tóm tắt vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh bình phước hiện nay - Pdf 22

1
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH NHÂM
VAI TRß CñA TRUYÒN TH¤NG §¹I CHóNG TRONG
THùC HIÖN QUYÒN TRÎ EM ë TØNH B×NH PH¦íC HIÖN NAY
Chuyên ngành : Xã hội học
Mã số: : 62 31 30 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI - 2014
2
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: GS, TS Nguyễn Đình Tấn
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp
tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện quốc gia và
Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Truyền thông đại chúng (sau đây xin gọi tắt là TTĐC) vừa là động lực, vừa
là công cụ tổ chức, quản lý và nâng cao dân trí trong xã hội, tạo sự tương tác xã
hội, hình thành các liên kết xã hội, hướng dẫn, định hướng nhận thức, thái độ và
hành vi cho công chúng. Trong xã hội bùng nổ thông tin như hiện nay, TTĐC,
mà trung tâm là báo chí trở thành một trong những tác nhân xã hội hoá không
chính thức rất quan trọng của con người. Theo đó, TTĐC là một trong những
công cụ được Đảng, Nhà nước ưu tiên sử dụng cho công tác tuyên truyền thực

Vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em là vấn đề có thể được
nghiên cứu từ cách tiếp cận xã hội học TTĐC. Việc vận dụng các lý thuyết của
4
xã hội học TTĐC để đánh giá toàn diện quá trình TTĐC về quyền trẻ em; vận
dụng thuyết kiến tạo xã hội vào đánh giá quá trình kiến tạo mô hình nhận thức,
thái độ và hành vi thực hiện quyền trẻ em; vận dụng thuyết vai trò xã hội vào
xem xét vai trò của TTĐC trong vai trò thực tế và vai trò kỳ vọng của người
dân… là những hướng nghiên cứu quan trọng để trả lời các câu hỏi đặt ra từ
thực tiễn. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chưa từng được thực hiện một cách
đầy đủ và toàn diện ở Việt Nam. Quyền trẻ em vẫn còn là lĩnh vực chưa được
nghiên cứu đầy đủ.
Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn và lý luận nêu trên sẽ được trả lời trong
luận án “Vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em ở
tỉnh Bình Phước hiện nay”.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, từ đó phân tích thực trạng vai trò của các phương
tiện TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh Bình Phước hiện nay và đề xuất
các giải pháp tăng cường vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu vai trò của TTĐC
trong thực hiện quyền trẻ em.
Thứ hai: Phân tích thực trạng vai trò của các phương tiện TTĐC tỉnh Bình
Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương hiện nay. Trong đó có những
đánh giá từ phía công chúng tỉnh Bình Phước.
Thứ ba: Phân tích các nhân tố tác động đến vai trò của TTĐC tỉnh Bình
Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương hiện nay. Đưa ra các dự báo
xu hướng biển đổi vai trò.
Thứ tư: Đề xuất các khuyến nghị về giải pháp nhằm tăng cường vai trò của
TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em trong thời gian tới.

