Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trước động thái mới của thương mại quốc tế - Pdf 11

Khoá luận tốt nghiệp
Lời mở đầu
Trong những năm qua, dệt may luôn đợc coi là một trong những ngành
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, giá trị xuất khẩu mà nó mang lại tăng liên tục
trong khoảng 20 - 25%/năm, chiếm 14 - 15% kim ngạch xuất khẩu, tạo công ăn
việc làm cho hơn 2 triệu lao động, kim ngạch xuất khẩu luôn đứng vị trí thứ hai
sau dầu thô và dự kiến sẽ đạt 5,183 tỷ USD vào năm 2005. Cùng với thời gian,
sản phẩm dệt may Việt Nam đã dần khẳng định đợc vị trí của mình, đã thâm
nhập đợc vào nhiều thị trờng trên thế giới kể cả những thị trờng khó tính nhất
nh EU, Mỹ, Nhật Bản, .Chính từ những kết quả kinh tế - xã hội to lớn mà
ngành dệt may xuất khẩu mang lại cho đất nớc mà việc nghiên cứu, phân tích để
nắm rõ và hiểu một cách cặn kẽ thực trạng trong hoạt động xuất khẩu cũng nh
điểm mạnh, điểm yếu của ngành trở thành một yêu cầu hết sức cần thiết trong
việc đề ra các chính sách, giải pháp đúng đắn, phù hợp nhằm đa hoạt động xuất
khẩu hàng dệt may Việt Nam lên những tầm cao mới trong tơng lai, đặc biệt kể
từ khi chế độ chế độ hạn ngạch đợc xoá bỏ dành cho các nớc thành viên của
WTO.
Xuất phát từ yêu cầu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: Xuất khẩu hàng
dệt may Việt Nam trớc động thái mới của thơng mại quốc tế cho khoá luận
tốt nghiệp. Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, kết cấu của khoá luận
gồm 2 phần:
Phần 1: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trớc khi xoá bỏ hạn
ngạch.
Phần 2: Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trớc động thái mới của thơng mại
quốc tế.
SVTH: Đoàn Thị Thu Hơng Lớp K46 Kinh tế đối ngoại
1
Khoá luận tốt nghiệp
Phần 1 : Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may
Việt Nam trớc khi xoá bỏ hạn ngạch
1.1. Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam

Tuy nhiên, sang năm 1992 đợc sự phối hợp và hỗ trợ tích cực của các cơ
quan quản lý nhà nớc ở cấp vĩ mô cùng những kết quả thu đợc của công cuộc
đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế đang đi vào chiều sâu với những thắng lợi trong
quan hệ đối ngoại, chính sách mở cửa của ngành dệt may xuất khẩu đã từng bớc
phục hồi và phát triển. Hiệp định buôn bán hàng dệt may giữa Việt Nam và cộng
đồng châu Âu đợc ký kết vào ngày 15/12/1992 đã mở ra cho ngành dệt may
Việt Nam một thị trờng tiêu thụ rộng lớn.
Ngành dệt may Việt Nam cũng đã đẩy mạnh xuất khẩu theo hình thức gia
công hoặc phơng thức thuơng mại thông thờng với một số nớc có nền công
nghiệp phát triển nh Nhật Bản, Canada, các nớc công nghiệp mới nh Đài Loan,
Hồng Kông, Singapore. Và gần đây sau khi Mỹ bỏ cấm vận và bình thờng hoá
quan hệ với Việt Nam, hàng dệt may Việt Nam có thêm thị trờng Mỹ.
Trong những năm gần đây ngành dệt may Việt Nam đã phát triển quy mô
sản xuất một cách nhanh chóng. Hàng loạt công ty, doanh nghiệp ra đời thu hút
hàng vạn lao động, sản lợng dệt may sản xuất tăng nhanh cùng với việc không
ngừng nâng cao chất lợng sản phẩm. Đặc biệt, một bớc đánh dấu quan trọng
trong lịch sử ngành dệt may Việt Nam là ngày 29/4/1995, chính phủ Việt Nam
đã ký quyết định thành lập Tổng công ty dệt may Việt Nam có tên giao dịch
quốc tế là Vietnam National Textile And Corporation, viết tắt là Vinatex.
Vinatex là sự hợp nhất của Tổng công ty dệt Việt Nam và Liên hiệp các xí
nghiệp sản xuất - xuất nhập khẩu may mặc. Sự tổng hợp này nhằm tạo sức mạnh
tổng hợp, tạo thế và lực để thúc đẩy sản xuất kinh doanh hàng dệt may phát
triển. Hiện nay, Việt Nam có trên 1050 doanh nghiệp dệt may với hơn 5000 cơ
sở sản xuất đang hoạt động, trong đó có 231 doanh nghiệp nhà nớc chiếm 28%,
SVTH: Đoàn Thị Thu Hơng Lớp K46 Kinh tế đối ngoại
3
Khoá luận tốt nghiệp
449 doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 32%, 354 doanh nghiệp có vốn đầu
t nớc ngoài chiếm 30%, ..(tính đến năm 2003). Kim ngạch xuất khẩu cả năm
của các đơn vị này đạt 3,6 tỷ USD, tăng gần 31% so với năm 2002 (2751 triệu

