Tìm hiểu quá trình phát triển của hoạt hình 3d và cách thức xây dựng các plug in hỗ trợ cho phần mềm 3d maya - Pdf 11



Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ thông tin


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT
NGHIỆP
Đề tài: Tìm hiểu quá trình phát triển của hoạt hình 3D và cách
thức xây dựng các plug-in hỗ trợ cho phần mềm 3D Maya Giáo viên hướng dẫn: Lê Tấn Hùng
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thương Huyền
Lớp: CNPM – K47
Hà Nội, 2/2007
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thương Huyền – Lớp Công Nghệ Phần Mềm K47
1

Hình 3 - Gertie, the dinosaur 5
Hình 4 - Steamboat Willie 6
Hình 5 - Toy story 1995 7
Hình 6 - Tron 1982 7
Hình 7 - Final Fantasy X 7
Hình 8 - Chuyện hai chiếc bình (2003) 9
Hình 9 - Voi và vẹt (2004) 9
Hình 10 - Giấc mơ của ếch xanh (2005) 11
Hình 11 - Happy feet (2006 ) 15
Hình 12 - The Simpsons 16
Hình 13 - Wallace & Gromit 16
Hình 14 - Lưu đồ thực hiện 17
Hình 15 – Storyboard 18
Hình 16 - Hình lục giác và khi kéo dài 21
Hình 17 - Đường ống lục giác đã được đánh bóng 22
Hình 18 - Màu sắc trên một khối cầu khi không có kết cấu áp lên 24
Hình 19 - Kết cấu màu sắc trên khối cầu 24
Hình 20 - Kết cấu màu sắc và kết cấu va chạm trên khối cầu 24
Hình 21 - Kết cấu màu sắc, kết cấu va chạm và kết cấu vô hướng trên khối cầu 25
Hình 22 - Mô hình chiếu sáng phẳng trên một khối cầu 26
Hình 23 - Cars (2006) 27
Hình 24 - Cảnh khi được chiếu sáng bằng nguồn sáng vô hạn 28
Hình 25 - Cảnh khi được chiếu sáng bằng nguồn sáng vô hướng 28
Hình 26 - Cảnh khi được chiếu sáng bằng nguồn sáng rọi 28

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thương Huyền – Lớp Công Nghệ Phần Mềm K47
3
1. Lịch sử xuất hiện và quá trình phát triển của hoạt hình 3D
trên thế giới
Điều gì đã mang lại cho những bức ảnh tĩnh một sức sống mới? Điều gì đã
tạo nên một bước chuyển biến mới trong lĩnh vực điện ảnh thông qua một cách
thể hiện sáng tạo và độc đáo? Cái gì đã tạo cho những người yêu điện ảnh một
cảm giác vừa hư vừa thực khi xem phim? Đó chính là chuyển động. Chuyển
động ở đây không bao hàm những khái niệm chuyển động chung chung mà
chính là cách thức tạo ra chuyển động cho những đối tượng tưởng như không
bao giờ có thể cử động được. Từ đó sản sinh ra một ngành nghệ thuật không
thể tách rời với kỹ thuật: Animation. Hoạt hình, bao gồm cả hoạt hình vẽ tay
cũng như hoạt hình có sử dụng đồ họa máy tính, có một lịch sử dài và phong
phú kéo dài trong gần một thế kỷ của những kinh nghiệm và sự tiến bộ.
Để hiểu rõ hơn hoạt hình 3D xuất hiện như thế nào, chúng ta phải tìm hiểu
về những hình thức hoạt hình trước đó. Nếu không có những hình thức hoạt
hình này thì chúng ta không thể có một ngành công nghiệp sản xuất hoạt hình
3D mạnh mẽ như hiện nay.
Ban đầu, người ta đã phát triển một kỹ thuật của hoạt hình vẽ trên giấy
được gọi là Phenakistoscope. Phát minh này cho phép những bức vẽ đơn giản
dịch chuyển liên tiếp nhau và sẽ trông giống như là chuyển động thật vậy. Hình 1 - Phenakistoscope – Joseph Plateau, 1832

