ngành may hiện nay là 0,24 USD/giờ, thấp hơn hẳn so với một số nước trong khu
vực như: Inđônêsia (0,32 USD/giờ), Singapore (1,13 USD/giờ, Thái Lan (1,18
USD/giờ). Cũng giống như sự dồi dào về lao động, mức lương thấp chỉ là một lợi thế
trước mắt và không có tính bền vững vì yếu tố chất lượng mới quyết định năng suất lao
động. Nếu mức lương thấp nhưng tay nghề lao động không đồng đều nhau hay quá kém
thì cũng cho năng suất lao động thấp, điều này cũng có nghĩa là chi phí sản xuất cao, dẫn
đến giá thành sản phẩm cao, khả năng cạnh tranh giảm.
Hiện nay, giá nhân công thấp đang là một lợi thế của toàn bộ nguồn lao động Việt
Nam nói chung và ngành dệt may nói riêng. Song trong thời gian tới, lợi thế này sẽ mất
dần đi nếu như chúng ta không thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao năng suất lao
động và trình độ tay nghề của công nhân để củng cố ưu thế cạnh tranh. Chất lượng lao
động, bao gồm cả trình độ tay nghề và sức khoẻ của người lao động sẽ giúp tăng năng
suất lao động, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm, nhờ đó hàng may Việt Nam mới
giữ được chữ tín với khách hàng.
1.1.2.2. Lợi thế về điều kiện vị trí địa lý
- Về điều kiện tự nhiên:
Nước ta là một nước nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nên có thể tự

cao hơn nên sẽ là quá khả năng nếu đầu tư để ngành dệt phát triển ngang bằng ngành
may. Sự yếu kém của ngành dệt dẫn đến hậu quả tất yếu là thiếu nguyên liệu cho ngành
may, không khai thác được lợi thế tự nhiên trong việc tự túc nguyên liệu. Ngoài ra cơ sở
hạ tầng nước ta còn rất yếu kém, mà những vùng trồng cây công nghiệp, cây nguyên liệu
lại thường ở xa, gây khó khăn cho quá trình vận chuyển. Cơ sở hạ tầng kém cũng cản trở
sự phát triển của du lịch, giao lưu kinh tế bằng đường bộ.
Giải quyết vấn đề này không phải là một việc đơn giản, không thể hoàn tất trong
một sớm một chiều vì nó còn phụ thuộc vào toàn bộ nền kinh tế nói chung. Nhưng nếu
không được giải quyết sớm thì ngành dệt may lại mất đi một lợi thế quan trọng. Trong

thời điểm hiện nay, nước ta đang từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới và phải đối
mặt với một môi trường cạnh tranh gay gắt. Nếu chúng ta để mất lợi thế trong cạnh tranh
thì có thể bị mất thị trường. Do đó, đây là một vấn đề quan trọng, đòi hỏi cần được quan
tâm giải quyết kịp thời.
1.1.2.3. Ngành dệt may đã có truyền thống lâu đời tại Việt Nam
Lịch sử đã chứng minh Việt Nam là một trong những cái nôi của loài người và
nghề dệt vải đã xuất hiện ở Việt Nam từ hàng nghìn năm nay.Tuy nhiên, nghề ươm tơ,
dệt vải ở Việt Nam từ xa xưa chỉ là việc làm tự phát để đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu
nhất của cá nhân và gia đình. Các tư liệu về lịch sử cho thấy ngành dệt đã phôi thai hình
thành từ thế kỷ thứ bảy ở vùng châu thổ sông Hồng. Tại đây đã hình thành các vùng
nuôi tằm như Hưng Yên, Thái Bình. Cây bông cũng được trồng tại các vùng cao miền
núi phía bắc Việt Nam và một số tỉnh như Ninh Thuận, Đồng Nai. Nguyên Phi ỷ Lan
thời Lý Chính là người khởi xướng đưa nghề ươm tơ dệt vải trở thành nghề truyền thống
của Việt Nam, tạo bước mở cho ngành dệt may phát triển mạnh mẽ sau này.
Chúng ta đã có những làng dệt nổi tiếng: Tích Sài, Bái Ân, Yên Thái, Nghĩa Đô.
Những làng dệt ven Hồ Tây này đã nổi tiếng ngay từ thời Lý, Trần. Đến năm 1890, việc
thực dân Pháp xây dựng nhà máy dệt Nam Định đã đánh dấu sự phát triển của công
nghiệp dệt tại Việt Nam.
Từ năm 1954, công nghiệp dệt may đã phát triển cao hơn, đặc biệt phát triển
mạnh mẽ ở miền nam với công nghệ máy móc khá hiện đại của châu Âu và tại miền Bắc