dệt may, nhu cầu về lao động kỹ thuật cao không lớn bởi đặc thù của ngành là
sử dụng nhiều lao động giản đơn, đặc biệt là ngành may. Trình độ tay nghề của
công nhân cũng là cần thiết để nâng cao năng suất lao động, nhng đó không
phải là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của ngành. Do vậy chúng ta có thể
khẳng định: mặc dù chất lợng lao động Việt Nam cha cao, sự dồi dào về số lợng
lao động vẫn là một lợi thế trớc mắt cơ bản và quan trọng để phát triển công
nghiệp dệt may trong thời gian tới. Vấn đề là cần có chính sách sử dụng nguồn
nhân lực này một cách hợp lý và có hiệu quả, đồng thời cũng cần tổ chức các
hình thức giáo dục, đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của ngời
lao động. Ngoài ra nguồn nhân lực của nớc ta còn có lợi thế là tiền lơng tính
theo giờ thấp. Mức lơng công nhân ngành may hiện nay là 0,24 USD/giờ, thấp
hơn hẳn so với một số nớc trong khu vực nh: Inđônêsia (0,32 USD/giờ),
Singapore (1,13 USD/giờ, Thái Lan (1,18 USD/giờ). Cũng giống nh sự dồi dào
về lao động, mức lơng thấp chỉ là một lợi thế trớc mắt và không có tính bền
vững vì yếu tố chất lợng mới quyết định năng suất lao động. Nếu mức lơng thấp
nhng tay nghề lao động không đồng đều nhau hay quá kém thì cũng cho năng
suất lao động thấp, điều này cũng có nghĩa là chi phí sản xuất cao, dẫn đến giá
thành sản phẩm cao, khả năng cạnh tranh giảm.
Hiện nay, giá nhân công thấp đang là một lợi thế của toàn bộ nguồn lao
động Việt Nam nói chung và ngành dệt may nói riêng. Song trong thời gian tới,
lợi thế này sẽ mất dần đi nếu nh chúng ta không thực hiện các biện pháp nhằm
nâng cao năng suất lao động và trình độ tay nghề của công nhân để củng cố u
thế cạnh tranh. Chất lợng lao động, bao gồm cả trình độ tay nghề và sức khoẻ
của ngời lao động sẽ giúp tăng năng suất lao động, đồng thời nâng cao chất lợng
sản phẩm, nhờ đó hàng may Việt Nam mới giữ đợc chữ tín với khách hàng.
1.1.2.2. Lợi thế về điều kiện vị trí địa lý
SVTH: Đoàn Thị Thu Hơng Lớp K46 Kinh tế đối ngoại
5
Khoá luận tốt nghiệp
- Về điều kiện tự nhiên:

