TIỂU LUẬN: Giải pháp của các bộ ban ngành nhà nước về xuất khẩu thuỷ hải sản pot - Pdf 11



TIỂU LUẬN:

Giải pháp của các bộ ban ngành nhà
nước về xuất khẩu thuỷ hải sản

A) Phần mở đầu
I) Giới thiệu sơ qua về đề tài nghiên cứu và tình hình xuất khẩu ở Việt
nam
Thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nền sản
xuất trong nước, trong những năm qua Việt Nam đã mở rộng quan hệ hợp tác với
hơn 200 quôc gia trên thế giới, tham gia nhiều tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế
như Asean, AFTA, WTO …nhưng sự tham gia này vẫn dừng ở phạm vi nhỏ, hẹp cả
về lĩnh vực lẫn quy mô, khối lượng.Trước yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, trước yêu cầu của phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, chúng ta không thể không đẩy nhanh tốc độ, quy mô hội nhập kinh tế
quốc tế.Bởi vậy nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VIII, IX và X đều khẳng định phải
‘’ đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới’’, với quy mô rộng hơn

xuất khẩu tăng gần 40 lần từ 789 triệu USD năm 1986 lên 32,4 tỷ USD năm 2005,
tỷ trọng xuất khẩu so với tổng mức lưu chuyển tăng dần từ 35,7%(giai đoạn 1986-
1990) lên 46%(giai đoạn 2001-2005).
Do tốc độ tăng trưởng ở mỗi thời kì của xuất khẩu và nhập khẩu có sự ngược
nhau về xu hướng nên ảnh hưởng đến cân đối thương mại. Giai đoạn 1986-1995
mức nhập siêu khoảng 5,6 tỷ USD.Từ 1996 đến 2000 mức nhập siêu tăng gấp gần 2
lần lên 9,8 tỷ USD.Giai đoạn 2001-2005 là 19,3 tỷ USD.Tuy nhiên tỷ lệ nhập siêu
qua từng giai đoạn so với xuất khẩu giảm mạnh từ 80,4% trong giai đoạn 1986-
1990 xuống 17,4% giai đoạn 2001-2005.
Cùng với sự tăng trưởng về quy mô, các đơn vị tham gia xuất nhập khẩu cũng
tăng lên nhanh chóng.Trước năm 1989 hoạt động xuất nhập khẩu chủ yếu do một số
đơn vị chuyên doanh ngoại thương của nhà nước thực hiện, nhưng đến nay tất cả
các loại hình doanh nghiệp đều tham gia xuất nhập khẩu.Tỷ trọng xuất khẩu của
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lien tục tăng qua các giai đoạn, giai đoạn 1991-
1995 chiếm 17,1%, giai đoạn 1996-2000 chiếm 31,5%, giai đoạn 2001-2005 chiếm
42,8%.
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những cơ hội và nguy cơ đòi hỏi các doanh
nghiệp xuất khẩu phải nắm chắc tình hình, đưa ra những dự báo, xây dựng kế
hoạch, chiến lược mở rộng thị trường, đẩy mạnh và nâng cao giá trị xuất khẩu nhằm
đóng góp thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế của Nhà nước .
B) Nội dung nghiên cứu Chương I: Cơ sở lý luận về vấn đề xuất khẩu
1.1) Lý do nghiên cứu về xuất khẩu
Nghị quyết đại hội Đảng đã được cụ thể hoá bằng nhiều chính sách vĩ mô nhằm
đạt mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu, tạo tiền đề cho phát triển, đưa nền kinh tế sớm đạt
mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá .
Hoạt động xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế mở cửa hội
nhập như nước ta.Việc mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài là vấn