nguồn lao động, công nghiệp dệt may lại được dịch chuyển lần thứ ba sang các nước
công nghiệp mới (NICS) ở châu á như Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc. Cho đến
những năm 1980, khi các nước Đông Nam á dần dần chuyển sang sản xuất các mặt hàng
có công nghệ kỹ thuật cao hơn như ô tô, điện lạnh, điện tử, thì lợi thế so sánh của ngành
dệt may mất đi, song song với quá trình đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài, các nước NICS
và các nước phát triển đã buộc phải dịch chuyển ngành này sang các nước đang phát
triển như ASEAN, Trung Quốc và các nước Nam á.

Năm 1987, trong các nước cung cấp hàng may lớn của thế giới đã có 3 nước của
khu vực này, đó là Hồng Kông, Hàn Quốc và Đài Loan. Đến năm 2001, 8 trong 15 nước
và vùng lãnh thổ đứng đầu thế giới về cung cấp hàng may mặc thuộc châu á là: Trung
Quốc (36,5 tỷ USD), Hồng Kông (23,45 tỷ USD - kể cả tái xuất khẩu), ấn Độ (6,03 tỷ
USD), Bangladesh (5,11 tỷ USD), Inđônêsia (4,53 tỷ USD), Trung Quốc (4,31 tỷ USD),
Thái Lan (3,58 tỷ UĐS), và Đài Loan (2,48tỷ USD).
Châu Âu, quê hương của ngành công nghiệp may mặc, giờ đây đã ngừng việc sản
xuất trên quy mô lớn hàng phổ dụng để đi vào thiết kế hàng thời trang cao cấp. Ngày
nay trong danh mục các nước hàng đầu về sản xuất hàng may mặc xuất khẩu của thế
giới không thấy bất kì tên một nước công nghiệp phát triển nào nữa, mặc dù sản phẩm
mang tên các hãng lâu đời của họ lại chiếm tỷ trọng khá lớn trên thị trường thế giới.
Việc đặt hàng may tại các nước đang phát triển đã trở thành phương thức phổ biến. Nhờ
đó, châu á được coi như một trung tâm sản xuất hàng may mặc xuất khẩu của thế giới.
Là nước đi sau, Việt Nam có điều kiện thuận lợi trong việc kế thừa các thành tựu
của các nước công nghiệp phát triển. Bởi vậy xu hướng dịch chuyển ngành dệt may từ
các nước phát triển sang các nước đang phát triển, nơi có ưu thế cạnh tranh về nguồn lao
động và giá nhân công đã và đang tạo cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển công nghiệp
dệt may.
Như vậy quá trình dịch chuyển của ngành công nghiệp dệt may là tất yếu. Do
vậy, tận dụng được quá trình này là một lợi thế và điều kiện cơ bản phát triển công
nghiệp dệt may trong thời gian tới. Điều cần thiết là chúng ta phải thực hiện các chính
sách, biện pháp phù hợp, một mặt tiếp nhận nhanh chóng quá trình dịch chuyển ngành từ

Đối với một nước có dân số khoảng 80 triệu người, có nguồn lao động dồi dào
mà đặc trưng của ngành dệt may là cần nhiều lao động nhưng lại không phải đào tạo quá
công phu cầu kỳ và đòi hỏi yếu tố trí tuệ cao; mặt khác với nhu cầu đòi hỏi về chất
lượng mẫu mã sản phẩm cao như hiện nay thì trình độ chuyên môn hoá sản phẩm ngày
càng được nâng cao đáp ứng nhu cầu xuất khẩu cần thiết có những khâu, công đoạn sản
xuất đòi hỏi trình độ chuyên môn và hàm lượng chất xám cao, có những khâu lại chỉ đòi
hỏi trình độ sản xuất nhất định, có những công đoạn trong sản xuất dệt may chỉ toàn đòi