Những đặc điểm về mặt tự nhiên đó cho phép Việt Nam có nhiều tiềm
năng và lợi thế để phát triển công nghiệp dệt may. Nhng trên thực tế chúng ta
vẫn cha tận dụng đợc triệt để những lợi thế tự nhiên này. Vì sao lại nh vậy? Có
rất nhiều nguyên nhân, nhng nguyên nhân cơ bản nhất là do sự phát triển không
đồng bộ của nền kinh tế. Ngay trong nội bộ ngành dệt may đã có sự mất cân đối
giữa ngành dệt và ngành may, ngành dệt đòi hỏi phải đầu t vốn lớn, công nghệ
tiên tiến, trình độ khoa học kỹ thuật cao hơn nên sẽ là quá khả năng nếu đầu t để
ngành dệt phát triển ngang bằng ngành may. Sự yếu kém của ngành dệt dẫn đến
hậu quả tất yếu là thiếu nguyên liệu cho ngành may, không khai thác đợc lợi thế
tự nhiên trong việc tự túc nguyên liệu. Ngoài ra cơ sở hạ tầng nớc ta còn rất yếu
kém, mà những vùng trồng cây công nghiệp, cây nguyên liệu lại thờng ở xa, gây
khó khăn cho quá trình vận chuyển. Cơ sở hạ tầng kém cũng cản trở sự phát
triển của du lịch, giao lu kinh tế bằng đờng bộ.
Giải quyết vấn đề này không phải là một việc đơn giản, không thể hoàn
tất trong một sớm một chiều vì nó còn phụ thuộc vào toàn bộ nền kinh tế nói
chung. Nhng nếu không đợc giải quyết sớm thì ngành dệt may lại mất đi một lợi
thế quan trọng. Trong thời điểm hiện nay, nớc ta đang từng bớc hội nhập với nền
kinh tế thế giới và phải đối mặt với một môi trờng cạnh tranh gay gắt. Nếu
chúng ta để mất lợi thế trong cạnh tranh thì có thể bị mất thị trờng. Do đó, đây
là một vấn đề quan trọng, đòi hỏi cần đợc quan tâm giải quyết kịp thời.
1.1.2.3. Ngành dệt may đã có truyền thống lâu đời tại Việt Nam
Lịch sử đã chứng minh Việt Nam là một trong những cái nôi của loài ngời
và nghề dệt vải đã xuất hiện ở Việt Nam từ hàng nghìn năm nay.Tuy nhiên,
nghề ơm tơ, dệt vải ở Việt Nam từ xa xa chỉ là việc làm tự phát để đáp ứng cho
nhu cầu thiết yếu nhất của cá nhân và gia đình. Các t liệu về lịch sử cho thấy
ngành dệt đã phôi thai hình thành từ thế kỷ thứ bảy ở vùng châu thổ sông Hồng.
Tại đây đã hình thành các vùng nuôi tằm nh Hng Yên, Thái Bình. Cây bông
cũng đợc trồng tại các vùng cao miền núi phía bắc Việt Nam và một số tỉnh nh
SVTH: Đoàn Thị Thu Hơng Lớp K46 Kinh tế đối ngoại
7

kinh tế. Một loạt ngành công nghiệp mới ra đời đang phát triển mạnh tại các nớc
công nghiệp hàng đầu. Và tất yếu đã diễn ra sự dịch chuyển có tính toàn cầu
những ngành sử dụng nhiều nhân công từ các nớc phát triển sang các nớc công
nghiệp mới và ngày nay tiếp tục chuyển sang các nớc đang phát triển. Và may
mặc là một trong những ngành đó.
Quá trình phát triển của ngành dệt may thế giới đồng thời cũng là quá
trình chuyển dịch của công nghiệp dệt may từ khu vực phát triển sang các khu
vực kém phát triển hơn do lợi thế so sánh. Điều này không có nghĩa là sản xuất
dệt may không còn tồn tại ở các nớc phát triển mà nó đã tiến đến một giai đoạn
cao hơn là sản xuất ra các sản phẩm có chất lợng và giá trị cao, chứa nhiều hàm
kợng trí tuệ, công nghiệp cao.
Công nghiệp dệt may bắt đầu tại Anh vào thế kỷ thứ 18 và tại đó đã diễn
ra sự chuyển dịch lần thứ nhất từ nớc Anh sang các nớc châu Âu. Sự chuyển
dịch lần thứ hai là từ châu Âu sang Nhật Bản vào những năm 1950 trong thời kì
hậu chiến thế giới lần thứ hai. Từ những năm 1960, khi chi phí sản xuất ở Nhật
tăng cao và thiếu thốn nguồn lao động, công nghiệp dệt may lại đợc dịch chuyển
lần thứ ba sang các nớc công nghiệp mới (NICS) ở châu á nh Hồng Kông, Đài
Loan, Hàn Quốc. Cho đến những năm 1980, khi các nớc Đông Nam á dần dần
SVTH: Đoàn Thị Thu Hơng Lớp K46 Kinh tế đối ngoại
9
Khoá luận tốt nghiệp
chuyển sang sản xuất các mặt hàng có công nghệ kỹ thuật cao hơn nh ô tô, điện
lạnh, điện tử, thì lợi thế so sánh của ngành dệt may mất đi, song song với quá
trình đẩy mạnh đầu t ra nớc ngoài, các nớc NICS và các nớc phát triển đã buộc
phải dịch chuyển ngành này sang các nớc đang phát triển nh ASEAN, Trung
Quốc và các nớc Nam á.
Năm 1987, trong các nớc cung cấp hàng may lớn của thế giới đã có 3 nớc
của khu vực này, đó là Hồng Kông, Hàn Quốc và Đài Loan. Đến năm 2001, 8
trong 15 nớc và vùng lãnh thổ đứng đầu thế giới về cung cấp hàng may mặc
thuộc châu á là: Trung Quốc (36,5 tỷ USD), Hồng Kông (23,45 tỷ USD - kể cả