khẩu đang chiếm một tỷ trọng lớn trong GDP
Xuất khẩu càng phát triển, càng được mở rộng thì càng thúc đẩy nền sản xuất
trong nước phát triển theo, giúp giải quyết vấn đề việc làm cho một bộ phận lớn dân
số trong nước.
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu. Để phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cần phải có một lượng vốn lớn để nhập khẩu máy
móc thiết bị, công nghệ hiện đại.Nguồn vốn ngoại tệ chủ yếu được thu về từ các
hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển.Xuất khẩu góp phần tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển.
1.21) hoạt động xuất khẩu trước năm 1986
Giai đoạn trước 1986, cơ chế kinh tế Việt Nam là cơ chế tập trung, bao
cấp.không có khái niệm mở cửa hội nhập, chỉ hợp tác với các nước xã hội chủ
nghĩa. Sản xuất chỉ nhằm mục đích đảm bảo nhu cầu trong nước.
Trong giai đoạn này,hoạt động xuất khẩu nhỏ lẻ, chủ yếu là xuất một số mặt
hang nông sản thô sang các nước xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế chủ yếu là phải nhập
khẩu các mặt hang quan trọng cho sản xuất và tiêu dùng trong nước kể cả những
loại hang hoá mà trong nước có thể sản xuất được như gạo,vải mặc
1.22) hoạt động xuất khẩu sau năm 1986
Đại hội Đảng VI (tháng 12/1986) đánh dấu một bước ngoặt rất cơ bản trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, với việc đưa ra đường lối đổi mới toàn
diện đất nước, từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ chức, cán bộ, công tác hành chính,
từ đổi mới kinh tế đến đổi mới hệ thống chính trị và các lĩnh vực khác của đời sống
xã hội. Công cuộc đổi mới năm 1986 đánh dấu bước chuyển đổi từ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường và một loạt những thay đổi quan
điểm về tư duy, đường lối phát triển đất nước.Từ đây Việt Nam đã thực hiện chủ
trương mở cửa hội nhập kinh tế với tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ, chú trọng đến hoạt động xuất nhập khẩu, xem nó như một hoạt động giữ vai trò và vị trí quan

+Giai đoạn 1996-2000, đây là thời kỳ quan trọng trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong giai đoạn này, Việt Nam đã gặp phải một
số khó khăn bên ngoài mà điển hình nhất là cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế khu
vực (giữa năm 1997 đến năm 1999); Và khó khăn bên trong là thiên tai nghiêm
trọng liên tiếp gây ra những tác động tiêu cực, đặt nền kinh tế đất nước trước những
thử thách quyết liệt. Mặc dù vậy tổng sẩn phẩm trong nước vẫn duy trì được nhịp độ
tăng trưởng khoảng GDP 6%/năm.
+Giai đoạn 2001-2005, kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh, năm sau cao hơn năm
trước. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân 7,5%/năm, trong đó nông
nghiệp tăng 3,8%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%; dịch vụ tăng 7%. Qui mô tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế năm 2005 đạt 838 nghìn tỷ đồng, gấp đôi
so với năm 1995. GDP bình quân đầu người khoảng 10 triệu đồng (khoảng 640
USD).
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước từ 1986-2005

Tốc độ tăng tổng sản phẩm 1986-
1990
1991-
1995
1996-
2000
2001-
2005
Trong nước 4,4 8,2 7,0 7,5
Cụ thể:
- Nông, lâm nghiệp và thủy
sản
4,1 4,42 3,8

và 32,23 tỉ USD năm 2005. Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người tăng từ
36,3% USD năm 1990 lên 166 USD năm 2000 và khoảng 390 USD năm 2005.
Biểu 4 : Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam 1986-
2005

Từ biểu đồ trên ta thấy tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta không ngừng
tăng trong các giai đoạn từ 1986 đến 2005 và giai đoạn sau cao hơn nhiều so với
giai đoạn trước đó.Giai đoạn đầu sau đổi mới, tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt
7.03 tỷ USD, sau đó tăng lên hơn 2 lần trong giai đoạn 1991-1995 và giai đoạn
2001-2005 tăng gấp hơn 15 lần so với giai đoạn 1986-1990
Hoạt động xuất khẩu trong hơn 20 năm đổi mới đã đóng góp quan trọng vào
tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước.Với mục tiêu phát triển xuất
khẩu cao làm động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP, tỷ trọng xuất khẩu chiếm trong
GDP và xuất khẩu bình quân đầu người ngày càng tăng thể hiện qua các thời kì
1986-2005
1986-1990 1991-
2000
1996 - 2000 2001 -2005
xuất khẩu bình
quân(triệu USD)
1406 3431 10365 22166 tỷ trọng xuất khẩu so
với GDP(%) 20.5 25.2 37.4 54.0
xuất khẩuBQ/người$ 18.1 43.6 129.9 274.0


ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; nhanh chóng rút ngắn khoảng
cách phát triển kinh tế giữa nước ta và các nước trong khu vực.
1.3) Về tài nguyên thuỷ hải sản ở nước ta
Nước ta có đường bờ biển dài 3.2 nghìn km (bằng6/7 biên giới lục địa) với
gần 1 triệu km2 thềm lục địa với hàng nghìn đảo và quần đảo.Nhiệt độ vùng biển
tương đối ấm và ổn định quanh năm thích hợp cho sự sinh trưởng của các loài thuỷ
sản nước mặn, nước lợ.
Biển Việt nam có trữ lượng cá lớn và đặc sản biển phong phú: hang chục vạn ha
diện tích mặt nước trên đất liền( bao gồm 40 vạn ha hồ lớn, 54 vạn ha vùng ngập
nước, 5.7 vạn ha ao và 44 vạn km sôngvà kênh rạch) có thể nuôi tôm, cá và các loại
thuỷ sản khác.Do đó, ngành nuôi thuỷ sản nước ta, kể cả thuỷ sản nước mặn, nước
lợ, nước ngọt, có thể trở thành ngành sản xuất chính. Bên cạnh cá biển còn nhiều nguồn lợi tự nhiên như trên 1.600 loài giáp xác,
sản lượng cho phép khai thác 50 - 60 nghìn tấn/năm, có giá trị cao là tôm biển, tôm
hùm và tôm mũ ni, cua, ghẹ; khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, trong đó có ý
nghĩa kinh tế cao nhất là mực và bạch tuộc (cho phép khai thác 60 - 70 nghìn
tấn/năm); hằng năm có thể khai thác từ 45 á 50 nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tế
như rong câu, rong mơ v.v Bên cạnh đó, còn rất nhiều loài đặc sản quí như bào
ngư, đồi mồi, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cá, ngọc trai, v.v có giá
trị xuất khẩu cao được ưa chuộng trên thị trường quốc tế.
Bị chi phối bởi đặc thù của vùng biển nhiệt đới, nguồn lợi thuỷ sản nước ta
có thành phần loài đa dạng, kích thước cá thể nhỏ, tốc độ tái tạo nguồn lợi cao. Chế
độ gió mùa tạo nên sự thay đổi căn bản điều kiện hải dương học, làm cho sự phân
bố của cá cũng thay đổi rõ ràng, sống phân tán với quy mô đàn nhỏ. Tỷ lệ đàn cá
nhỏ có kích thước dưới 5 x 20m chiếm tới 82% số đàn cá, các đàn vừa (10 x 20m)
chiếm 15%, các đàn lớn (20 x 50m trở lên) chỉ chiếm 0,7% và các đàn rất lớn (20 x
500m) chỉ chiếm 0,1% tổng số đàn cá. Số đàn cá mang đặc điểm sinh thái vùng gần
bờ chiếm 68%, các đàn mang tính đại dương chỉ chiếm 32%.

Bắc Bộ

Cá nổi
nhỏ

390.000 57,3 156.000 57,3

16,3
Cá đáy <
50m
39.200 5,7 15.700 5,7
>
50m
252.000 37 100.800 37
Cộng

681.200

272.500 Miền
Trung
Cá nổi
nhỏ

500.000 82,5 200.000 82,5

14,5
Cá đáy <


2.075.900

830.400 Tây
Nam
Bộ
Cá nổi
nhỏ

316.000 62,0 126.000 62,0
12,1
Cá đáy <
50m
190.700 38,0 76.300 38,0
Cộng

506.700

202.300

Gò nổi Cá nổi
nhỏ

10.000 100 2.500 100 0,2
Toàn
vùng
biển

dương
(*)

(300.000)

(120.000)

Toàn bộ

4.180.000

1.700.000

100
(*) Số liệu suy đoán theo sản lượng đánh bắt của các nước quanh biển Ðông
Bảng 6. Trữ lượng và khả năng khai thác tôm vỗ ở vùng biển Việt Nam

Vùng
biển
< 50m 50 - 100m 100 - 200m > 200m Tổng cộng
Trữ
lượng,
tấn
Cho
phép
khai
thác,
tấn
Trữ
lượng,

Vịnh
Bắc Bộ
318 116 114 42

430 158
Miền
Trung
7 3 2.462 899 13.482 4.488

34 12 15.985 5.402
Ðông
Nam Bộ

8.160 2.475 2.539 927 6.092 2.224

1.852 676 18.641 6.300 Tây
Nam Bộ

9.180 3.351 166 61

9.346 3.412
Cộng 17.664 5.945 5.281 1.929 19.574 6.712

1.886 688 44.402 15.272

Bảng 7. Trữ lượng và khả năng khai thác mực nang ở vùng biển Việt Nam


Trữ lượng 3.900 3.840 4.500 1.300 13.540
Cho phép
khai thác
1.560 1.530 1.800 520 5.410

Nam Bộ
Trữ lượng 24.900 10.800 7.400 5.600 48.700
Cho phép
khai thác
9.970 4.300 2.960 2.250 19.480

