LUẬN VĂN: Thực trạng - Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Tổng công ty Thương mại Hà Nội trong bối cảnh kinh tế hiện nay - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Thực trạng - Giải pháp đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu hàng nông sản của Tổng
công ty Thương mại Hà Nội trong bối
cảnh kinh tế hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những đặc trưng quan trọng của tình hình thế giới hiện nay là xu
hướng quốc tế hoá và hội nhập kinh tế toàn cầu. Nến kinh tế thế giới phát triển nhanh
chóng kéo theo nó là sự chuyên môn hoá và phân công lao động quốc tế ngày một cao.
Không một quốc gia nào có thể phát triển mạnh mẽ nếu chỉ bằng con đường tự lực
cánh sinh, đặc biệt là với các nước đang phát triển và trình độ kĩ thuật công nghệ còn
non kém như Việt Nam. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của
Đảng đã khẳng định: “kiên trì chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế
nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả, phát huy lợi thế so sánh
của từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực trong từng thời kỳ, không ngừng nâng cao
sức cạnh tranh trên thị trường trong nước, thị trường khu vực và thị trường thế giới”.
Việt Nam được coi là một nước có lợi thế so sánh trong xuất khẩu nông sản với
vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên phong phú, nguồn nhân công
dồi dào (70% lao động Việt Nam làm nghề nông). Bên cạnh đó, trong nhiều năm qua

 Nghiên cứu và dự báo tình hình kinh tế thế giới nói chung cũng như tình hình
thị trường nông sản nói riêng trong thời gian sắp tới để thấy được những khó
khăn thách thức với hoạt động xuất khẩu nông sản của Tổng công ty trong thời
gian tới.
 Đưa ra những biện pháp và kiến nghị cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế và
nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu nông sản của Tổng công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động xuất khẩu nông sản của Tổng công ty Thương mại
Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: chuyên đề chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu nông
sản của Tổng công ty Thương mại Hà Nội (bao gồm cả Công ty mẹ và các công ty con trực thuộc) dưới những biến động thường xuyên của bối cảnh kinh tế thế giới trong
giai đoạn 2004-2009.
4. Kết cấu chuyên đề: ngoài phần mở đầu, kết luận thì chuyên đề bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan chung về hoạt động xuất khẩu hàng nông sản ở Việt Nam
Chương 2: Tình hình xuất khẩu hàng nông sản của Tổng công ty Thương mại Hà Nội
Hapro trong những năm gần đây
Chương 3: Các giải pháp, kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng nông
sản của Hapro trong bối cảnh kinh tế hiện nay

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG
NÔNG SẢN TẠI VIỆT NAM

hoặc với cả hai bên do thoả thuận trong hợp đồng xuất khẩu
 Nguồn luật điều chỉnh quan hệ mua bán, giải quyết các tranh chấp khi phát sinh
có thể là luật của nước bên mua, luật của nước bên bán hay luật quốc tế mà các
bên đã thoả thuận trong hợp đồng.
1.1.2. Vai trò của xuất khẩu hàng hoá
1.1.2.1. Đối với nền kinh tế quốc gia
* Xuất khẩu góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, kích thích sự tăng trưởng kinh tế
nhanh chóng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Xuất khẩu được hầu hết các quốc gia trên thế giới coi như là một cách thức hữu
hiệu nhất để đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế do những nguyên nhân cơ bản
sau đây:
 Xuất khẩu tạo cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ, cho phép mở rộng qui mô sản
xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời theo phản ứng dây chuyền giúp tăng tổng
sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.
 Xuất khẩu tạo ra một nguồn vốn lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị, các công
nghệ hiện đại phục vụ sản xuất, đưa nền kinh tế tiến lên theo con đường Công
nghiệp hoá- hiện đại hoá
 Hoạt động xuất khẩu làm cho mức độ cạnh tranh ngày càng tăng tiến, điều này
buộc mỗi quốc gia phải có sự tổ chức lại sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng
cao chất lượng sản phẩm không ngừng
 Xuất khẩu tạo ra một nguồn ngoại tệ giúp cân bằng cán cân thanh toán. Điều
này đặc biệt có ý nghĩa với các nước đang phát triển khi mà tình trạng nhập siêu
khá phổ biến.
* Xuất khẩu có vai trò tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng
sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh của đất nước
Xuất khẩu lấy thị trường thế giới làm thị trường của mình nên nhu cầu của thế
giới chính là mục tiêu hướng tới của xuất khẩu. Những mặt hàng nào có khả năng phục
vụ tốt nhu cầu của con người trên thế giới thì sẽ trụ vững và phát triển, còn không nó