Bước phát triển tiếp theo trước khi chúng ta đạt được kỹ thuật hoạt họa như
hiện nay do công của J.Stuart Blackton. Ông đã tạo ra một phim hoạt hình
ngắn gọi là “Những pha hài hước của những khuôn mặt cười” – “Humorous
phases of funny faces”. Bộ phim này được tạo ra bằng các khuôn mặt vẽ đơn
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thương Huyền – Lớp Công Nghệ Phần Mềm K47
5

Hình 4 - Steamboat Willie

Tính từ thời điểm này về sau, chúng ta có thể thấy các phim hoạt hình được
tạo ra ngày càng nhiều, riêng hãng Disney đã sản xuất ra hơn 30 bộ phim hoạt
hình dài tập với một số lượng bản vẽ không thể đếm hết được.
Các hãng phim hoạt hình khác cũng đã tạo ra những phim hoạt hình của
riêng họ như là “The Jetsons” và “Flintstones”.
Nhưng vào năm 1995, một sự kiện diễn ra đã thay đổi truyền thống làm
phim hoạt hình trong nhiều năm. Đó là sự ra đời của phim hoạt hình “Toy
story”, bộ phim là một thành công vang dội khi là phim hoạt hình 3D đầu tiên
và kéo dài trong 1 giờ 20 phút. Nhưng trước khi bộ phim này được trình chiếu,
có một số hãng phim đã sử dụng máy tính để tạo ra những hình ảnh trong phim
của họ như “Tron”, bộ phim có 15 phút là do những hình ảnh được tạo ra bằng
máy tính, là một trong những bộ phim đầu tiên sử dụng kỹ thuật này.

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thương Huyền – Lớp Công Nghệ Phần Mềm K47
7

Hình 5 - Toy story 1995

Hình 6 - Tron 1982

Cho đến thời điểm này, bao nhiêu bộ phim hoạt hình 3D đã ra đời như “Toy
story 2”, “Shrek”, “Shrek 2”, “Final Fantasy” nhưng những mốc nổi bật
đánh giá những chặng đường phát triển của phim hoạt hình 3D luôn ghi dấu
tên tuổi những hãng phim như Warner Brothers, Disney, và những hãng
phim này xứng đáng là một phần không thể thiếu của lịch sử sản xuất phim
hoạt hình.


làm phim khi làm phim hoạt hình cho thiếu nhi. Nếu biết rằng, một nước có
dân số ít hơn và nhiều nét văn hóa tương đồng với nước ta như Nhật Bản mà
có tới 435 hãng phim hoạt hình, mỗi tuần sản xuất từ 80 đến 100 phim (khoảng
3.500 phim mỗi năm), chiếm 90% phim hoạt hình phục vụ trẻ em trong nước
và xuất khẩu tràn ngập thế giới, thì số lượng phim hoạt hình của ta hiện nay
quả là nhỏ bé. Đó là chưa kể, phim hoạt hình Việt Nam với những nhân vật
phản diện là cáo, chó sói, chuột đã quá quen thuộc đến nhàm chán đối với
khán giả nhỏ tuổi. Những câu chuyện mang tính chất ngụ ngôn đơn giản, khiên
cưỡng, lộ liễu đến mức các em chưa xem đã biết. Những cố gắng đổi mới của
các nhà làm phim Việt Nam luôn được ghi nhận và sự kiện đáng ghi nhớ đầu
tiên là vào năm 2003 khi ra mắt bộ phim hoạt kỹ thuật 3D đầu tiên tại Việt
Nam. Bộ phim mang tên “Chuyện hai chiếc bình” do hãng phim tư nhân
AREKA (thuộc công ty người cùng phát triển doanh nghiệp B&C, chuyên
nghiên cứu và phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin trong đời sống)
hoàn thành ngày 25/7/2003. Đây là bộ phim hoạt hình đầu tiên của Việt Nam
áp dụng kỹ xảo 3D và đã tham dự liên hoan phim ngắn toàn quốc vào đầu
tháng 8/2003. Bộ phim dài 12 phút và từng được phát hành đĩa VCD, DVD và
phát sóng trên VTV nhưng rồi cũng rơi vào quên lãng vì doanh thu của bộ
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thương Huyền – Lớp Công Nghệ Phần Mềm K47
9
phim không đủ gây tiếng vang để thôi thúc nhiều người đầu tư vực dậy nền
hoạt hình Việt Nam. Hình 8 - Chuyện hai chiếc bình (2003)

