Lời mở đầu
Trong những năm qua, dệt may luôn đợc coi là một trong những ngành
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, giá trị xuất khẩu mà nó mang lại tăng liên tục
trong khoảng 20 - 25%/năm, chiếm 14 - 15% kim ngạch xuất khẩu, tạo công ăn
việc làm cho hơn 2 triệu lao động, kim ngạch xuất khẩu luôn đứng vị trí thứ hai
sau dầu thô và dự kiến sẽ đạt 5,183 tỷ USD vào năm 2005. Cùng với thời gian,
sản phẩm dệt may Việt Nam đã dần khẳng định đợc vị trí của mình, đã thâm
nhập đợc vào nhiều thị trờng trên thế giới kể cả những thị trờng khó tính nhất
nh EU, Mỹ, Nhật Bản, .Chính từ những kết quả kinh tế - xã hội to lớn mà
ngành dệt may xuất khẩu mang lại cho đất nớc mà việc nghiên cứu, phân tích để
nắm rõ và hiểu một cách cặn kẽ thực trạng trong hoạt động xuất khẩu cũng nh
điểm mạnh, điểm yếu của ngành trở thành một yêu cầu hết sức cần thiết trong
việc đề ra các chính sách, giải pháp đúng đắn, phù hợp nhằm đa hoạt động xuất
khẩu hàng dệt may Việt Nam lên những tầm cao mới trong tơng lai, đặc biệt kể
từ khi chế độ chế độ hạn ngạch đợc xoá bỏ dành cho các nớc thành viên của
WTO.
Xuất phát từ yêu cầu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: Xuất khẩu hàng
dệt may Việt Nam trớc động thái mới của thơng mại quốc tế cho khoá luận
tốt nghiệp. Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, kết cấu của khoá luận
gồm 2 phần:
Phần 1: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trớc khi xoá bỏ hạn
ngạch.
Phần 2: Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trớc động thái mới của thơng mại
quốc tế.
1
Phần 1 : Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may
Việt Nam trớc khi xoá bỏ hạn ngạch
1.1. Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngành dệt may Việt Nam
Ngành công nghiệp dệt may là ngành có truyền thống lâu đời đối với
cuộc sống của nhân dân ta. Nó không chỉ có vai trò quan trọng thoả mãn nhu
đồng châu Âu đợc ký kết vào ngày 15/12/1992 đã mở ra cho ngành dệt may
Việt Nam một thị trờng tiêu thụ rộng lớn.
Ngành dệt may Việt Nam cũng đã đẩy mạnh xuất khẩu theo hình thức gia
công hoặc phơng thức thuơng mại thông thờng với một số nớc có nền công
nghiệp phát triển nh Nhật Bản, Canada, các nớc công nghiệp mới nh Đài Loan,
Hồng Kông, Singapore. Và gần đây sau khi Mỹ bỏ cấm vận và bình thờng hoá
quan hệ với Việt Nam, hàng dệt may Việt Nam có thêm thị trờng Mỹ.
Trong những năm gần đây ngành dệt may Việt Nam đã phát triển quy mô
sản xuất một cách nhanh chóng. Hàng loạt công ty, doanh nghiệp ra đời thu hút
hàng vạn lao động, sản lợng dệt may sản xuất tăng nhanh cùng với việc không
ngừng nâng cao chất lợng sản phẩm. Đặc biệt, một bớc đánh dấu quan trọng
trong lịch sử ngành dệt may Việt Nam là ngày 29/4/1995, chính phủ Việt Nam
đã ký quyết định thành lập Tổng công ty dệt may Việt Nam có tên giao dịch
quốc tế là Vietnam National Textile And Corporation, viết tắt là Vinatex.
