Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe trong thay đổi hành vi
Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền
thông là một kiểu tương tác trong đó có ít nhất trên hoặc bằng hai tác
nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Ở dạng
đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận. Ở dạng
phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận.
Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một
người hiểu những gì người khác nói, ra hiệu, hay viết; nắm bắt ý nghĩa
của các thanh âm và biểu tượng, học được cú pháp của ngôn ngữ.
Có nhiều định nghĩa trong lĩnh vực truyền thông, bao gồm: truyền thông
không bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng.
Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và
điệu bộ. Khoảng 93% “ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ
người khác là qua nét mặt và tông giọng, 7% còn lại là từ những lời nói
mà chúng ta nghe được.
Truyền thông bằng lời được thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp
bằng ngôn từ tới người khác.
Truyền thông biểu tượng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa
và thể hiện một ý tưởng nhất định bằng một hình ảnh, biểu tượng. ví dụ:
biểu tượng cánh hoa sen của Việt Nam Airline.
Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức và mục
tiêu. Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh
nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, câu hỏi. Hình thức
thể hiện như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình.
Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính
người/tổ chức gửi đi thông tin.
Giáo dục sức khỏe (Health Education)
Giáo dục sức khỏe (GDSK) cũng giống như giáo dục chung, đó là quá
trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con
người. Phát triển những thực hành lành mạnh theo ý muốn, mang lại tình
trạng sức khỏe tốt nhất có thể được cho con người. GDSK cung cấp các
viên của mình mà còn học từ học viên của mình. Thu nhận thông tin phản
hồi là vấn đề hết sức quan trọng mà người làm công tác giáo dục sức
khỏe cần phải hết sức coi trọng, để kịp thời điều chỉnh bổ sung những
thông tin thiếu sót làm cho các chương trình giáo dục sức khỏe thêm sinh
động và thu hút sự quan tâm của cộng đồng.
GDSK không chỉ là cung cấp các thông tin chính xác , đầy đủ về sức
khỏe bệnh tật mà còn nhấn mạnh đến các yếu tố khác ảnh hưởng đến
hành vi sức khỏe con người như: nguồn lực hiện có, môi trường sống, ảnh
hưởng môi trường lao động việc làm, yếu tố hổ trợ xã hội, kỹ năng tự
chăm sóc sức khỏe Vì thế GDSK sử dụng nhiều phương pháp khác nhau
để giúp cho mọi người hiểu được hoàn cảnh riêng của họ và chọn các
hành động bảo vệ, tăng cường sức khỏe phù hợp. Cũng từ định nghĩa trên
cho thấy giáo dục sức khỏe là một quá trình nên cần tiến hành thường
xuyên, liên tục, lâu dài bằng nhiều biện pháp khác nhau chứ không phải
là một công việc có thể làm một lần là xong. Vì vậy, để thực hiện công
tác giáo dục sức khỏe chúng ta phải có sự đầu tư tài lực, vật lực, nhân lực
thích đáng, hết sức kiên trì thì mới đem lại hiệu quả cao.
Mọi người đều công nhận rằng những vấn đề sức khỏe có nhiều nguyên
nhân đa dạng và chúng tương tác lẫn nhau. Những nguyên nhân này có
thể là những hành vi sức khỏe cá nhân, những điều kiện môi trường,
những chính sách y tế không phù hợp , giảm các chương trình y tế hoặc
các dịch vụ y tế . Một ví dụ cụ thể về những nguyên nhân chết do ung thư
phổi bao gồm: Hút thuốc - thuộc hành vi sức khỏe cá nhân, ô nhiễm
không khí - thuộc yếu tố môi trường, thiếu các chương trình y tế công
cộng do đó các chương trình kiểm tra hút thuốc không được thực hiện,
sàng lọc và chuyển đi điều trị không đầy đủ do thiếu các dịch vụ y tế.
Mục tiêu giáo dục sức khỏe, Giáo dục sức khỏe góp phần thực hiện một
trong những quyền của con người là quyền được chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe. Mục tiêu cơ bản của giáo dục sức khỏe là giúp cho mọi người:
- Xác định những vấn đề và nhu cầu sức khỏe của họ.
có kiến thức tối thiểu và cơ bản nhất để họ có thể tự phòng bệnh cho
mình, cho gia đình, người thân và cho xã hội; để họ có thể xử trí đúng khi
bị ốm đau, bệnh tật và để họ thay đổi những cách nghĩ và nếp sống có hại
cho sức khoẻ. Với vai trò quan trọng như thế, trong các hoạt động chăm
sóc sức khoẻ nhân dân nhất là tại tuyến y tế cơ sở, công tác truyền thông
giáo dục sức khoẻ được xếp vào Chuẩn 1, Chuẩn quốc gia về y tế theo
Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT của Bộ Y tế. Y tế cơ sở có điều kiện
gần dân, sát dân, là tuyến đầu trong phòng chống dịch bệnh nên việc củng
cố các hoạt động thuyền thông GDSK tại tuyến y tế cơ sở có ý nghĩa lớn
trong công tác chăm sóc và BVSK nhân dân.