4.2.1.1. Phỏng vấn tiêu chuẩn (cấu trúc)
- Phỏng vấn 582 công chúng người lớn - cha mẹ trong các gia đình có trẻ
em trên địa bàn (xã Tân Thành và phường Tân Phú, thị xã Đồng Xoài; xã Tân
Lợi và thị trấn Tân Phú, huyện Đồng Phú; xã Thọ Sơn và thị trấn Đức Phong,
huyện Bù Đăng; xã Phú Riềng và Long Hà, huyện Bù Gia Mập). Phỏng vấn đạt
yêu cầu và hợp lệ 535 người, chiếm 91,9%.
- Đối với công chúng trẻ em: Phỏng vấn 264 trẻ em từ 12 đến dưới 16 tuổi
ở một trường tiểu học và một trường THCS thuộc huyện Đồng Phú và thị xã
Đồng Xoài, có đón xem chương trình trẻ em trên Đài Phát thanh và Truyền hình
Bình Phước. Số trường hợp đạt yêu cầu và hợp lệ là 206, chiếm 78,0%.
- Đối với cán bộ truyền thông: phỏng vấn 185 người là lãnh đạo, phóng viên,
biên tập viên, phát thanh viên các cơ quan TTĐC được nghiên cứu, chọn ngẫu
nhiên. Số trường hợp đạt yêu cầu và hợp lệ là 164, chiếm 88,6%.
4.2.1.2. Phân tích nội dung định lượng
Được tiến hành bằng một bộ công cụ mã hóa nội dung thông điệp về trẻ em
trên các phương tiện TTĐC tỉnh Bình Phước để thống kê tần suất sử dụng các
phạm trù trẻ em, học sinh (dưới 16 tuổi), quyền trẻ em; liên quan đến trẻ em, hoạt
động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, với 2.222 sản phẩm truyền thông về
trẻ em trên các cơ quan TTĐC được nghiên cứu từ tháng 6 đến tháng 10/2012.
4.2.2. Phương pháp nghiên cứu định tính
4.2.2.1. Phân tích nội dung tài liệu
4.2.2.2. Phỏng vấn sâu: Thực hiện 29 cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ
TTĐC; cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chúng (người lớn và trẻ em).
4.2.2.3. Thảo luận nhóm: Thực hiện 04 cuộc thảo luận nhóm với cán bộ TTĐC.
4.2.2.4. Phương pháp quan sát
5. Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích
5.1. Giả thuyết nghiên cứu
Thứ nhất: TTĐC thực hiện được vai trò vận động, khuyến khích và được
6
công chúng đánh giá cao nhất. Vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục được

- Giải trí cho trẻ em.
Vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa
phương hiện nay được đo trên tiêu chí: 1. Số lượng, tỷ lệ sản phẩm truyền thông
có mục đích đăng phát thông tin thể hiện vai trò từ kết quả phân tích thông điệp
truyền thông, so với ý kiến của cán bộ truyền thông; 2. Chất lượng nội dung,
hình thức thể hiện, ưu điểm, hạn chế của vai trò; 3. Ý kiến đánh giá của công
chúng về hiệu quả và việc thể hiện các vai trò.
* Biến can thiệp:
- Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC); hệ thống chính sách về TTĐC,
về quyền trẻ em và vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em.
- Đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương: chuẩn mực xã hội;
phong tục tập quán; trình độ dân trí; các hoạt động truyền thông khác về quyền
7
trẻ em…
6. Điểm mới, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Điểm mới của đề tài
Thứ nhất, về khách thể nghiên cứu: Đây là nghiên cứu đầu tiên về vai trò
của TTĐC trong việc thực hiện quyền trẻ em thông qua bốn loại hình báo chí và
kênh truyền thanh cấp huyện. Trên cơ sở phân tích thực trạng, các nhân tố tác
động, dự báo xu hướng biến đổi, đề tài đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp
tăng cường vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em, góp phần thúc đẩy
thực hiện quyền trẻ em trên thực tế.
Thứ hai, về cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu: Đề tài sử dụng lý thuyết mô
hình truyền thông theo chu kỳ của Roman Jakobson, thuyết kiến tạo xã hội của
Peter L. Berger, lý thuyết trung gian về vai trò - tập hợp của R.Merton và tiếp
cận dựa trên quyền của trẻ em cùng với phương pháp phân tích nội dung thông
điệp truyền thông để có được một bức tranh toàn diện về vai trò của TTĐC
trong thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh Bình Phước hiện nay.
6.2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận: Đề tài ứng dụng và góp phần kiểm chứng, phát triển lý