Vinatex là sự hợp nhất của Tổng công ty dệt Việt Nam và Liên hiệp các xí
nghiệp sản xuất - xuất nhập khẩu may mặc. Sự tổng hợp này nhằm tạo sức mạnh
tổng hợp, tạo thế và lực để thúc đẩy sản xuất kinh doanh hàng dệt may phát
triển. Hiện nay, Việt Nam có trên 1050 doanh nghiệp dệt may với hơn 5000 cơ
sở sản xuất đang hoạt động, trong đó có 231 doanh nghiệp nhà nớc chiếm 28%,
3
449 doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 32%, 354 doanh nghiệp có vốn đầu
t nớc ngoài chiếm 30%, ..(tính đến năm 2003). Kim ngạch xuất khẩu cả năm
của các đơn vị này đạt 3,6 tỷ USD, tăng gần 31% so với năm 2002 (2751 triệu
USD). Trong đó, thị trờng Mỹ đạt 1950 triệu USD, EU 600 triệu USD và Nhật
Bản gần 500 triệu USD. Đây đợc coi là những dấu hiệu tốt cho thấy dệt may
Việt Nam đã có khả năng phát triển mạnh mẽ.
1.1.2. Tiềm năng và lợi thế về sản xuất, xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam
1.1.2.1. Lợi thế về nguồn nhân lực
Nớc ta là một nớc có dân số đông, lực lợng lao động dồi dào. Tính đến
lao động. Ngoài ra nguồn nhân lực của nớc ta còn có lợi thế là tiền lơng tính
theo giờ thấp. Mức lơng công nhân ngành may hiện nay là 0,24 USD/giờ, thấp
hơn hẳn so với một số nớc trong khu vực nh: Inđônêsia (0,32 USD/giờ),
Singapore (1,13 USD/giờ, Thái Lan (1,18 USD/giờ). Cũng giống nh sự dồi dào
về lao động, mức lơng thấp chỉ là một lợi thế trớc mắt và không có tính bền
vững vì yếu tố chất lợng mới quyết định năng suất lao động. Nếu mức lơng thấp
nhng tay nghề lao động không đồng đều nhau hay quá kém thì cũng cho năng
suất lao động thấp, điều này cũng có nghĩa là chi phí sản xuất cao, dẫn đến giá
thành sản phẩm cao, khả năng cạnh tranh giảm.
Hiện nay, giá nhân công thấp đang là một lợi thế của toàn bộ nguồn lao
động Việt Nam nói chung và ngành dệt may nói riêng. Song trong thời gian tới,
lợi thế này sẽ mất dần đi nếu nh chúng ta không thực hiện các biện pháp nhằm
nâng cao năng suất lao động và trình độ tay nghề của công nhân để củng cố u
thế cạnh tranh. Chất lợng lao động, bao gồm cả trình độ tay nghề và sức khoẻ
của ngời lao động sẽ giúp tăng năng suất lao động, đồng thời nâng cao chất lợng
sản phẩm, nhờ đó hàng may Việt Nam mới giữ đợc chữ tín với khách hàng.
1.1.2.2. Lợi thế về điều kiện vị trí địa lý
5
- Về điều kiện tự nhiên:
Nớc ta là một nớc nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nên có
thể tự túc nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp, trong đó có công nghiệp
dệt may. Ngành dệt may cần có nguyên liệu là bông, sợi để dệt vải. Việt Nam
lại có khí hậu nhiệt đới ẩm nên rất thuận lợi cho việc trồng dâu nuôi tằm, cung
cấp nguyên liệu để sản xuất nên những sản phẩm bằng lụa là sản phẩm đợc
khách hàng nớc ngoài rất a chuộng. Khí hậu và đất đai nớc ta cũng thích hợp
cho việc trồng bông, song nhiều diện tích trồng bông của nớc ta còn khiêm tốn
với tiềm năng chỉ đáp ứng đợc 10-15% nhu cầu. Hàng năm ngành lại phải nhập
khẩu trên 90% nguyên liệu sợi.