gian lại gấp rút nên rất cần tập trung nhân công để có thể hoàn thành hợp đồng đúng
hạn. Chính vì vậy xuất khẩu luôn được coi là một công cụ giải quyết nạn thất nghiệp
đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Xuất khẩu còn tạo ra một nguồn vốn để nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng thiết
yếu mà trong nước chưa có khả năng sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng cảu
người tiêu dùng, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần. * Hoạt động xuất khẩu là cơ sở để nâng cao uy tín của một quốc gia trên trường thế
giới đồng thời cũng là động lực thúc đẩy mối quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước
khác
Nhờ có hoạt động xuất khẩu mà hàng hoá của một nước được bày bán và biết
đến tại nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt là với các mặt hàng có tính truyền thống
thì việc xuất khẩu đồng nghĩa với việc quảng bá hình ảnh, khẳng định uy tín cũng như
thương hiệu của đất nước đó với toàn thế giới. Thông qua xuất khẩu mà một quốc gia
có thể thiết lập và mở rộng mối quan hệ với các nước khác trên cơ sở đôi bên cùng có
lợi
Xuất khẩu chỉ là một bộ phận của kinh tế đối ngoại nhưng sự phát triển của nó
đã thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ tín dụng - vay nợ quốc tế, đầu tư nước ngoài,
mở rộng vận tải quốc tế, bảo hiểm quốc tế, du lịch quốc tế… Ngược lại sự phát triển
của các quan hệ quốc tế này cũng tạo không ít thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu.Vì
vậy có thể nói xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có mối quan hệ hỗ trợ và
phụ thuộc lẫn nhau.
1.1.2.2. Đối với doanh nghiệp
Vươn ra thị trường nước ngoài là một xu hướng chung của hầu hết các doanh
nghiệp lớn nhỏ hiện nay. Việc xuất khẩu hàng hoá dịch vụ đã mang lại cho các doanh
nghiệp nhiều lợi ích như
* Hoạt động xuất khẩu giúp cho các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển, đặc biệt
là khi thị trường trong nước trở nên bão hoà. Xuất khẩu giúp mở rộng thị trường, kéo
dài tuổi thọ chu kỳ sống của sản phẩm, đẩy mạnh số lượng tiêu thụ trên thị trường

do tự mình mua được hàng hoá tốt phù hợp với yêu cầu khách hàng với giá mua
vào thấp và không phải cho trả chi phí cho bên trung gian nào
 Các điều kiện trong hợp đồng xuất khẩu ( giá cả hàng hoá, phương tiện vận
chuyển, thời gian và địa điểm giao hàng, phương thức thanh toán) do hai bên tự
thoả thuận và quyết định nên sẽ đảm bào được lợi ích của hai bên  Các doanh nghiệp xuất khẩu có cơ hội thâm nhập thị trường, trực tiếp tìm hiểu
nhu cầu sở thích cũng như ý kiến phản hồi từ khách hàng nên khả năng đáp ứng
yêu cầu hay khắc phục thiếu sót sẽ tốt hơn.
Nhược điểm:
 Độ rủi ro lớn, hàng hoá có thể không bán được hay bán chậm do những biến
động từ phía khách hàng hay từ thị trường dẫn đên ứ đọng vốn kinh doanh
 Khối lượng hàng hoá phải đủ lớn để bù đắp các chi phí điều tra thị trường, giao
dịch, hải quan… mà doanh nghiệp phải bỏ ra
 Đối với các thị trường mới thâm nhập, chưa hiểu rõ thì các doanh nghiệp xuất
khẩu dễ bị ép giá, bị lấn át…
Hình thức này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có qui mô lớn, các cán bộ ngoại
thương phải có trình độ và nghiệp vụ cao, sản phẩm xuất khẩu phải có uy tín tương đối
trên thị trường. Đặc biệt các doanh nghiệp chỉ nên xuất khẩu theo hình thức này khi đã
biết rõ về khách hàng, về nhu cầu thị trường để tránh khỏi những rủi ro đáng tiếc
1.1.3.2. Xuất khẩu uỷ thác
Đây là một hình thức dịch vụ thương mại, trong đó đơn vị có hàng xuất khẩu
(bên uỷ thác) sẽ giao cho đơn vị xuất khẩu (bên được uỷ thác) tiến hành xuất khẩu một
lô hàng nhất định với danh nghĩa của bên được uỷ thác nhưng với chi phí của bên uỷ
thác. Đơn vị xuất khẩu chỉ thực hiện các thủ tục xuất khẩu hàng hóa, kể cả vận chuyển
và được nhận một khoản tiền do bên uỷ thác trả (gọi là phí uỷ thác)
Ưu điểm: doanh nghiệp ngoại thương không phải tự bỏ vốn ra mua hàng, không
phải chi cho các khoản nghiên cứu thị trường, giao dịch kí kết hợp đồng xuất
khẩu,không phải chịu trách nhiệm cuối cùng về việc bán hàng nên tránh được những