dụng phương pháp phân tích nội dung định lượng với một bộ mã hóa thông
điệp truyền thông về trẻ em của các phương tiện TTĐC tỉnh Bình Phước.
1.1.3. Hướng nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của truyền thông đại
chúng trong thực hiện quyền trẻ em
Tác giả điểm luận các nghiên cứu trong Báo cáo về các vấn đề của trẻ em
trên báo chí và truyền hình châu Á của Trung tâm Thông tin liên lạc châu Á và
Khoa nghiên cứu thông tin - Trường Đại học Công nghệ Nanyang Singapore
(1999); nghiên cứu của Helena Thorfinn (2000) trong cuốn chuyên khảo
“Truyền thông, đạo đức nghề nghiệp với trẻ em”. Đây là cơ sở để tác giả đưa ra
các biến số, tham khảo phân tích thực trạng.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM
1.2.1. Hướng nghiên cứu lý luận về vai trò của truyền thông đại chúng
Các nghiên cứu mang tính chất lý luận về vai trò của TTĐC không nhiều,
phần lớn được trình bày lồng ghép vào các nghiên cứu thực nghiệm về tiêu chí
phân tích hiệu quả của TTĐC; nhân tố tác động đến hoạt động và hiệu quả TTĐC.
Tác giả tham khảo để phân tích thực trạng vai trò của TTĐC trong thực hiện
quyền trẻ em.
1.2.2. Hướng nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của truyền thông đại
chúng trong thực hiện quyền trẻ em
Tác giả luận án điểm luận nghiên cứu về hình ảnh trẻ em trên TTĐC Việt
Nam của Trịnh Duy Luân và Mai Quỳnh Nam (1999); một số nghiên cứu về
truyền thông trẻ em của Mai Quỳnh Nam; nghiên cứu thực nghiệm về sự lạm
dụng hình ảnh nam giới và phụ nữ trên TTĐC nhìn từ thuyết kiến tạo xã hội. Có
thể nói, chưa có nghiên cứu xã hội học nào đánh giá một cách đầy đủ và toàn
diện vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em nhìn từ phía nhà truyền thông
và đánh giá của công chúng ở một địa phương cụ thể.
1.2.3. Các hướng nghiên cứu khác
Trẻ em và TTĐC đã được các nhà nghiên cứu trên lĩnh vực báo chí, truyền
thông, các tổ chức quốc tế quan tâm, nghiên cứu, đề xuất giải pháp và nỗ lực để
bảo vệ, thúc đẩy tiến trình thực hiện quyền trẻ em.

Vai trò được quan niệm là một tập hợp các chức năng, các quyền và nghĩa
vụ gắn cho một vị trí xã hội của một người hay một nhóm người mà xã hội
mong đợi phải được thực hiện. Vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em
được hiểu là một tập hợp các chức năng, các quyền và nghĩa vụ của các tổ chức
TTĐC và những người làm truyền thông được Nhà nước quy định, xã hội và
công chúng kỳ vọng, mong đợi phải thực hiện (gồm thông tin, tuyên truyền, giáo
dục thực hiện quyền trẻ em; hình thành và thể hiện dư luận xã hội trong thực hiện
quyền trẻ em; vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em; giám sát tình hình
thực hiện quyền trẻ em và giải trí cho trẻ em) để kiến tạo các mô hình nhận thức,
thái độ và hành vi thực hiện quyền trẻ em theo CRC và luật pháp Việt Nam, thúc
đẩy tiến trình thực hiện quyền trẻ em trong thực tế.
2.1.2. Các lý thuyết nghiên cứu
2.1.2.1. Tiếp cận lý thuyết mô hình truyền thông theo chu kỳ của Roman Jakobson
Mô hình truyền thông theo chu kỳ của R.Jakobson giúp chúng ta hiểu rằng,
vai trò của nhà truyền thông rất quan trọng, nếu nhận thức, thái độ của họ về
10
quyền trẻ em không đúng đắn, đầy đủ thì nội dung thông điệp truyền đi cũng
không chính xác, chưa kể có thể bị sai lệch do hiện tượng “nhiễu”. Nội dung
thông điệp nhiều khi được công chúng đón nhận không đúng như ý của nhà
truyền thông, nếu nội dung đó xa lạ với phông văn hóa, kiến thức, kinh nghiệm
hay khác xa với đời sống, tâm lý và đặc điểm xã hội của công chúng. Việc ghi
nhận nội dung thông điệp hoàn toàn phụ thuộc vào sự chọn lọc theo đặc điểm
nhân khẩu xã hội, phông văn hóa và vốn tâm lý của họ. Công chúng có phản hồi
trở lại với nhà truyền thông và trở thành người phát tin đến nhà truyền thông.
2.1.2.2. Tiếp cận thuyết kiến tạo xã hội của Peter L. Berger
Tiếp cận thuyết kiến tạo xã hội của Berger có thể hiểu, TTĐC là một trong
những thiết chế xã hội quan trọng góp phần kiến tạo nên những kịch bản, khuôn
mẫu thực hiện quyền trẻ em theo CRC, theo chủ trương, chính sách, pháp luật
mà xã hội phải thực hiện. Mỗi cá nhân tiếp nhận dần dần những tri thức, mẫu
hình thực hiện quyền trẻ em một cách vô tình hay có chủ đích từ TTĐC. Nếu