Bộ phim có kết cấu đơn giản, tiết tấu nhanh. Bộ phim còn gợi cho người
xem nhều cảm xúc về chân lý và giá trị đích thực của sự tồn tại, về những ứng
xử mang tình người trong những khoảnh khắc khó khăn trong cuộc sống.

tìm kho báu, đá bóng, chơi bowling, trượt băng, vẽ tranh ; hay những cách
giải quyết rất trẻ con trước một tình huống nào đó trong cuộc sống.
“Voi và vẹt” là bộ phim hoạt hình ba chiều thứ hai được công bố tại Việt
Nam và là bộ phim hoạt hình ba chiều được phát hành rộng rãi lần đầu tiên (bộ
phim thứ nhất mới chỉ trình chiếu trong liên hoan phim). Con số hơn 100.000
đĩa VCD bán được trong thời gian phát hành là 15 ngày đầu tiên đã đánh dấu
thành công bước đầu không hề nhỏ của “Voi và vẹt”
Mãi đến hơn một năm sau, năm 2005, hãng phim hoạt hình Việt Nam phối
hợp với hãng phim Giải Phóng đã mạnh dạn đầu tư công nghệ để thực hiện bộ
phim 3D “Giấc mơ của ếch xanh”. Đây là một bộ phim ghi nhận công sức của
nhóm làm phim trong 1 năm trời – một thời gian tương đối dài so với thời gian
làm phim của các nước trên thế giới. Nhưng bù lại, bộ phim này đạt được một
kỹ thuật làm phim khá điêu luyện và đã tạo nên những cảnh có hiệu ứng rất
đẹp.

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thương Huyền – Lớp Công Nghệ Phần Mềm K47
11

Hình 10 - Giấc mơ của ếch xanh (2005)
Sau “Chuyện hai chiếc bình” và “Voi và vẹt”, “Giấc mơ của ếch xanh” là
một bộ phim hoạt hình 3D khá chuyên nghiệp. Các nhà làm phim đã đánh giá
nó giống như một công trình nghiên cứu hơn là một công trình đầu tư bởi tính
thử nghiệm của hãng phim Giải Phóng, viện phim Việt Nam và đạo diễn Hà
Bắc trong việc áp dụng một công nghệ làm phim mới. Với những cố gắng
trong quá trình thực hiện, bộ phim đã thành công ngoài dự kiến với sự kết hợp
tài tình giữa kỹ xảo điện ảnh và hoạt hình, giúp tạo nên những hình ảnh 3D đẹp
và sống động. Đặc biệt, phần âm thanh mang đậm tính dân tộc và được dàn
dựng theo lối cổ truyền, bộ phim không chỉ thu hút được sự yêu thích của các
khán giả nhỏ tuổi mà ngay cả những khán giả khó tính nhất cũng cảm thấy hài