Cộng
Trữ lượng

30.300 14.990 11.900 6.910 64.100
Cho phép 12.130 5.990 4.760 2.770 25.650 khai thác
Tỷlệ (%) 47,3 23,3 18,6 10,8 100
Bảng 8. Trữ lượng và khả năng khai thác mực ống ở biển Việt Nam

Khu vực
Trữ
lượng và
KN Khai
thác (tấn)

< 50m


130 180 810 1.190 2.310
Tỷ lệ % 5,5 7,5 35,3 51,7 10

Nam Bộ
Trữ lượng 21.300 12.800 2.600 4.900 41.500
Cho phép
khai thác
8.500 5.100 1.000 2.000 16.600 Tỷ lệ % 51,3 30,9 6,1 11,7 10

Cộng
Trữ
lượng
30.900 15.700 1.600 7.900 59.100
Cho phép
khai thác
12.400 6.300 1.800 3.100 23.600
Tỷlệ (%) 52,2 26,7 7,8 13,3 10
2.11) Thực trạng nuôi trồng và khai thác thuỷ hải sản nước ta
Theo số liệu đã công bố của Tổng Cục Thống kê, GDP của ngành Thuỷ sản
giai đoạn 1995 - 2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên 24.125 tỷ đồng. Trong các hoạt
động của ngành, khai thác hải sản giữ vị trí rất quan trọng. Sản lượng khai thác hải
sản trong 10 năm gần đây tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân hằng năm khoảng
7,7% (giai đoạn 1991 - 1995) và 10% (giai đoạn 1996 - 2003). Nuôi trồng thuỷ sản
đang ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai thác hải sản cả về sản lượng, chất
lượng cũng như tính chủ động trong sản xuất. Điều này tất yếu dẫn đến sự chuyển
đổi về cơ cấu sản xuất - ưu tiên phát triển các hoạt động kinh tế mũi nhọn, đem lại
hiệu quả kinh tế cao.

Nuôi trồng hải sản nước ta hiện nay mới tập trung vào một số doanh nghiệp,
xí nghiệp liên doanh và các hộ có vốn, sản xuất mang tính tự phát ở một số vùng
ven biển; còn đại bộ phận người dân ven biển chưa có sự hiểu biết và điều kiện
tham gia nuôi trồng hải sản trên biển. Việc sử dụng diện tích mặt nước biển để nuôi
hải sản chưa đáng kể, việc giao, cho thuê mặt nước biển còn nhiều bất cập, sản
lượng nuôi chưa nhiều, giống loài thủy sản tham gia sản xuất còn ít, giá trị kim
ngạch xuất khẩu so với tiềm năng hiện có còn thấp. Cơ chế chính sách khuyến khích
đầu tư, phát triển công nghệ và xây dựng cơ sở hạ tầng hầu như chưa có gì đáng kể
để phục vụ yêu cầu sản xuất, đã làm hạn chế phát triển phong trào nuôi trồng thủy
sản trên biển và hải đảo.

2.12) Thực trạng ngành công nghiệp chế biến thuỷ hải sản trong nước Chế biến thuỷ hải sản là một khâu quan trọng nhằm nâng cao giá trị xuất
khẩu.Hiện nay ngành công nghiệp chế biến thuỷ hải sản ở nước ta đa phần công
nghệ còn lạc hậu, chủng loại mặt hang chế biến còn hạn chế, còn gặp rất nhiều khó
khăn về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm trong chế biến.Trong nhiều năm vừa
qua, hang thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam luôn gặp các vấn đề về vệ sinh an toàn
thực phẩm.Hàng xuất khẩu không đạt tiêu chuẩn chất lượng theo yêu cầu của nước
nhập khẩu đều bị trả lại và trong trường hợp xấu nhất có thể bị cấm nhập sang nước
đó.Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã bị cảnh cáo thậm chí
rất nhiều doanh nghiệp bị đình chỉ mặt hàng, cấm xuất khẩu.Lấy ví dụ như nhiều
doanh nghiệp thời gian vừa qua đã liên tục bị phía Nhật, EU và ngay cả thị trường
dễ tính như Nga ra cảnh báo và cấm xuất một số sản phẩm thuỷ sản sang nước họ.
Hiện tại nhiều doanh nghiệp phải nhập nguyên liệu về chế biến, nhập nguyên
liệu thức ăn để tự tổ chức nuôi trồng. Thực trạng này là hậu quả mối quan hệ giữa
người nuôi với doanh nghiệp chế biến xuất khẩu chưa có mối lien hệ chặt chẽ để
cùng chia sẻ lợi nhuận, rủi ro>người nuôi không rõ bán cho ai vẫn cứ nuôi còn
doanh nghiệp chế biến thì không cần quan tâm đến tổ chức sản xuất nguyên liệu,