ngành dệt may lại dễ đào tạo nên việc tổ chức sản xuất các doanh nghiệp dệt
may theo mô hình các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất phù hợp với điều kiện về địa
lý, kinh tế và xã hội của Việt Nam. Đây cũng chính là lợi thế cho ngành dệt may
Việt Nam phát triển trong thời gian tới.
1.1.3. Vị trí và vai trò của ngành dệt may trong nền kinh tế Việt Nam
Cùng với sự phát triển của đất nớc, ngành công nghiệp dệt may thời gian
qua đã có sự phát triển vợt bậc, giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế ngành
nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Dệt may nằm trong số các mặt hàng đạt tốc độ tăng trởng xuất khẩu cao
là dầu thô, dệt may, hải sản, dầy dép, cao su, cà phê, hạt điều và chè; là mặt
hàng đạt kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai chỉ đứng sau dầu thô.
Giá trị sản lợng hàng hoá chiếm tỷ lệ trên 8% giá trị sản lợng trên toàn
ngành công nghiệp và chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nớc. Vì vậy dệt
may đã, đang và sẽ trở thành một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn có
đóng góp rất lớn vào sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc.
Ngay từ khi ra đời, ngành dệt may và sản phẩm của ngành vẫn giữ một vị
trí hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, trong các nhu cầu cơ bản nhất của
con ngời về ăn - mặc - ở - đi lại, nh thế cũng đã thấy vai trò không thể thiếu đợc
của ngành. Hơn thế nữa, ngành dệt may còn thông qua giá trị kinh tế lớn bổ
SVTH: Đoàn Thị Thu Hơng Lớp K46 Kinh tế đối ngoại
11
Khoá luận tốt nghiệp
sung vào tổng thu nhập quốc dân và ngân sách quốc gia hàng năm để nâng cao
đời sống kinh tế - xã hội về nhiều mặt. Những năm gần đây kim ngạch xuất
khẩu của ngành liên tục tăng và đứng trong nhóm những sản phẩm có đóng góp
ngoại tệ lớn nhất. Năm 2000, toàn ngành mang về cho nhà nớc 1892 triệu USD,
năm 2001: 2000 triệu USD, năm 2002: 2751 triệu USD, năm 2003: 3600 triệu
USD, năm 2004 ớc là 4319 triệu USD.
Đối với một nớc có dân số khoảng 80 triệu ngời, có nguồn lao động dồi
dào mà đặc trng của ngành dệt may là cần nhiều lao động nhng lại không phải