hoạ sĩ hoạt hình phải thực hiện hàng ngàn bức vẽ, thủ công và phải mất rất
nhiều công sức và thời gian. Từ hình ảnh do người hoạ sỹ vẽ ra cho đến khi trở
thành hình ảnh trong phim phải qua rất nhiều công đoạn (vẽ động tác, làm
sạch, xen kẽ, đi nét, tô mầu ) nên dễ xảy ra các lỗi kỹ thuật như: hình không
khớp, rung, mầu tô không đều Thêm vào đó, các động tác máy camera trong
phim khá hạn chế, phần kỹ xảo trong phim sẽ rất khó thực hiện. Kỹ thuật này
được áp dụng trong quá trình sản xuất phim hoạt hình ở Việt Nam trong một
thời gian dài và chỉ mới được thay đổi trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, cách
thức sản xuất phim hoạt hình theo kiểu truyền thống này không thể thay đổi
một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, việc ứng dụng kỹ thuật 3D vào làm
demo, quảng cáo, đồ họa kiến trúc đã rất phổ biến ở Việt Nam từ lâu nhưng
mãi đến năm 2003, hãng AREKA mới tiên phong trong việc dùng kỹ thuật 3D
vào sản xuất phim hoạt hình. Với kỹ xảo 3D, toàn bộ các công đoạn làm phim
hoạt hình sẽ được thực hiện trên máy vi tính, sử dụng lợi thế của không gian ba
chiều để tạo mô hình và bối cảnh cho nhân vật. Ưu điểm lớn nhất của kỹ thuật
3D là hoàn toàn có thể dựng nên một trường quay ảo với bối cảnh, ánh sáng,
camera thậm chí có thể thực hiện được những cảnh mà phim truyện điện ảnh
cũng không thực hiện được. Những người làm phim sẽ hoàn toàn chủ động xử
lý tình huống để tạo ra những hình ảnh sinh động. Thời gian để làm một phim
hoạt hình ngắn hơn, lực lượng sản xuất cũng ít hơn và tất nhiên kinh phí sẽ
thấp hơn so với một phim hoạt hình thông thường. Chắc chắn công nghệ làm
phim 3D sẽ đem đến một bước tiến mới trong kỹ thuật làm phim hoạt hình Việt
Nam nói riêng cũng như ở các thể loại phim khác nói chung. Và hãng phim
hoạt hình của Bộ văn hóa – thông tin đã có những việc đầu tư thích hợp để ứng
dụng công nghệ này vào quá trình làm phim. Vào quý I/2004, hãng phim này
đã cho lắp đặt, vận hành hệ thống máy móc làm phim 3D. Với hệ thống thiết bị
hiện đại này, một số công đoạn thủ công trước đây sẽ được thực hiện trên máy
vi tính như: tô màu, vẽ động, phối hợp giữa phông và cảnh động. Máy móc còn
giúp các nhà làm phim thực hiện những cảnh kỹ xảo, tạo hiệu quả nghệ thuật
tối đa, đem lại những bất ngờ mới cho người xem. Bên cạnh kỹ thuật 3D, công

mới, những hình ảnh trong phim đã được nâng cao rất nhiều về chất lượng
nhưng vẫn chưa thoát được điểm yếu về “nội dung”.
Vấn đề kịch bản có thể là vấn đề muôn thủa của điện ảnh nói chung và hoạt
hình nói riêng. Kịch bản hoạt hình, với đối tượng chính là trẻ em, lẽ ra phải
hướng về trẻ em. Nhưng có thể các nhà làm phim đã không thử đặt câu hỏi trẻ
em thực sự trông chờ và đòi hỏi gì ở một bộ phim hoạt hình. Kho tàng phim
hoạt hình thế giới rộng lớn như vậy nhưng các nhà làm phim hoạt hình Việt
Nam vẫn chưa chịu học hỏi cách viết kịch bản sao cho vừa hấp dẫn vừa độc
đáo chứ không thể chỉ dựa vào kho tàng truyện cổ tích dân gian. Kho tàng
truyện cổ dân gian khá là lớn nhưng liệu còn tính hấp dẫn của bộ phim không
khi mới xem phần đầu đã đoán ra được phần kết của câu chuyện? Yếu tố sáng
tạo, giải trí, hài hước và thư giãn ít khi được để ý đến. Thay vào đó, các nhà
làm phim cứ cho rằng việc “dạy dỗ” trẻ con là một điều tối cần thiết nên cứ
nhất định đưa những bài học đạo đức vào phim. Thực ra việc làm này rất tốt và
rất đáng được hoan nghênh nhưng vì việc chuyển tải một cách khô khan và
gượng ép nên hiếm khi đến được đối tượng trẻ em.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thương Huyền – Lớp Công Nghệ Phần Mềm K47
14
Hiện nay, Trung Tâm Sản Xuất Phim Hoạt Hình thuộc VFC đang tập trung
thực hiện 100 tập của bộ phim hoạt hình lịch sử xoay quanh đất và người
Thăng Long – Hà Nội. Nhưng liệu đây sẽ là một bộ phim có khán giả không
khi mà Trung Tâm Sản Xuất Phim Hoạt Hình này chưa từng sản xuất được một
bộ phim lẻ hấp dẫn, thành công về doanh thu? Studio Pixar đã từng chỉ sản
xuất những bộ phim lẻ thành công trước khi họ có quyết định chuyển sang làm
những phim hoạt hình bộ. Vì thế, các nhà sản xuất phim hoạt hình cần phải
xem xét kỹ trước khi tiến hành bởi nếu không thành công, bộ phim một sự lãng
phí rất lớn về chi phí và nhân lực.
Để khắc phục những hạn chế trên đây và nhất là những “khoảng trống” về
phim thiếu nhi của điện ảnh Việt Nam, trước hết cần đột phá vào hai khâu quan