được nhận phí thù lao gọi là phí gia công
Ưu điểm của hình thức này là
 Đối với bên nhận gia công: tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, tạo
điều kiện đổi mới và cải tiến kĩ thuật công nghệ nhằm nâng cao năng lực sản
xuất  Đối với bên đặt gia công: lợi dụng được giá nhân công và nguyên phụ liệu
tương đối rẻ của bên nhận gia công
Nhược điểm là thu nhập từ hoạt động kinh doanh này tương đối thấp so với các
hình thức khác, các doanh nghiệp nhận gia công thường bị yếu thế trong việc thoả
thuận các điều kiện gia công với bên nước ngoài.
Hình thức này chủ yếu áp dụng trong các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động
và nguyên vật liệu như: dệt may, đóng giầy da…
1.1.3.4. Xuất khẩu theo hình thức buôn bán đối lưu
Là hình thức xuất khẩu đi đôi với nhập khẩu, việc mua bán gắn liền với nhau,
người mua đồng thời là người bán, lượng hàng hóa trao đổi với nhau phải có giá trị
tương đương. Các bên buôn bán đối lưu phải luôn quan tâm đến sự cân bằng trong trao
đổi hàng hoá (cân bằng về mặt hàng, giả cả, tổng giá trị hàng hoá giao nhau, điều kiện
giao hàng)
Mục đích xuất khẩu không phải là thu về lợi nhuận mà nhằm thu về một lượng
hàng tương đương với lô hàng đã xuất. Ưu điểm của hình thức này chính là sự cân
bằng trong trao đổi hàng hoá, không liên quan tới tiền nên các doanh nghiệp không cần
quá am hiểu về nghiệp vụ thanh toán, ngoài ra còn tránh được các rủi ro do sự biến
động tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối.
Tuy nhiên không phải lúc nào doanh nghiệp cũng đáp ứng được yêu cầu về
hàng hóa tương đương mà khách hàng muốn trao đổi nên doanh nghiệp ngoại thương
không chủ động, đây cũng là hạn chế của hình thức này.
1.1.3.5. Xuất khẩu tại chỗ
Đây là hình thức xuất khẩu mà hàng hoá không nhất thiết phải dịch chuyển qua