vực xuất khẩu với tốc độ tăng trởng bình quân 24,8%/năm, vơn lên đứng thứ hai
trong cả nớc về kim ngạch xuất khẩu sau dầu khí. Năm 2003, kim ngạch xuất
khẩu đạt 3600 triệu USD gấp 6,5 lần so với năm 1994, năm 2004 kim ngạch
xuất khẩu ớc đạt 4319 triệu USD gấp 7,8 lần so với năm 1994. Trong đó kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2004 xấp xỉ 1,2 lần và tăng 19,9 lần so với
năm 2003.
Năm 2004, hàng dệt may Việt Nam đã xuất khẩu sang khoảng 174 thị tr-
ờng, trong đó nhiều nhất là Mỹ (trên 2 tỷ USD), EU (0,9 tỷ USD), Nhật Bản
(0,55 tỷ USD), các thị trờng khác (0,6 tỷ USD). Theo hiệp hội dệt may Việt
Nam (VITAS) dự kiến kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Mỹ trong năm 2005
sẽ là 2,7 - 2,75 tỷ USD, tơng đơng năm 2004.
Dự tính mục tiêu xuất khẩu mặt hàng này năm 2005 sẽ là 5183 triệu USD.
SVTH: Đoàn Thị Thu Hơng Lớp K46 Kinh tế đối ngoại
13
Khoá luận tốt nghiệp
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu của nớc ta từ năm 1994 trở lại đây:
Đơn vị : triệu USD
Nguồn : Tổng cục thống kê, Bộ thơng mại, Tổng công ty VINATEX
1.2.2.Mặt hàng xuất khẩu
Với năng lực sản xuất hiện nay, Việt Nam có thể sản xuất hàng trăm mặt
hàng từ lụa, vải bạt, đến quần áo dệt kim, quần áo may sẵn, thảm len, thảm đay,
bít tất, khăn bông, Tuy nhiên, năng lực sản xuất và khả năng tiêu thụ của ta
đối với mỗi mặt hàng này là khác nhau. Mặt hàng, chủng loại nào sản xuất
nhiều hay ít còn phụ thuộc vào mặt hàng, chủng loại đó có đợc thị trờng đón
nhận hay không.
Trong giai đoạn 1996 - 2000 và những năm đầu giai đoạn 2001 - 2005,
ngành dệt may Việt Nam đã có những tiến bộ vợt bậc trong lĩnh vực xuất khẩu
với tốc độ tăng trởng bình quân 20,86%/năm, vơn lên đứng thứ hai về kim ngạch
sau ngành dầu khí.
SVTH: Đoàn Thị Thu Hơng Lớp K46 Kinh tế đối ngoại

liệu đến hoàn tất. Các mặt hàng sợi đơn chải kỹ chỉ số cao phục vụ cho áo sơ mi
xuất khẩu (hàng đơn màu hay carô, sọc màu) nay đã sản xuất đợc. Nhiều mặt
hàng sợi dày đợc tăng cờng công nghệ làm bóng, phòng co cơ học nh kaki đã
xuất khẩu sang các thị trờng Châu Âu, Nhật. Mặt hàng Denim 19% sợi bông đã
đợc phục hồi với công nghệ đổi mới tại một số doanh nghiệp và đợc may xuất
khẩu cho thị tròng Châu Âu. Nếu nh trớc đây thời điểm cao nhất, Việt Nam chỉ
xuất đợc khoảng 3000 tấn khăn tắm sang Đông Âu thì tới nay đã đạt đợc 10
nghìn tấn, với đủ chủng loai khăn về kích thớc và kiểu mẫu.
Các mặt hàng dùng sợi tổng hợp 100%, nhờ đợc đầu t thêm thiết bị, trang
bị các hệ thống xe lăn sợi, thiết bị giảm trọng lợng, . tạo nên những hàng giả tơ
tằm và hàng giả len thích hợp với khí hậu nhiệt đới. Nhu cầu tiêu thụ loại
nguyên liệu này đến hàng chục tấn/ năm.
Mặc dù trong những năm vừa qua, các mặt hàng đã đợc phát triển và nâng
cao chất lợng một cách rõ rệt, mang lại những kết quả khả quan nhng tỷ lệ sản l-
SVTH: Đoàn Thị Thu Hơng Lớp K46 Kinh tế đối ngoại
15
Khoá luận tốt nghiệp
ợng các mặt hàng có hiệu quả cha cao. Nhìn chung, do công nghệ còn thấp kém
nên chất lợng sản phẩm dệt của ta còn rất hạn chế. Điều này ảnh hởng đến khả
năng cạnh tranh trong nớc cũng nh xuất khẩu. Hàng dệt của Việt Nam cha đủ
khả năng cạnh tranh với các nớc trên thế giới, do đó Việt Nam mới xuất khẩu đ-
ợc vải thô, vải Cotton. Gần đây các xí nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đã xuất đợc
vải tổng hợp, . tuy nhiên kim ngạch còn thấp.
Ba sản phẩm chủ yếu của ngành dệt là sợi, vải luạ và vải bạt đều có mức
tăng tơng đối mạnh (sợi: 108%; vải lụa: 117%). Tuy nhiên do công nghệ thấp
kém nên chất lợng còn rất hạn chế, đồng thời làm cho khả năng hạ thấp giá
thành là rất yếu. Điều này ảnh hởng nhiều đến khả năng cạnh tranh trong nớc
cũng nh trong xuất khẩu. Năm 2003, sản phẩm dệt may của nớc ta cũng đã đợc
xuất khẩu sang một số nớc. Công ty may Thắng lợi xuất khẩu 100 nghìn mét vải
thành phẩm sang Mỹ, dự kiến năm 2004, công ty xuất khẩu 3 - 4 triệu mét vải