những người tham gia. Và nhất là một bộ phim 3D lại càng phải có sự phối hợp
chặt chẽ hơn nữa. Nhưng một thực tế hiện nay là tồn tại hai cách nhìn khá mâu
thuẫn trong nhóm làm phim. Những người làm nghệ thuật và những người thực
hiện đều xem trọng vai trò của mình lớn hơn vai trò kia. Nhưng nghệ thuật
không thể làm được gì, không thể thể hiện được ý tưởng của mình khi không
có kỹ thuật hỗ trợ. Và kỹ thuật cũng chỉ là vô hồn khi không có nghệ thuật dẫn
đường. Sự phát triển chậm chạp của hoạt hình 3D Việt Nam một phần là do
nguyên nhân này. Và để khắc phục vấn đề này không có cách nào khác hơn là
phải có sự hiểu nhau và thông cảm với nhau giữa những thành viên làm phim.
Hoạt hình 3D Việt Nam chỉ mới trải qua đoạn đầu của chặng đường phát
triển. Khó khăn và thách thức ban đầu lúc nào cũng có nhiều, nhưng chỉ có
việc vượt qua những khó khăn này mới có thể đưa hoạt hình Việt Nam đạt
được những thành công lớn hơn để đáp ứng được lòng mong mỏi và sự ủng hộ
của người hâm mộ Việt Nam.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thương Huyền – Lớp Công Nghệ Phần Mềm K47
16
Phần II – Quy trình và các kỹ thuật bổ sung cho
quá trình làm phim hoạt hình 3D
1. Quy trình làm phim hoạt hình 3D
Hoạt hình hiện nay được chia thành 3 loại chính dựa vào cách thức thực
hiện: dạng cel, stop-motion và hoạt hình 3D có sử dụng máy tính.
Hoạt hình dạng cel (được lấy tên từ loại giấy celluloid thường được sử dụng
khi vẽ các hình ảnh) là hoạt hình 2D. Những hình ảnh liên tiếp được vẽ bằng
tay bởi họa sĩ thông qua một bề mặt phẳng nào đó hoặc thông một môi trường
máy tính. “Gia đình Simpsons” là một ví dụ về loại phim hoạt hình này. Hình 12 - The Simpsons


là những bức ảnh mô tả tập hợp các bánh răng và răng thì những bản phác thảo
sẽ mô tả những răng cưa sẽ trông như thế nào, chúng sẽ được kết hợp lại như
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thương Huyền – Lớp Công Nghệ Phần Mềm K47
18
thế nào cũng như những lưu ý đến màu sắc và ánh sáng. Nếu kết quả của dự án
là một nhân vật thì những phác thảo là những đặc điểm của nhân vật đó. Nếu
kết thúc dự án là một phim hoạt hình, có thể tiết kiệm được rất nhiều thời gian
cho các cảnh phim nếu một storyboard hiệu quả quan tâm đến góc quay của
camera, thời gian quay và hướng nhìn của bố cục. Hình 15 là một storyboard
của một dự án thực tế Hình 15 – Storyboard

Sau khi khuôn dạng của mô hình và bố cục của cảnh được thực hiện trên
giấy, quá trình mô hình hóa được tiến hành. Khi làm trong thực tế, chúng ta dễ
dàng vướng vào những khó khăn như cách thức tạo nếp nhăn của da ở dưới
mắt hay những vết sấn sùi trên bề mặt của bánh răng. Những đặc điểm này
không thể bị che dấu bằng cách làm tối đi. Mô hình hóa là một quá trình khá
khó khăn và rất thú vị nhưng đó cũng chỉ là một phần của một dự án hoàn
chỉnh. Rất nhiều người dành rất nhiều thời gian chỉ để tạo ra những mô hình
hoàn thiện và không đủ thời gian dành cho việc liên kết hay tạo chuyển động
cho mô hình và kết thúc là có rất nhiều mô hình nhưng dự án lại không hoàn
thành. Việc này rất tốt nếu công việc của bạn chỉ là mô hình hóa, nhưng lại là
một sự thất bại nếu mục đích của bạn rõ ràng hơn. Phần sau của mô hình có thể
được nhìn thấy hay không? Mô hình hay máy quay có chuyển động khi quay
phim hay không? Ánh sáng có rõ ràng hay không? Loại mô hình nào sẽ được
thực hiện với loại kết cấu nào? Những câu hỏi này cần được trả lời trước khi
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