không phải lúc nào hàng hoá cũng được xuất khẩu trực tiếp mà phải qua trung gian
(trong trường hợp bị cấm vận, bao vây kinh tế). Khi đó thông qua hình thức này các
nước vẫn có thể tham gia buôn bán với nhau.
Nhược điểm của hình thức này là các doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào
nước xuất khẩu cả về giá cả, thời gian giao hàng. Ngoài ra nó đòi hỏi người làm công tác tái xuất phải giỏi về nghiệp vụ xuất- nhập, nhậy bén với tình hình thị trường và giá
cả thế giới, sự chính xác chặt chẽ trong các hợp đồng mua bán.
Trong bối cảnh tự do hoá thương mại toàn cầu như hiện nay, hình thức này chỉ
được thực hiện ở những thị trường thiếu hàng hoá hoặc không thể sản xuất được hàng
hoá đó, và diễn ra chủ yếu với mặt hàng nguyên vật liệu.
1.2. Một số vấn đề về hoạt động xuất khẩu hàng nông sản
1.2.1. Các đặc điểm đặc trưng của mặt hàng nông sản
Khác với các mặt hàng xuất khẩu khác như hàng điện tử, máy móc ; hàng dệt
may thì hàng nông sản có những điểm khác biệt mà bất kỳ một doanh nghiệp nào
cũng phải nắm được nếu muốn hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả cao
Hàng nông sản chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi các điều kiện tự nhiên như thời
tiết, khí hậu, nguồn nước, địa hình Vì vậy sự thay đổi của tự nhiên dù là theo chiều
hướng tốt hay xấu cũng làm đều làm biến động nguồn hàng nông sản cung cấp cho
xuất khẩu, trong khi đó con người mới chỉ có thể dự báo và hạn chế chứ không thể
khắc phục được hoàn toàn những biến cố tự nhiên này. Thời tiết quá nắng nóng hay
bão lũ, lụt lội cũng đều làm cây trồng chết hàng loạt hay tại các khu vực địa hình cao,
đất đai thiếu màu mỡ cây trồng sẽ cho năng suất thu hoạch thấp hơn ở đồng bằng
Các mặt hàng nông sản mang tính thời vụ vì việc gieo trồng, chăm bón đến thu
hoạch mỗi loại nông sản thường chỉ được tiến hành vào một số thời điểm thích hợp
trong năm, như vậy mới đảm bảo được những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự sinh
sôi và phát triển của cây trồng. Ngày nay tuy con người đã cố gắng khắc phục bằng
cách phối ra các hạt giống cây có thể gieo trồng được quanh năm hay áp dụng những
biện pháp kích thích tăng trưởng (phân bón hoá học, thuốc tăng trưởng, thuốc trừ

thì sẽ có thời gian sử dụng tương đối ngắn, nếu bảo quản không tốt dễ dẫn đến thiu
mốc, hư hỏng. Vì vậy trong quá trình thu mua hàng cho xuất khẩu cần chú ý kiểm tra
kĩ chất lượng hàng hoá, phân loại và lựa chọn cách thức bảo quản, vận chuyển cho phù
hợp các thao tác đều phải nhanh chóng, kịp thời để tránh xảy ra những hao tổn không
đáng có. Hàng nông sản là mặt hàng thiết yếu trong đời sống, có thể nói là nó có tác
dụng nuôi sống con người. Không một ai có thể tồn tại mà không cần ăn uống, chính
vì vậy nhu cầu về nông sản là cấp bách hơn bất kỳ một loại hàng hóa nào. Ngoài ra
chất lượng hàng nông sản còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người tiêu dùng
nên những yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm là rất khắt khe. Nó đòi hỏi các doanh
nghiệp xuất khẩu nông sản phải coi trọng đặc biệt khâu chế biến và bảo quản, coi chất
lượng hàng là yếu tố hàng đầu để xâm nhập và cạnh tranh trên những thị trường khó
tính.
Một đặc điểm nữa của thị trường nông sản là độ nhạy cảm thấp của nhu cầu
nông sản đối với giá của nó. Nếu doanh nghiệp xuất khẩu chủ động giảm giá của một
mặt hàng nông sản để kích thích thì nhu cầu của người tiêu dùng đối với mặt hàng
nông sản cũng không tăng lên nhiều như mức độ giảm giá. Chính vì vậy việc giảm giá
bán để kích thích nhu cầu tiêu dùng không hoàn toàn có hiệu quả cao như đối với một
số mặt hàng khác.
1.2.2. Nội dung cơ bản của hoạt động xuất khẩu hàng nông sản tại doanh nghiệp
Hoạt đông xuất khẩu khó khăn, phức tạp hơn rất nhiều so với việc bán hàng ở
trong nước vì nó liên quan tới rất nhiều vấn đề về : Ngôn ngữ, bản sắc văn hoá dân tộc,
sự vận động của thị trường, đồng tiền thanh toán, vận chuyển hàng hoá, pháp luật,
chính trị, tập quán, thông lệ quốc tế ….
Hoạt động xuất khẩu được tổ chức với nhiều nghiệp vụ từ điều tra nghiên cứu
thị trường nước ngoài, lựa chọn hàng hoá xuất khẩu, lập ra phương án kinh doanh cho
đến đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng ….Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ phải được
nghiên cứu thực hiện theo đúng thủ tục và phải tranh thủ nắm bắt những lợi thế đảm