Nh vậy, vấn đề cần thiết hiện nay là phải xem xét lại nguồn cung cấp
nguyên liệu cho ngành làm sao tận dụng đợc mọi tiềm năng về mặt tự nhiên để
Giải quyết vấn đề này không phải là một việc đơn giản, không thể hoàn
tất trong một sớm một chiều vì nó còn phụ thuộc vào toàn bộ nền kinh tế nói
chung. Nhng nếu không đợc giải quyết sớm thì ngành dệt may lại mất đi một lợi
thế quan trọng. Trong thời điểm hiện nay, nớc ta đang từng bớc hội nhập với nền
kinh tế thế giới và phải đối mặt với một môi trờng cạnh tranh gay gắt. Nếu
chúng ta để mất lợi thế trong cạnh tranh thì có thể bị mất thị trờng. Do đó, đây
là một vấn đề quan trọng, đòi hỏi cần đợc quan tâm giải quyết kịp thời.
1.1.2.3. Ngành dệt may đã có truyền thống lâu đời tại Việt Nam
Lịch sử đã chứng minh Việt Nam là một trong những cái nôi của loài ngời
và nghề dệt vải đã xuất hiện ở Việt Nam từ hàng nghìn năm nay.Tuy nhiên,
nghề ơm tơ, dệt vải ở Việt Nam từ xa xa chỉ là việc làm tự phát để đáp ứng cho
nhu cầu thiết yếu nhất của cá nhân và gia đình. Các t liệu về lịch sử cho thấy
ngành dệt đã phôi thai hình thành từ thế kỷ thứ bảy ở vùng châu thổ sông Hồng.
Tại đây đã hình thành các vùng nuôi tằm nh Hng Yên, Thái Bình. Cây bông
cũng đợc trồng tại các vùng cao miền núi phía bắc Việt Nam và một số tỉnh nh
7
Ninh Thuận, Đồng Nai. Nguyên Phi ỷ Lan thời Lý Chính là ngời khởi xớng đa
nghề ơm tơ dệt vải trở thành nghề truyền thống của Việt Nam, tạo bớc mở cho
ngành dệt may phát triển mạnh mẽ sau này.
Chúng ta đã có những làng dệt nổi tiếng: Tích Sài, Bái Ân, Yên Thái,
Nghĩa Đô. Những làng dệt ven Hồ Tây này đã nổi tiếng ngay từ thời Lý, Trần.
Đến năm 1890, việc thực dân Pháp xây dựng nhà máy dệt Nam Định đã đánh
dấu sự phát triển của công nghiệp dệt tại Việt Nam.
Từ năm 1954, công nghiệp dệt may đã phát triển cao hơn, đặc biệt phát
triển mạnh mẽ ở miền nam với công nghệ máy móc khá hiện đại của châu Âu và
tại miền Bắc với công nghệ của Trung Quốc, Liên Xô, Đông Âu. Hoà bình lập
lại năm 1975, theo đờng lối đổi mới của Đảng, công nghiệp dệt may thời gian
này ngày càng phát triển và khẳng định vị trí quan trọng trong cơ cấu phát triển
các ngành công nghiệp của Việt Nam. Hiện nay các sản phẩm dệt may Việt
Nam đã vơn ra thị trờng nớc ngoài, trong đó có thị trờng của các nớc đã phát
Loan, Hàn Quốc. Cho đến những năm 1980, khi các nớc Đông Nam á dần dần
9
chuyển sang sản xuất các mặt hàng có công nghệ kỹ thuật cao hơn nh ô tô, điện
lạnh, điện tử, thì lợi thế so sánh của ngành dệt may mất đi, song song với quá
trình đẩy mạnh đầu t ra nớc ngoài, các nớc NICS và các nớc phát triển đã buộc
phải dịch chuyển ngành này sang các nớc đang phát triển nh ASEAN, Trung
Quốc và các nớc Nam á.