cấu là cần thiết.
Bây giờ, nếu yêu cầu của dự án vẫn còn, quá trình render hoàn chỉnh là cần
thiết. Nếu dự án là một phim hoạt hình, cần đảm bảo chắc chắn rằng storyboard
được thực hiện tốt và dễ hiểu. Nếu phim hoạt hình yêu cầu phải có sự đồng bộ
giữa chuyển động và âm thanh thì xây dựng một bảng liệt kê dope sheet như
bảng sau đây là một bước quan trọng. Tạo ra bảng này để ghép nối các yêu cầu
của bạn. Bảng liệt kê là một cách thức cơ bản để ánh xạ chuyển động và âm
thanh trên những frame cần thiết.

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thương Huyền – Lớp Công Nghệ Phần Mềm K47
20
Sau khi bạn đã vạch ra cách thức thời gian làm việc, đã đến lúc để đưa thời
gian vào dự án của bạn. Hoạt hình đôi khi được gọi là hoạt hình 4D bởi có thể
xem thời gian là chiều thứ 4. Cách thức hoạt hình của bạn diễn ra và cách thức
thiết kế của bạn chuyển động là những đặc điểm được đưa ra cho hoạt hình.
Khi tất cả các cảnh chính của phim được hoàn thành (có thể sử dụng
playblasts thay cho render), bạn sẽ có nhiều đoạn phim ngắn phụ thuộc vào số
lượng các cảnh quay được định trước trong storyboard. (Playblasts là một kỹ
thuật đưa ra các đoạn phim không render cho phép bạn kết hợp một tập các
frame với nhau một cách nhanh chóng mà không cần thời gian xử lý render).
Sau đó, cần phải miêu tả phần nào của phim hoạt hình thật sự cần thiết để dẫn
dắt câu chuyện và phần nào cần để làm nền cho bộ phim. Chúng ta thường đam
mê với dự án của mình, đặc biệt là khi chúng ta sử dụng một kỹ thuật mới mà
chúng ta đã học được. Tuy nhiên, người xem lại ít khi chia sẻ điều đó với các
kỹ thuật mới và thường chán với những thành phần mới mà chúng ta thêm vào
mà không đóng góp gì vào diễn biến của câu chuyện. Lập kế hoạch về một số
cảnh quan trọng để biên tập. Một quá trình biên tập tốt không thể được thực
hiện một cách nhanh chóng và dễ dàng, và thường cần nhiều lần biên tập khác
nhau để cắt bớt những đoạn phim không cần thiết. Trong quá trình biên tập,

Và bước cuối cùng của quy trình là xác định được lúc nào cần dừng lại.
Luôn luôn có một việc gì đó của dự án cần phải làm tốt hơn nhưng cũng cần
phải biết rằng sẽ có những phim khác để làm, những chuyển động cần phải
nghiên cứu và những ý tưởng cần phải thực thi chứ không thể chỉ tập trung vào
một dự án nào đó.
2. Một số công cụ trong quá trình sản xuất phim hoạt hình
Bộ mô hình hóa
Công cụ chủ yếu dùng để mô hình là bộ mô hình hóa (modeler). Bộ mô
hình hóa là một chương trình phần mềm giúp cho những người làm phim hoạt
hình tạo hình dáng 3D cho các đối tượng. Phần lớn những bộ mô hình hóa
cung cấp cho những nhà làm phim những hình dạng đơn giản như hình vuông,
hình tam giác, hình cầu và hình lập phương. Những hình này có thể được biến
đổi và được kết hợp lại mới nhau thành những đối tượng phức tạp hơn. Những
hình dạng đơn giản này được gọi là những hình dạng nguyên thủy bởi vì chúng
là những khối cơ bản để xây dựng nên những đối tượng 3D trong máy tính. Ví
dụ, một hình tròn có thể xoay tròn xung quanh một đường tròn khác để tạo nên
một cái bánh rán. Một hình lục giác có thể được kéo dài ra để tạo thành một cái
ống.