đồng thời có điều kiện để thực hiện thành công các kế hoạch kinh doanh của mình.
Việc lựa chọn đối tượng giao dịch thường dựa trên cơ sở nghiên cứu các đặc
điểm sau:
 Một là, tình hình sản xuất kinh doanh của đối tác.  Hai là, khả năng về vốn cơ sở vật chất kỹ thuật của bên đối tác.
 Ba là, thái độ và quan điểm kinh doanh của đối tác (Có thiện trí trong quan hệ
làm ăn, không có biểu hiện hành vi lừa đảo…)
Để có thể tìm hiểu chính xác được bạn hàng làm đối tác, ngoài việc dựa trên những mối
quan hệ bạn hàng có sẵn, đã hiểu biết và có uy tín kinh doanh với nhau thì cần phải thông
qua các công ty tư vấn, các sở giao dịch, phòng Thương mại và Công nghiệp các nước có
quan hệ.
Trong trường hợp thị trường hoàn toàn mới lạ thì tốt nhất là doanh nghiệp nên thông qua
các đại lý hoặc các công ty uỷ thác xuất khẩu để giảm bớt chi phí cho việc thâm nhập vào
thị trường.
1.2.2.2. Công tác thu mua tạo nguồn hàng cho hoạt động xuất khẩu (đối với mặt hàng
nông sản, doanh nghiệp không thể tự mình sản xuẩt mà chỉ có thể tiến hành thu gom, mua
lại từ các hợp tác xã nông thôn hay hộ nông dân tại địa phương để tiến hành xuất khẩu)
Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá của một doanh nghiệp, một địa phương
hay một vùng có khả năng sản xuất được. Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu là một hệ
thống nghiệp vụ trong kinh doanh mua bán trao đổi hàng hoá nhằm tạo ra nguồn hàng cho
xuất khẩu, là toàn bộ hoạt động từ đầu tư, sản xuất kinh doanh, đến các nghiệp vụ nghiên
cứu thị trường, ký kết hợp đồng, vận chuyển bảo quản, sơ chế, phân loại nhằm tạo ra hàng
hoá có đầy đủ tiêu chuẩn cần thiết cho xuất khẩu
Công tác thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu bao gồm hệ thống các công việc
sau:
* Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu .
Đây là việc nghiên cứu khả năng cung cấp hàng xuất khẩu trên thị trường, được xác
định bởi nguồn hàng thực tế và nguồn hàng tiềm năng. Nguồn hàng thực tế là nguồn hàng

 Tiếp nhận bảo quản hàng xuất khẩu theo đúng cách thức.
1.2.2.3. Xây dựng phương án kinh doanh Sau khi đã thu thập được những thông tin cần thiết về những nhân tố ảnh hưởng đến
giao dịch xuất khẩu, doanh nghiệp phải lập ra phương án kinh doanh, trong đó có các
điểm sau:
 Đánh giá tình hình thị trường (thuận lợi, khó khăn)
 Lựa chọn mặt hàng kinh doanh .
 Lựa chọn thị trường , khách hàng, phương thức giao dịch.
 Lựa chọn thời điểm, thời gian giao dịch…
 Xác định mục tiêu xuất khẩu: giá bán, lượng bán…
 Các biện pháp để đạt được mục tiêu như: tiếp thị, quảng cáo…
1.2.2.4. Đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu
* Đàm phán
Đàm phán là một khâu quan trọng của hoạt động xuất khẩu, quyết định đến khả
năng, điều kiện thực hiện thành công hợp đồng xuất khẩu. Đồng thời nó cũng thể hiện khả
năng của doanh nghiệp trong lĩnh vực tìm kiếm bạn hàng và quan hệ bạn hàng tốt. Chính vì
vậy mà doanh nghiệp cần phải có những cán bộ có năng lực trong đàm phán để có thể đàm
phán thành công.
Năng lực đàm phán là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến tiến trình và kết quả đàm
phán. Nhìn chung nhà đàm phán ít nhất phải có được ba loại năng lực cơ bản đó là năng lực
chuyên môn, năng lực về am hiểu pháp lý và năng lực mạo hiểm.
Các hình thức đàm phán
 Đàm phán bằng thư, điện tín, điện thoại, fax…
 Đàm phán bằng trực tiếp gặp gỡ : Hình thức này thường được áp dụng khi có
hợp đồng lớn, cần trao đổi cặn kẽ, chi phí nhiều nhưng hiệu quả công việc cao
hơn.
* Ký kết hợp đồng .
Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn đến việc ký kết hợp đồng mua

ghi trong L/C.
Ký hợp đồng
xuất khẩu
Kiểm tra LC
Xin giấy
phép XK
Chuẩn bị
hàng hoá XK
Kiểm tra
hàng hoá XK
Thuê phương
ti
ện vận chuyển