Năm 1987, trong các nớc cung cấp hàng may lớn của thế giới đã có 3 nớc
của khu vực này, đó là Hồng Kông, Hàn Quốc và Đài Loan. Đến năm 2001, 8
trong 15 nớc và vùng lãnh thổ đứng đầu thế giới về cung cấp hàng may mặc
thuộc châu á là: Trung Quốc (36,5 tỷ USD), Hồng Kông (23,45 tỷ USD - kể cả
tái xuất khẩu), ấn Độ (6,03 tỷ USD), Bangladesh (5,11 tỷ USD), Inđônêsia (4,53
t USD), Trung Quc (4,31 t USD), Thái Lan (3,58 tỷ UĐS), và Đài Loan
(2,48tỷ USD).
Châu Âu, quê hơng của ngành công nghiệp may mặc, giờ đây đã ngừng
việc sản xuất trên quy mô lớn hàng phổ dụng để đi vào thiết kế hàng thời trang
cao cấp. Ngày nay trong danh mục các nớc hàng đầu về sản xuất hàng may mặc
xuất khẩu của thế giới không thấy bất kì tên một nớc công nghiệp phát triển nào
nữa, mặc dù sản phẩm mang tên các hãng lâu đời của họ lại chiếm tỷ trọng khá
lớn trên thị trờng thế giới. Việc đặt hàng may tại các nớc đang phát triển đã trở
thành phơng thức phổ biến. Nhờ đó, châu á đợc coi nh một trung tâm sản xuất
hàng may mặc xuất khẩu của thế giới.
Là nớc đi sau, Việt Nam có điều kiện thuận lợi trong việc kế thừa các
thành tựu của các nớc công nghiệp phát triển. Bởi vậy xu hớng dịch chuyển
ngành dệt may từ các nớc phát triển sang các nớc đang phát triển, nơi có u thế
cạnh tranh về nguồn lao động và giá nhân công đã và đang tạo cho Việt Nam
nhiều cơ hội phát triển công nghiệp dệt may.
Nh vậy quá trình dịch chuyển của ngành công nghiệp dệt may là tất yếu.
Do vậy, tận dụng đợc quá trình này là một lợi thế và điều kiện cơ bản phát triển
10
đời sống kinh tế - xã hội về nhiều mặt. Những năm gần đây kim ngạch xuất
khẩu của ngành liên tục tăng và đứng trong nhóm những sản phẩm có đóng góp
ngoại tệ lớn nhất. Năm 2000, toàn ngành mang về cho nhà nớc 1892 triệu USD,
năm 2001: 2000 triệu USD, năm 2002: 2751 triệu USD, năm 2003: 3600 triệu
USD, năm 2004 ớc là 4319 triệu USD.
Đối với một nớc có dân số khoảng 80 triệu ngời, có nguồn lao động dồi
dào mà đặc trng của ngành dệt may là cần nhiều lao động nhng lại không phải
đào tạo quá công phu cầu kỳ và đòi hỏi yếu tố trí tuệ cao; mặt khác với nhu cầu
đòi hỏi về chất lợng mẫu mã sản phẩm cao nh hiện nay thì trình độ chuyên môn
hoá sản phẩm ngày càng đợc nâng cao đáp ứng nhu cầu xuất khẩu cần thiết có
những khâu, công đoạn sản xuất đòi hỏi trình độ chuyên môn và hàm lợng chất
xám cao, có những khâu lại chỉ đòi hỏi trình độ sản xuất nhất định, có những
công đoạn trong sản xuất dệt may chỉ toàn đòi hỏi làm bằng chân tay là chủ yếu
nhờ những đặc trng riêng của ngành may mặc. Điêù này có thể giúp giải quyết
đáng kể nhu cầu công ăn việc làm cho xã hội, đặc biệt là đối với lao động nữ.
Thông qua việc giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động, ngành dệt may
còn góp phần nâng cao chất lợng cuộc sống, ổn định đời sống nhân dân và ngăn
chặn hậu quả xã hội do nạn thất nghiệp gây ra. Theo dõi tăng trởng của sản xuất,
số lao động đợc sử dụng trong ngành cũng không ngừng tăng lên, ớc tính toàn
ngành hiện nay sử dụng khoảng trên 2 triệu lao động, chiếm trên 25% lao động
toàn quốc.