hỏi làm bằng chân tay là chủ yếu nhờ những đặc trưng riêng của ngành may mặc. Điêù
này có thể giúp giải quyết đáng kể nhu cầu công ăn việc làm cho xã hội, đặc biệt là đối
với lao động nữ. Thông qua việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, ngành
dệt may còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, ổn định đời sống nhân dân và
ngăn chặn hậu quả xã hội do nạn thất nghiệp gây ra. Theo dõi tăng trưởng của sản xuất,
số lao động được sử dụng trong ngành cũng không ngừng tăng lên, ước tính toàn ngành
hiện nay sử dụng khoảng trên 2 triệu lao động, chiếm trên 25% lao động toàn quốc.
Hơn thế nữa là một ngành sản xuất mũi nhọn có mặt trên 100 nước và vùng lãnh
thổ trên thế giới, chiếm trên 15% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; ngành dệt may
không chỉ giữ vị trí nhất định tạo ra tích luỹ vốn trong quá trình thực hiện đường lối
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt là đối với chiến lược mở rộng thương
mại quốc tế và kinh tế đối ngoại - một chiến lược đúng đắn cho xu hướng Toàn cầu hoá
- Quốc tế hoá đời sống kinh tế.
1.2. Tình hình xuất khẩu hàng dệt may
1.2.1. Kim ngạch xuất khẩu
Cùng với sự phát triển của đất nước, ngành công nghiệp dệt may thời gian qua đã
có sự phát triển vượt bậc, có vai trò quan trong trong công cuộc CNH - HĐH đất nước,
có khối lượng sản phẩm và kim ngạch xuất khẩu lớn.
Thật vậy, trong 10 năm trở lại đây, ngành dệt may đã chứng tỏ là ngành công
nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế, có những bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực xuất
khẩu với tốc độ tăng trưởng bình quân 24,8%/năm, vươn lên đứng thứ hai trong cả nước
về kim ngạch xuất khẩu sau dầu khí. Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu đạt 3600 triệu


Kim ng
ạch

1994

550

1995

750

1996

1150

1997

1320

1998

1450

1999

1740

2000


tăng khá cao: năm 1995 là 845 triệu USD, thì năm 1999 là 1.484 triệu USD và năm 2003
đã là 3.085 triệu USD và chiếm gần 85% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành dệt
may Việt Nam.

Hàng dệt:
Mặt hàng dệt kim rất đa dạng và được sử dụng rộng rãi trong nhiều trường hợp,
song chúng ta mới chỉ quan tâm sản xuất các mặt hàng trên máy đan tròn, phần lớn là áo
Polo-Shirt, T-Shirt từ sợi cotton và PE/Co. Tuy chủng loại mặt hàng còn hạn chế, song
thời gian qua các mặt hàng dệt kim xuất khẩu đã được cải tiến nhiều về mặt chất lượng.
Mặt hàng xuất khẩu từ sợi PE/Co chiếm 75-80% hàng dệt kim có giá trị xuất khẩu thuộc
nhóm giá thấp và trung bình (2,5-3,5 USD/sản phẩm), trong khi nhu cầu hàng chất lượng
cao còn nhiều.
Các mặt hàng sử dụng sợi bông 100% đã khép kín được sản xuất từ nguyên liệu
đến hoàn tất. Các mặt hàng sợi đơn chải kỹ chỉ số cao phục vụ cho áo sơ mi xuất khẩu
(hàng đơn màu hay carô, sọc màu) nay đã sản xuất được. Nhiều mặt hàng sợi dày được
tăng cường công nghệ làm bóng, phòng co cơ học như kaki đã xuất khẩu sang các thị
trường Châu Âu, Nhật. Mặt hàng Denim 19% sợi bông đã được phục hồi với công nghệ
đổi mới tại một số doanh nghiệp và được may xuất khẩu cho thị trưòng Châu Âu. Nếu
như trước đây thời điểm cao nhất, Việt Nam chỉ xuất được khoảng 3000 tấn khăn tắm
sang Đông Âu thì tới nay đã đạt được 10 nghìn tấn, với đủ chủng loai khăn về kích
thước và kiểu mẫu.
Các mặt hàng dùng sợi tổng hợp 100%, nhờ được đầu tư thêm thiết bị, trang bị
các hệ thống xe lăn sợi, thiết bị giảm trọng lượng,…. tạo nên những hàng giả tơ tằm và
hàng giả len thích hợp với khí hậu nhiệt đới. Nhu cầu tiêu thụ loại nguyên liệu này đến
hàng chục tấn/ năm.

Mặc dù trong những năm vừa qua, các mặt hàng đã được phát triển và nâng cao
chất lượng một cách rõ rệt, mang lại những kết quả khả quan nhưng tỷ lệ sản lượng các
mặt hàng có hiệu quả chưa cao. Nhìn chung, do công nghệ còn thấp kém nên chất lượng
sản phẩm dệt của ta còn rất hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trong