Mua b
ảo hiểm
hàng hoá

Làm thủ tục
hải quan
Giao hàng
lên tàu

Thanh toán
Giải quyết
khiếu nại b) Xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá
Giấy phép xuất khẩu là một công cụ của Nhà nước dùng để quản lý hoạt động

khẩu Nghĩa vụ của chủ hàng là phải chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định đó, nếu
vi phạm thì sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
e) Mua bảo hiểm và thuê phương tiện vận chuyển
* Thuê tàu
Trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá, việc thuê tàu chở hàng
căn cứ vào 3 yếu tố sau:
 Những điều khoản của hợp đồng xuất khẩu hàng hoá.
 Đặc điểm của hàng hoá xuất khẩu .
 Điều kiện vận tải .
Các doanh nghiệp không có nhiều kinh nghiệm, thông tin thị trường về tình
hình thuê tàu thì nên uỷ thác cho một công ty vận tải nào đó để tránh những rủi ro
không đáng có.
* Mua bảo hiểm
Việc mua bảo hiểm hàng hoá đường biển là rất cần thiết vì thời gian chuyên chở
bằng đường biển dài, quãng đường lại xa nên rủi ro, tổn thất xảy ra là khó tránh khỏi.
Việc mua bảo hiểm được thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm. Có hai loại hợp
đồng bảo hiểm đó là hợp đồng bảo hiểm bao và hợp đồng chuyến.
Việc lựa chọn điều kiện bảo hiểm (thông thường là các điều kiện A, B, C) dựa
trên bốn căn cứ sau:
 Điều khoản hợp đồng .
 Tính chất hàng hoá
 Tính chất bao bì và phương thức xếp hàng.
 Loại tàu chuyên chở.
g) Kiểm tra hàng hoá Trước khi vận chuyển hàng lên tàu, nhà xuất khẩu có thể tự mình hoặc phối
hợp cùng với các Cơ quan kiểm dịch Nhà nước tiến hành kiểm tra số lượng, chất
lượng, trọng lượng, phẩm chất, an toàn thực phẩm của hàng hoá.
Cơ quan kiểm dịch Nhà nước có quyền thu hồi giấy phép tự kiểm nếu doanh nghiệp

Trong trường hợp có tranh chấp xảy ra, hai bên nên tìm cách hoà giải dựa trên
những điều khoản tranh chấp đã được qui định trong hợp đồng để duy trì quan hệ tốt
với nhau. Trong trường hợp không thể hoà giải được thì các bên phải giải quyết tranh
chấp của mình thông qua trọng tài quốc tế.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu nông sản
1.2.3.1. Nhân tố khách quan
* Môi trường chính trị, luật pháp
Yếu tố chính trị - luật pháp tạo nền tảng, hành lang pháp lý cho hoạt động xuất
khẩu của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng đến khả năng mở rộng phạm vi thị trường, dung
lượng thị trường cũng như các cơ hội kinh doanh hấp dẫn trên thị trường quốc tế.
Sự bất ổn về chính trị trong nước sẽ làm cản trở sự tăng trưởng kinh tế, kìm hãm
sự phát triển của khoa học kỹ thuật, gây khó khăn cho việc cải tiến công nghệ, tăng chất
lượng sản phẩm xuất khẩu.
Các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của chính phủ có thể làm
tăng sự liên kết giữa các thị trường và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu như:
 Chiến lược hướng về xuất khẩu: với chiến lược này, Nhà nước sẽ có các chính
sách phát triển cụ thể cho từng giai đoạn nhằm khuyến khích và hỗ trợ các doanh
nghiệp tham gia xuất, khẩu đặc biệt là với các mặt hàng được khuyến khích xuất
khẩu như nông sản. Việc khuyến khích hoạt động xuất khẩu được thể hiện ở các
chính sách, các biện pháp liên quan đến tạo nguồn hàng cho xuất khẩu, tạo môi
trường thuận lợi cho xuất khẩu, hỗ trợ tài chính và hỗ trợ tiếp thị sản phẩm ra thị
trường nước ngoài cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status