triệu USD. Tiếp theo là EU đạt 171,6 triệu USD, với số lợng 12,31 triệu chiếc.
Còn đối với mặt hàng áo khoác, kim ngạch xuất khẩu ớc đạt 124,4 triệu
USD, với số lợng khoảng 14,33 triệu chiếc, tăng 69,76% về trị giá so với năm
2002. Trong đó, xuất khẩu sang Mỹ đạt cao nhất (57 triệu USD), sau đó là Nhật
Bản (18 triệu USD), Đài Loan (3,65 triệu USD), .
SVTH: Đoàn Thị Thu Hơng Lớp K46 Kinh tế đối ngoại
17
Khoá luận tốt nghiệp
Bảng 2: Các mặt hàng may mặc xuất khẩu có thế mạnh:
Thứ tự Chủng loại (cat) Mặt hàng
1 4 Sơ mi, sơ mi ngắn tay bằng vải dệt kim
2 5
áo đan, áo cổ lọ
3 6 Quần dài, quần soóc dệt kim
4 7
áo blu, áo blu ngắn tay
5 8
áo sơ mi dệt kim
6 12 Tất nữ, tất mỏng dài, bít tất
7 13 Quần áo lót nam nữ bằng vải dệt kim
8 18
áo gilê, áo ngủ, pizama
9 21
áo jacket
10 24
aó ngủ, pizama bằng dệt kim
Nguồn: Tổng công ty dệt may Việt Nam
Gần đây, sản phẩm may mặc của ta đã đa dạng và phong phú hơn trớc,
chất lợng sản phẩm cũng tăng đáng kể. Nhờ đầu t khá mạnh vào máy móc công
nghệ phục vụ ngành may nên sản phẩm ngành may đã có sức cạnh tranh trên thị

Khoá luận tốt nghiệp
Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị trờng Mỹ
(1996-2005)
Đơn vị: triệu USD
Năm Kim ngạch
1996 9,1
1997 12
1998 26
1999 34
2000 49,5
2001 49
2002 976
2003 2480
2004 2700
Dự kiến 2005 2750

Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam
Nh vậy, giai đoạn 1996 - 2001, hàng dệt may Việt Nam xuất sang thị tr-
ờng Mỹ cha đáng kể. Nhng đến năm 2002, với sự mở đờng của hiệp định thơng
mại Việt Mỹ (BTA) hàng dệt may vào Mỹ đã tăng đột biến từ 49 triệu USD năm
2001 lên 976 triệu USD năm 2002. Và năm 2003, mặc dù bắt đầu bị áp đặt hạn
ngạch nhng kim ngạch xuất khẩu của ngành vẫn tăng đạt 2,48 tỷ USD về giá trị
và tăng 131,07% về lợng so với năm 2002 và trở thành thị trờng cung cấp hàng
dệt may lớn thứ bảy vào thị trờng Mỹ (tính theo kim ngạch).
Có thể thấy chỉ sau 2 năm Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ đi vào thực
hiện, xuất khẩu hàng hoá nói chung và hàng dệt may nói riêng của ta sang Mỹ
tăng lên đáng kể. Hiện Mỹ là thị trờng xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất của ta
trong năm 2003 chiếm tới 54% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả
nớc. Điều đáng chú ý là mặc dù bị Mỹ áp dụng hạn ngạch năm 2003, có lúc có
nơi một số doanh nghiệp gặp khó khăn do bị thiếu hạn ngạch hoặc không có hạn