Các phương tiện truyền thông đại chúng sử dụng hiệu quả
1. TV truyền hình
Đây là phương tiện chuyển đạt tin tức rất hữu hiệu tới mọi người. Lợi
điểm của truyền hình là gửi đi cả lời nói lẫn hình ảnh, khiến cho người
coi tiếp thu dễ dàng và có ảnh hưởng lâu dài, vì người xem dễ thấy và sẽ
nhớ mãi.
2. Radio
Rất phổ biến, tới được nhiều thính giả với đầy đủ chi tiết và chi phí cũng
ít hơn là với TV. Dễ nghe, dễ sử dụng, linh hoạt có thể nghe ở mọi nơi.
3. Báo, tạp chí
Qua báo chí, độc giả có đầy đủ các loại tin tức, đọc lúc nào cũng được.
4. Internet, các trang web, blogger
Đây là phương tiện truyền thông rất phổ biến hiện nay, ai cũng có thể sử
dụng để thu nhận và truyền đạt tin tức. Người sử dụng có thể dùng bất cứ
lúc nào, gửi đi bất cứ tin tức gì. Tuy nhiên, các tin tức nhiều khi không
được kiểm chứng tính cách xác thực, gây hoang mang, ngộ nhận cũng
như làm phiền lòng người nhận.
5. Các sản phẩm tuyên truyền khác
Tờ bướm, tờ rơi, bảng quảng cáo, bích chương, bích báo, bản tin luân lưu
nội bộ cũng như âm nhạc, hình ảnh, nét vẽ minh họa…
Truyền thông giữ một vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe
của nhân dân. Đó là điều quan tâm hàng đầu của ngành y tế, qua công tác
kiểm tra giám sát, đánh giá về chuẩn I của chuẩn quốc gia về y tế xã tại
một số xã trong tỉnh, chúng tôi nhận thấy rằng còn một tỷ lệ người dân
chưa hiểu biết, không nắm bắt được các kiến thức thông thường về phòng
chống dịch bệnh, rèn luyện sức khỏe, bảo vệ môi trường…. Cần tạo thói
quen luyện tập thể dục, thể thao hàng ngày, chọn loại hình phù hợp với
sức khoẻ bệnh và vệ sinh môi trường có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa
đáp ứng được so với nhu cầu. Cần phải ý thức cao vệ sinh môi trường,
bảo vệ môi trường, tích cực trồng cây xanh quanh nhà và trên các đường
phố để tạo ra bầu không khí trong lành. Vệ sinh an toàn thực phẩm, xây
dựng hố xí vệ sinh xa nơi nấu ăn… Một số mặt chúng ta đã làm được
trong công tác truyền thông GDSK như: thực hiện tuyên truyền tại trạm,
tại cộng đồng; tổ chức các buổi phát thanh trên hệ thống loa truyền thanh
của xã. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế làm ảnh hưởng đến công tác
tuyên truyền, tư vấn, cung cấp thông tin cần thiết cho cộng đồng như: cơ
sở vật chất một số trạm chật hẹp nên khó khăn trong bố trí góc truyền
thông GDSK; nguồn kinh phí hoạt động còn hạn hẹp, sự phối kết hợp
giữa các ban, ngành, đoàn thể chưa cao, . . .
Để thực hiện tốt công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe tại tuyến xã thì
các trạm y tế rất cần có cán bộ chuyên trách để đảm bảo được hiệu quả
công việc. Ban chăm sóc sức khỏe ban đầu các xã cần huy động được sự
phối hợp nhịp nhàng giữa các ban, ngành, đoàn thể, nhất là ngành thông
tin văn hoá xã và trạm y tế để cùng thực hiện; Cần làm phong phú nội
dung tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh, phù hợp với tình hình
đặc điểm của địa phương; Củng cố hoạt động của các góc tuyên truyền
tại trạm y tế. Các ngành, các cấp cần quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện phát
triển góc tuyên truyền tại trạm thành phòng truyền thông có đày đủ các
trang thiết bị, phương tiện để có thể tăng cường công tác tư vấn sức khỏe
cho nhân dân, truyền đạt những thông tin cần thiết, kịp thời giải đáp