Hơn thế nữa là một ngành sản xuất mũi nhọn có mặt trên 100 nớc và vùng
lãnh thổ trên thế giới, chiếm trên 15% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc;
ngành dệt may không chỉ giữ vị trí nhất định tạo ra tích luỹ vốn trong quá trình
thực hiện đờng lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Đặc biệt là đối với
chiến lợc mở rộng thơng mại quốc tế và kinh tế đối ngoại - một chiến lợc đúng
đắn cho xu hớng Toàn cầu hoá - Quốc tế hoá đời sống kinh tế.
12
1.2. Tình hình xuất khẩu hàng dệt may
1.2.1. Kim ngạch xuất khẩu
với tốc độ tăng trởng bình quân 20,86%/năm, vơn lên đứng thứ hai về kim ngạch
sau ngành dầu khí.
Năm Kim ngạch
1994 550
1995 750
1996 1150
1997 1320
1998 1450
1999 1740
2000 1892
2001 2000
2002 2752
2003 3600
Ước 2004 4319
Kế hoạch 2005 5183
14
Một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của ngành giữ đợc mức tăng trởng
khá. Đó là các loại vải lụa, bít tất, sợi và quần áo may sẵn. Riêng quần áo măy
sẵn có tốc độ tăng khá cao: năm 1995 là 845 triệu USD, thì năm 1999 là 1.484
triệu USD và năm 2003 đã là 3.085 triệu USD và chiếm gần 85% tổng kim
ngạch xuất khẩu của toàn ngành dệt may Việt Nam.
Hàng dệt:
Mặt hàng dệt kim rất đa dạng và đợc sử dụng rộng rãi trong nhiều trờng
hợp, song chúng ta mới chỉ quan tâm sản xuất các mặt hàng trên máy đan tròn,
phần lớn là áo Polo-Shirt, T-Shirt từ sợi cotton và PE/Co. Tuy chủng loại mặt
hàng còn hạn chế, song thời gian qua các mặt hàng dệt kim xuất khẩu đã đợc cải
tiến nhiều về mặt chất lợng. Mặt hàng xuất khẩu từ sợi PE/Co chiếm 75-80%
hàng dệt kim có giá trị xuất khẩu thuộc nhóm giá thấp và trung bình (2,5-3,5
USD/sản phẩm), trong khi nhu cầu hàng chất lợng cao còn nhiều.
Nhiều nguyên phụ liệu cho ngành dệt nh bông, sợi Visco, PE, và các
hoá chất, thuốc nhuộm đều phải nhập khẩu. Hàng năm, lợng bông trong nớc chỉ
đáp ứng đợc 10 - 20% nhu cầu của ngành dệt. Riêng vải, hàng năm phải nhập
khẩu từ 300 đến 400 triệu mét. Thêm vào đó còn thiếu những mặt hàng dệt kim
thể thao hay vải Jean, thun nguyên liệu sợi đàn tính cao. Các mặt hàng Jacket
mật độ sử dụng sợi kéo từ Microfiber còn quá ít. Các nguyên liệu sợi tổng hợp
biến tính, acrylic pha len để sản xuất mặt hàng complet chúng ta cha có.
Hàng may mặc:
Do ngành dệt còn cha phát triển, nên ngành may Việt Nam chủ yếu là gia
công cho nớc ngoài (khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu). Tuy còn nhiều hạn chế
về mẫu mã kiểu dáng, song phải thừa nhận rằng nhiều công ty may trong nớc
hiện nay đã có những cố gắng đáng kể để sản phẩm của họ đợc thị rrờng may
mặc trong và ngoài nớc biết đến.
16
Tuy mặt hàng quần áo dệt kim có mức tăng chậm và đôi khi còn giảm do
sự trì trệ của ngành dệt, song quần áo may sẵn lại có mức tăng nhanh trong
những năm gần đây. Ví nh sản xuất năm 1996 là 207 triệu chiếc, năm 2000 là
337 triệu chiếc,.... thì năm 2003 đã là 618 triệu chiếc. Điêù này cho thấy sự
năng động và tiến bộ của các doanh nghiệp may trong nớc của ta.