hai năm trở lại đây, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan xuất khẩu hàng dệt
SVTH: Đoàn Thị Thu Hơng Lớp K46 Kinh tế đối ngoại
21
Khoá luận tốt nghiệp
may nớc ta sang thị trờng này có chiều hớng giảm sút. Năm 2002 kim ngạch
xuất khẩu đạt gần 552 tiệu USD, giảm 9,16% so với năm 2001. Còn năm 2003,
kim ngạch xuất khẩu đạt 542 triệu USD, giảm 1,76% so với năm 2002.
Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trờng EU
(1996-2003)
Đơn vị: Triệu USD
Năm
1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Kim
ngạch
225 410 521 555 609 599 552 542
Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam
Ta thấy, kim ngạch xuất khẩu vào thị trờng EU của ngành bắt đầu giảm từ
năm 2001. Nguyên nhân có thể là do EU điều chỉnh hạn ngạch, kinh tế các nớc
khu vực bị rơi vào khủng hoảng, đồng Euro mất giá, hàng dệt may của ta phải
cạnh tranh hết sức gay gắt với hàng của Trung Quốc, ấn Độ, Pakistan, .sau khi
EU bãi bỏ hạn ngạch đối với một số mặt hàng nhập khẩu từ các nớc này.
So sánh với truớc đây, giai đoạn năm 1996 - 1997, tốc độ tăng trởng xuất
khẩu hàng dệt may đạt hơn 23% sau khi Việt Nam ký kết Hiệp định hàng dệt
may với EU (năm 1992). Giai đoạn 1998 - 2000, hạn ngạch đã tăng thêm 40%
so với giai đoạn trớc và thoả thuận sơ bộ cho giai đoạn 2003 - 2005 có mức tăng
từ 50% - 70% tuỳ theo nhóm hàng.
Về thị trờng, trong khi xuất khẩu sang một số thị trờng chủ chốt nh Đức,
Anh liên tục giảm thì xuất khẩu sang một số thị trờng nh Pháp, Hà Lan bắt đầu
SVTH: Đoàn Thị Thu Hơng Lớp K46 Kinh tế đối ngoại
22

và tăng lên mức 1,3 - 1,5 USD/Euro. Theo Ngân hàng thế giới (WB), tăng trởng
GDP của khu vực các nớc sử dụng đồng Euro trong năm 2003 là 0,7%, còn
trong năm 2004 đạt 1,7%, mức cao nhất kể từ năm 2001 đến nay.
Đặc biệt kể từ ngày 1/5/2004, EU kết nạp thêm 10 nớc thành viên mới
(Ba Lan, Hungary, Cộng hoà séc, Cộng hoà Slovakia, Latvia, Litva, Estonia, Sip,
Malta, Slovenia) với quy mô dân số hơn 451 triệu ngời, GDP-25 (theo PPP) năm
2001 là 9.902 tỷ USD, cao hơn Mỹ 9.792 tỷ USD cũng hứa hẹn một sức mua lớn
đầy tiềm năng cho hàng hoá xuất khẩu của ta nói chung và hàng dệt may nói
riêng.
Tuy nhiên, thách thức đối với xuất khẩu hàng dệt may sang EU sau năm
2005 là rất lớn do đợc xoá bỏ hạn ngạch, cạnh tranh sẽ rất gay gắt. Cho nên,
ngay từ bây giờ các doanh nghiệp cần tận dụng tối đa những thuận lợi trên để
khẳng định chỗ đứng vững chắc cho sản phẩm dệt may xuất khẩu của mình tại
thị trờng EU.
c. Thị trờng Nhật Bản:
SVTH: Đoàn Thị Thu Hơng Lớp K46 Kinh tế đối ngoại
24
Khoá luận tốt nghiệp
Nhật Bản là thị trờng có khả năng tiêu thụ rất lớn về hàng may mặc. Hàng
năm Nhât nhập một khối lợng lớn hàng dệt may và trong suốt những năm đầu
thập kỷ 90, Nhật Bản luôn là nớc thứ 3 thế giới về nhập khẩu hàng dệt may.
Nhật Bản là thị trờng phi hạn ngạch, ngời tiêu dùng Nhật không quan tâm
đến xuất xứ hàng hoá mà đặc biệt chú trọng chất lợng mẫu mã sản phẩm. Yêu
cầu về chất lợng và mẫu mã của thị trờng Nhật Bản đối với hàng dệt may nhập
khẩu là rất cao. Chất lợng hàng dệt may Việt Nam trên thị trờng Nhật Bản ở mức
chấp nhận đợc, song để không bị loại bỏ khỏi thị trờng khó tính nh vậy và đạt
kim ngạch xuất khẩu cao hơn thì ngành dệt may Việt Nam còn phải cố gắng hơn
nữa về chất lợng.
Năm 2003 Việt Nam xuất khẩu sang Nhật khoảng 480 triệu USD trong
tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt may 3,6 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status