Hình 16 - Hình lục giác và khi kéo dài

Kết quả được hiển thị trong một cửa sổ trên màn hình máy tính. Cửa sổ này
được gọi là khung nhìn bởi vì nó được dùng để quan sát thế giới ảo 3D. Khi
người tạo hình xây dựng những đối tượng 3D, thông qua khung nhìn có thể
quan sát thấy đối tượng bao gồm những đường kẻ có màu sắc liên kết với
những đường có màu khác để định hình hình dạng của đối tượng. Chúng được
gọi là khung dây (wireframe).
Khung nhìn của camera có thể được dịch chuyển hoặc xoay để nhìn đối
tượng ở nhiều góc độ khác nhau. Khi các đối tượng có độ phức tạp cao như là
máy bay hoặc một phố mua bán được tạo ra, phương pháp quan sát khung dây

kế những hình dạng tự do về kết cấu. Nhưng dù sao cũng cần phải chú ý rằng
dù với bất kỳ phương pháp nào thì đều có thể tạo ra những hình dạng mà ta
tưởng tượng.
Nếu không chú ý đến phương pháp mô hình hóa được sử dụng, khi một đối
tượng 3D ở trong chế độ đánh bóng, nó sẽ xuất hiện dưới dạng hình dạng rắn
và có thể được đặt đằng trước hoặc đằng sau một đối tượng rắn khác trong một
cảnh 3D.
Các đặc điểm khác trong một chương trình phục vụ cho mô hình hóa cho
phép các nhà làm phim uốn cong, cuộn lại, kéo ra, nén vào và biến đổi các hình
dạng theo nhiều cách khác nhau. Những kỹ năng này được phát triển theo thời
gian, tích lũy và kết hợp lại để phù hợp với từng phong cách làm việc của các
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thương Huyền – Lớp Công Nghệ Phần Mềm K47
23
nhà làm phim và nâng cao khả năng cũng như có thể thể hiện hết những sáng
tạo của các nhà làm phim.
Bộ biên tập chất liệu
Một công cụ rất quan trọng khác được cung cấp trong các gói phần mềm về
3D là bộ biên tập chất liệu. Chất liệu đề cập đến ở đây là màu sắc, kết cấu
(texture) và các thuộc tính khác dùng để xác định các đặc tính của bề mặt đối
tượng 3D.
Có hai phương pháp thường dùng nhất để mô tả màu sắc là hệ RGB (Red,
Green, Blue) và hệ HSL (Hue, Saturation,Luminance). Với hệ RGB, nhà làm
phim có thể lựa chọn màu sắc thông qua tỷ lệ của màu đỏ, xanh lá cây và xanh
sẫm. Ví dụ, 100% màu đỏ, 85% màu xanh lá cây và 0% màu xanh sẫm sẽ tạo
nên màu vàng tươi.
Hệ HSL phổ biến hơn với những người làm nghệ thuật bởi vì nó hoạt động
giống như một bảng màu vẽ. HSL cũng được xem như gồm hệ HSB
(Brightness) hay hệ HSV (Value) trong rất nhiều phần mềm. Luminance,
Brightness và Value ở đây đều có nghĩa giống nhau là độ chói. Với hệ HSL,


Hình 19 - Kết cấu màu sắc trên khối cầu

Một kết cấu va chạm là một bức ảnh giống như kết cấu màu sắc ngoại trừ
việc nó dùng những cái bóng đổ màu xám để biến đổi độ thô ráp có thể nhìn
thấy được của một bề mặt. Mức độ thô ráp có thể nhìn thấy được – hay còn gọi
là mức độ va chạm – có thể thay đổi được. Việc có thể nhìn thấy được là một
vấn đề hết sức quan trọng bởi vì kết cấu va chạm không thực sự tạo ra một bề
mặt mấp mô. Ngay khi máy tính tính toán một bức ảnh hoạt hình khi kết thúc,
phần mềm sẽ phân tích kết cấu va chạm khi được ánh xạ lên bề mặt. Phần mềm
sẽ thêm những điểm sáng và những bóng đổ lên bề mặt tương ứng với ánh sáng
và các vùng tối của kết cấu va chạm. Cách thức phần mềm định vị trí các điểm
sáng và các bóng đổ phụ thuộc vào hướng và cường độ của nguồn sáng khi
chiếu lên bề mặt. Hình 20 - Kết cấu màu sắc và kết cấu va chạm trên khối cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status