Trên thị trờng nớc ngoài ngành dệt may Việt Nam đang có thế mạnh và
xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng: áo sơ mi, quần dài, quần soóc, áo Jacket, áo
khoác, quần áo trẻ em, .
Theo số liệu thống kê, xuất khẩu áo jacket của cả nớc năm 2003 đạt trên
472 triệu USD, tăng 19,8% so với năm 2002 (khoảng trên 48 triệu chiếc) và là
mặt hàng đat kim ngạch xuất khẩu lớn thứ ba sau áo thun và quần. Trong đó, thị
trờng xuất khẩu lớn nhất là Mỹ đạt trên 26,89 triệu chiếc với kim ngạch gần 237
triệu USD. Tiếp theo là EU đạt 171,6 triệu USD, với số lợng 12,31 triệu chiếc.
Còn đối với mặt hàng áo khoác, kim ngạch xuất khẩu ớc đạt 124,4 triệu
USD, với số lợng khoảng 14,33 triệu chiếc, tăng 69,76% về trị giá so với năm
Chính vì vậy, giá cả sản phẩm may mặc của Việt Nam là thấp, lợi nhuận đạt đợc
cũng thấp hơn so với quốc gia khác. Do thực hiện phơng thức xuất khẩu này,
ngành dệt may Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào phía nớc ngoài, lại không sử
dụng nguyên liệu trong nớc, nên về giá cả ta cũng phải chịu nhiều thiệt thòi.
Dù gặp nhiều khó khăn song ngành may Việt Nam vẫn chứng tỏ đợc sự
năng động và những tiến bộ của mình. Để hớng vào các thị trờng có yêu cầu cao
18
thì ngành dệt may của chúng ta còn phải tiếp tục đầu t nhiều hơn nữa để cải tiến
chất lợng và mẫu mã sản phẩm.
1.2.3. Thị trờng xuất khẩu chủ yếu
a) Thị trờng Mỹ:
Mỹ là thị trờng rộng lớn và đầy tiềm năng, với dân số chiếm gần 5% dân
số thế giới. Bởi vì sự đa dạng về nhu cầu và khả năng thanh toán đã biến Mỹ
thành thị trờng tiêu thụ khổng lồ hàng hoá nói chung và hàng dệt may nói riêng.
Từ nhiều năm nay, trên thị trờng các loại quần áo do Việt Nam sản xuất,
nhng hầu hết các mặt hàng này đều đợc xuất khẩu thông qua các doanh nghiệp
nớc ngoài. Việc Mỹ huỷ bỏ cấm vận đối với Việt Nam đã tạo điều kiện cho hàng
Việt Nam thâm nhập vào thị trờng này.
Hàng dệt may của ta xuất vào thị trờng Mỹ bao gồm các chủng loại nh: sơ
mi nam, quần âu, cà vặt, áo jacket, đồng thời giá trị xuất khẩu mặt hàng này
tăng lên hàng năm.
19
Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị trờng Mỹ
(1996-2005)
Đơn vị: triệu USD
Năm Kim ngạch
1996 9,1
1997 12
1998 26
1999 34
(quần nam nữ chất liệu bông) đạt gần 406 triệu USD.
Đây là dấu hiệu đáng mừng, là cơ sở để kì vọng vào một kết quả tốt hơn
trong những năm sau. Mặc dù bắt đầu từ 1/1/2005 hạn ngạch dệt may đợc xoá
bỏ hoàn toàn cho các nớc thành viên WTO, trong khi xuất khẩu hàng dệt may
của nớc ta sang thị trờng Mỹ vẫn chịu hạn ngạch. Đây là một thách thức lớn đối
với xuất khẩu dệt may Việt Nam. Vì khi không còn hạn ngạch, mặt bằng giá
nhập khẩu của hàng dệt may nói chung vào Mỹ có thể giảm tới 30%. Nh vậy
Việt Nam phải cạnh tranh khốc liệt với các nớc bạn, đặc biệt là Trung Quốc.