doanh nghiệp may trong nước của ta.
Trên thị trường nước ngoài ngành dệt may Việt Nam đang có thế mạnh và xuất
khẩu chủ yếu các mặt hàng: áo sơ mi, quần dài, quần soóc, áo Jacket, áo khoác, quần áo
trẻ em,….
Theo số liệu thống kê, xuất khẩu áo jacket của cả nước năm 2003 đạt trên 472
triệu USD, tăng 19,8% so với năm 2002 (khoảng trên 48 triệu chiếc) và là mặt hàng đat
kim ngạch xuất khẩu lớn thứ ba sau áo thun và quần. Trong đó, thị trường xuất khẩu lớn
nhất là Mỹ đạt trên 26,89 triệu chiếc với kim ngạch gần 237 triệu USD. Tiếp theo là EU
đạt 171,6 triệu USD, với số lượng 12,31 triệu chiếc.
Còn đối với mặt hàng áo khoác, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 124,4 triệu USD,
với số lượng khoảng 14,33 triệu chiếc, tăng 69,76% về trị giá so với năm 2002. Trong
đó, xuất khẩu sang Mỹ đạt cao nhất (57 triệu USD), sau đó là Nhật Bản (18 triệu USD),
Đài Loan (3,65 triệu USD),…. Bảng 2: Các mặt hàng may mặc xuất khẩu có thế mạnh:

Th
ứ tự

Ch
ủng loại (cat
)

M
ặt hàng

1

4

áo sơ mi d
ệt kim

6

12

T
ất nữ, tất mỏng dài, bít tất

7

13

Qu
ần áo lót nam nữ bằng vải dệt kim

8

18

áo gilê, áo ng
ủ, pizama

9

21

áo


a) Thị trường Mỹ:
Mỹ là thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng, với dân số chiếm gần 5% dân số thế
giới. Bởi vì sự đa dạng về nhu cầu và khả năng thanh toán đã biến Mỹ thành thị trường
tiêu thụ khổng lồ hàng hoá nói chung và hàng dệt may nói riêng.
Từ nhiều năm nay, trên thị trường các loại quần áo do Việt Nam sản xuất, nhưng
hầu hết các mặt hàng này đều được xuất khẩu thông qua các doanh nghiệp nước ngoài.
Việc Mỹ huỷ bỏ cấm vận đối với Việt Nam đã tạo điều kiện cho hàng Việt Nam thâm
nhập vào thị trường này.
Hàng dệt may của ta xuất vào thị trường Mỹ bao gồm các chủng loại như: sơ mi
nam, quần âu, cà vặt, áo jacket, đồng thời giá trị xuất khẩu mặt hàng này tăng lên hàng
năm. Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ
(1996-2005)
Đơn vị: triệu USD

Năm

Kim ng
ạch

1996

9,1

1997

12



2750Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam

Như vậy, giai đoạn 1996 - 2001, hàng dệt may Việt Nam xuất sang thị trường Mỹ
chưa đáng kể. Nhưng đến năm 2002, với sự mở đường của hiệp định thương mại Việt
Mỹ (BTA) hàng dệt may vào Mỹ đã tăng đột biến từ 49 triệu USD năm 2001 lên 976
triệu USD năm 2002. Và năm 2003, mặc dù bắt đầu bị áp đặt hạn ngạch nhưng kim
ngạch xuất khẩu của ngành vẫn tăng đạt 2,48 tỷ USD về giá trị và tăng 131,07% về
lượng so với năm 2002 và trở thành thị trường cung cấp hàng dệt may lớn thứ bảy vào
thị trường Mỹ (tính theo kim ngạch).
Có thể thấy chỉ sau 2 năm Hiệp định thương mại Việt - Mỹ đi vào thực hiện, xuất
khẩu hàng hoá nói chung và hàng dệt may nói riêng của ta sang Mỹ tăng lên đáng kể.
Hiện Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất của ta trong năm 2003 chiếm tới

54% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước. Điều đáng chú ý là mặc dù bị
Mỹ áp dụng hạn ngạch năm 2003, có lúc có nơi một số doanh nghiệp gặp khó khăn do bị
thiếu hạn ngạch hoặc không có hạn ngạch để sản xuất nhưng cuối cùng chúng ta cũng đã
vượt qua được khó khăn này và để đạt được kết quả trên là một cố gắng rất lớn.
Năm 2004, thị phần hàng dệt may Việt Nam vẫn tăng đáng kể, Việt Nam đã trở
thành nước xuất khẩu lớn thứ năm vào Mỹ về quần áo, chiếm khoảng 4,2% tổng trị giá
nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng 11/2004. Và chỉ trong 10 tháng đầu năm, kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may của ta vào Mỹ đã đạt 2,106 tỷ USD, tăng 22,16% so với
cùng kì năm 2003. Trong đó Cat 338/339 (áo sơ mi nam nữ dệt kim chất liệu bông) đạt
gần 586 triệu USD, tiếp đến là Cat 347/348 (quần nam nữ chất liệu bông) đạt gần 406
triệu USD.
Đây là dấu hiệu đáng mừng, là cơ sở để kì vọng vào một kết quả tốt hơn trong
những năm sau. Mặc dù bắt đầu từ 1/1/2005 hạn ngạch dệt may được xoá bỏ hoàn toàn


Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam

Ta thấy, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường EU của ngành bắt đầu giảm từ năm
2001. Nguyên nhân có thể là do EU điều chỉnh hạn ngạch, kinh tế các nước khu vực bị
rơi vào khủng hoảng, đồng Euro mất giá, hàng dệt may của ta phải cạnh tranh hết sức
gay gắt với hàng của Trung Quốc, ấn Độ, Pakistan,….sau khi EU bãi bỏ hạn ngạch đối
với một số mặt hàng nhập khẩu từ các nước này.
So sánh với truớc đây, giai đoạn năm 1996 - 1997, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
hàng dệt may đạt hơn 23% sau khi Việt Nam ký kết Hiệp định hàng dệt may với EU
(năm 1992). Giai đoạn 1998 - 2000, hạn ngạch đã tăng thêm 40% so với giai đoạn trước
và thoả thuận sơ bộ cho giai đoạn 2003 - 2005 có mức tăng từ 50% - 70% tuỳ theo nhóm
hàng.
Về thị trường, trong khi xuất khẩu sang một số thị trường chủ chốt như Đức, Anh
liên tục giảm thì xuất khẩu sang một số thị trường như Pháp, Hà Lan bắt đầu có dấu hiệu
phục hồi trở lại. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Italia, Bỉ, Thụy Điển đạt mức tăng trưởng
rất cao.



73.111.604

4,15

4

Tây Ban Nha

51.486.369

6,62

5

Hà Lan

47.015.476

2,46

6

Italia

44.220.226

4.95

7

10

áo

4.687.163

26,73

11

Hy L
ạp

4.251.624

-
20,71

12

Ph
ần Lan

2.400.448

-
2,70

13


Slovenia) với quy mô dân số hơn 451 triệu người, GDP-25 (theo PPP) năm 2001 là
9.902 tỷ USD, cao hơn Mỹ 9.792 tỷ USD cũng hứa hẹn một sức mua lớn đầy tiềm năng
cho hàng hoá xuất khẩu của ta nói chung và hàng dệt may nói riêng.
Tuy nhiên, thách thức đối với xuất khẩu hàng dệt may sang EU sau năm 2005 là
rất lớn do được xoá bỏ hạn ngạch, cạnh tranh sẽ rất gay gắt. Cho nên, ngay từ bây giờ
các doanh nghiệp cần tận dụng tối đa những thuận lợi trên để khẳng định chỗ đứng vững
chắc cho sản phẩm dệt may xuất khẩu của mình tại thị trường EU.
c. Thị trường Nhật Bản:
Nhật Bản là thị trường có khả năng tiêu thụ rất lớn về hàng may mặc. Hàng năm
Nhât nhập một khối lượng lớn hàng dệt may và trong suốt những năm đầu thập kỷ 90,
Nhật Bản luôn là nước thứ 3 thế giới về nhập khẩu hàng dệt may.

Nhật Bản là thị trường phi hạn ngạch, người tiêu dùng Nhật không quan tâm đến
xuất xứ hàng hoá mà đặc biệt chú trọng chất lượng mẫu mã sản phẩm. Yêu cầu về chất
lượng và mẫu mã của thị trường Nhật Bản đối với hàng dệt may nhập khẩu là rất cao.
Chất lượng hàng dệt may Việt Nam trên thị trường Nhật Bản ở mức chấp nhận được,
song để không bị loại bỏ khỏi thị trường khó tính như vậy và đạt kim ngạch xuất khẩu
cao hơn thì ngành dệt may Việt Nam còn phải cố gắng hơn nữa về chất lượng.
Năm 2003 Việt Nam xuất khẩu sang Nhật khoảng 480 triệu USD trong tổng kim
ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt may 3,6 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
chiếm khoảng 26% thị phần hàng dệt may của Nhật Bản. So với những năm trước đó thì
con số này đã bị giảm sút: năm 2000 kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam là 620
triệu USD và thị phần đạt khoảng 29%.
Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường Nhật Bản trong 10 tháng đầu
năm 2004 đạt 432 triệu USD, tăng 7,89% so với cùng kỳ năm 2003. Các sản phẩm dệt
may xuất khẩu chủ lực của ta vẫn là đồ lót, áo kimono, áo sơmi, quần, khăn bông,….

Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Nhật Bản
(1996 - 2003)
Đơn vị: Triệu USD.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status