-
-
1.600.000

1.000.000
600.000
2.174.784

1.454.784
720.000
Kim ng
ạch xuất
khẩu thuỷ sản
triệu USD 900 - 1.000 1.478,6
Thu hút lao đ
ộng
thuỷ sản
nghìn người 3.000 3.400
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thuỷ sản tương đương với các ngành công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Điều đó chứng tỏ ngành thuỷ sản đang dần chuyển từ
sản xuất mang nặng tính nông nghiệp sang sản xuất kinh doanh theo hướng công
nghiệp hoá.
GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU (triệu USD)
Năm Toàn quốc
Công nghi
ệp
- Xây dựng -

Dịch vụ
Nông - Lâm - Thuỷ sản

Một vấn đề khó khăn nữa với xuất khẩu thuỷ sản Việt nam đó là sự lien kết
giữa doanh nghiệp chế biến xuất khẩu với nguồn cung nguyên liệu trong nước còn
lỏng lẻo, chưa có sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà lợi ích giữa các bên làm cho nguồn
cung nguyên liệu của ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản cho các doanh nghiệp
xuất khẩu lúc thừa, lúc thiếu, lúc giá cao, lúc thì sụt giá một cách tệ hại.Chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm còn chưa đảm bảo ngay từ khâu nuôi trồng khai thác
đến khâu chế biến xuất khẩu
Trong năm 2008 vừa qua, do tình hình lạm phát trong nước cao và khủng
hoảng kinh tế thế giới đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu về nguồn
nguyên liệu do nhiều cơ sở đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản giảm cường độ ra khơi
và thu hẹp diện tích nuôi trồng do đó đã tao ra một số biến động cho thị trường
nguyên liệu.Việc giảm giá thành sản phẩm cũng đang là vấn đề mà doanh nghiệp
xuất khẩu phải quan tâm trong thời điểm kinh tế suy thoái, đây là một vấn đề tưởng
đơn giản nhưng lại khá nan giải cho các đơn vị xuất khẩu khi mà giá nguyên liệu,
thức ăn chăn nuôi trong nước liên tục tăng
Đánh giá về xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam trong năm 2008 vừa qua là một
năm khó khăn với các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam: Nằm trong bối
cảnh chung của hoạt động xuất khẩu của cả nước, thủy sản Việt Nam vừa trải qua
một năm đầy “sóng gió” ngay đầu năm 2008 như lạm phát, nền kinh tế tăng trưởng
chậm, tỷ giá USD bấp bênh, chi phí đầu vào tăng vọt, lãi suất ngân hang tăng
cao…Tuy nhiên theo số liệu của cục hải quan Việt nam cả năm 2008 xuất khẩu thuỷ
sản của Việt nam đạt 1236 nghìn tấn, trị giá 4.509 tỷ USD, tăng 33.7% về khối
lượng và 19.8% về giá trị so với cùng kì năm trước.Trong giai đoạn khó khăn như
trong năm 2008, các doanh nghiệp đã chuyển từ trọng tâm các cuộc khủng hoảng là
Mĩ, EU, Nhật… sang những thị trường mới là nga, Ai cập…Năm 2008 Việt nam
xuất khẩu thuỷ sản sang 160 thị trường với gần 70 sản phẩm các loại.
Năm 2008 EU nhập khẩu 349 nghìn tấn thủy sản Việt Nam với trị giá 1,14
tỷ USD, tăng 26% về giá trị, chiếm 25,4% cơ cấu thị phần của ngành thủy sản, tiếp

khẩu cá tra, basa Việt Nam, là thị trường đơn lẻ đứng đầu về nhập khẩu cá tra, basa
của Việt Nam tăng 142,5% về khối lượng và tăng 109% về giá trị so với năm 2007.
Đây quả thực là một mức tăng trưởng xuất khẩu khá ấn tượng, song sang đến quí
I/2009 xuất khẩu sang Nga khó đạt được mức tăng trưởng nếu không nói là tăng
trưởng âm do Cục Kiểm dịch động, thực vật Liên bang Nga (VPSS) đã ban hành
lệnh cấm đối với các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam kể từ ngày 20/12/2008.
Ngoài ra, đây cũng là thị trường nhập khẩu chính thủy sản khô của Việt Nam (đứng
thứ 4 sau ASEAN, Hàn Quốc & Trung Quốc).

Trích đoạn Giải pháp của các bộ ban ngành nhà nước về xuất khẩu thuỷ hải sản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status