Tuy nhiên, hiện nay với chất lợng may tốt, giao hàng đúng thời hạn, xuất
khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ đang thu hút đợc sự chú ý của các
nhà nhập khẩu Mỹ. Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS), đơn giá xuất
khẩu hàng dệt may sang Mỹ ngày càng cao, các khách hàng lớn đã chọn Việt
Nam là khách hàng chiến lợc. Ta hoàn toàn có thể dự tính kim ngạch xuất khẩu
nhóm hàng này sang Mỹ trong năm 2005 sẽ là 2,7 - 2,75 tỷ USD tơng đơng năm
2004.
b) Thị trờng EU:
Bên cạnh thị trờng Mỹ, trong năm 2004, xuất khẩu hàng dệt may của ta
cũng đã duy trì tốt đợc thị trờng truyền thống quan trọng là EU. Đây cũng là
một trong những thị trờng xuất khẩu hàng dệt may lớn và quan trọng của ta. Một
hai năm trở lại đây, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan xuất khẩu hàng dệt
21
may nớc ta sang thị trờng này có chiều hớng giảm sút. Năm 2002 kim ngạch
xuất khẩu đạt gần 552 tiệu USD, giảm 9,16% so với năm 2001. Còn năm 2003,
kim ngạch xuất khẩu đạt 542 triệu USD, giảm 1,76% so với năm 2002.
Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trờng EU
(1996-2003)
Đơn vị: Triệu USD
Năm
1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Kim
9 Đan Mạch 9.468.370 -14,72
10
áo
4.687.163 26,73
11 Hy Lạp 4.251.624 -20,71
12 Phần Lan 2.400.448 -2,70
13 Ai Len 1.931.149 -49,73
14 Bồ Đào Nha 923.232 -1,09
Nguồn: Bộ Thơng mại
Hiện nay xuất khẩu hàng dệt may của ta sang EU đang tơng đối thuận lợi
nhờ EU mới tăng hạn ngạch, kinh tế EU bắt đầu phục hồi và tăng trởng khá
vững chắc trở lại, đồng Euro tăng giá mạnh so với USD. Trong năm 2003, đồng
Euro đã tăng giá tới 27%, còn trong năm 2004 đồng Euro vẫn duy trì ở mức cao
và tăng lên mức 1,3 - 1,5 USD/Euro. Theo Ngân hàng thế giới (WB), tăng trởng
GDP của khu vực các nớc sử dụng đồng Euro trong năm 2003 là 0,7%, còn
trong năm 2004 đạt 1,7%, mức cao nhất kể từ năm 2001 đến nay.
Đặc biệt kể từ ngày 1/5/2004, EU kết nạp thêm 10 nớc thành viên mới
(Ba Lan, Hungary, Cộng hoà séc, Cộng hoà Slovakia, Latvia, Litva, Estonia, Sip,
Malta, Slovenia) với quy mô dân số hơn 451 triệu ngời, GDP-25 (theo PPP) năm
2001 là 9.902 tỷ USD, cao hơn Mỹ 9.792 tỷ USD cũng hứa hẹn một sức mua lớn
đầy tiềm năng cho hàng hoá xuất khẩu của ta nói chung và hàng dệt may nói
riêng.
Tuy nhiên, thách thức đối với xuất khẩu hàng dệt may sang EU sau năm
2005 là rất lớn do đợc xoá bỏ hạn ngạch, cạnh tranh sẽ rất gay gắt. Cho nên,
ngay từ bây giờ các doanh nghiệp cần tận dụng tối đa những thuận lợi trên để
khẳng định chỗ đứng vững chắc cho sản phẩm dệt may xuất khẩu của mình tại
thị trờng EU.
c. Thị trờng Nhật Bản:
24
Nhật Bản là thị trờng có khả năng tiêu thụ rất lớn về hàng may mặc. Hàng