quyền trẻ em
Chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh không bàn một cách trực
tiếp về vai trò của TTĐC với việc thực hiện quyền trẻ em, nhưng đặc biệt quan
tâm đến vị trí, vai trò của báo chí truyền thông trong sự nghiệp cách mạng xây
dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Báo chí là một công cụ
tuyên truyền quan trọng của đảng vô sản, tuyên truyền, bảo vệ quyền trẻ em
cũng là một trong những nghĩa vụ quan trọng của báo chí.
Công tác tuyên truyền, vận động xã hội nâng cao nhận thức và chuyển đổi
hành vi thực hiện quyền trẻ em là một trong những hoạt động quan trọng của
Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020; được khẳng
định trong Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05-11-2012 của Bộ Chính trị “về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ
em trong tình hình mới” và một số văn bản khác. Đây là sự chỉ đạo của Đảng,
Nhà nước về trách nhiệm, vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em.
2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU
2.2.1. Đặc điểm kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnh Bình Phước
Bình Phước là một tỉnh miền núi, biên giới thuộc miền Đông Nam Bộ; có
diện tích tự nhiên là 6.871.543 km
2
; dân số 922.706 người, trong đó trẻ em
chiếm 31,0%. Tỉnh có 41 dân tộc và gần 20,0% đồng bào tôn giáo. Tỉnh Bình
Phước được tái lập ngày 01-01-1997. Tỉnh có 10 huyện, thị xã với 111 xã,
phường, thị trấn. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm 2013 đạt 9,59%.
GDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2013 đạt 41,63 triệu đồng.
Những thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội chưa tương xứng với
tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.
Tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn
đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện quyền trẻ em.
Hoạt động của các
cơ quan TTĐC ở Bình Phước hiện nay còn rất nhiều khó khăn, hạn chế khi đội

Từ tháng 6 đến tháng 10/2012, các phương tiện TTĐC tỉnh Bình Phước
được nghiên cứu có 2.222 sản phẩm truyền thông về đề tài trẻ em, trực tiếp
hoặc hướng tới phục vụ việc thực hiện quyền trẻ em. Trong đó, có 1.344 sản
phẩm dành cho trẻ em và 878 sản phẩm dành cho người lớn.
1. Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước đứng đầu về số lượng và tỷ
lệ sản phẩm truyền thông về đề tài trẻ em, với 1.622 sản phẩm, chiếm 13,8%
tổng sản phẩm truyền thông của Đài. Trong đó, có 1.344 sản phẩm cho trẻ em,
chiếm 90,5% tổng sản phẩm truyền thông về đề tài trẻ em, chiếm 11,4% tổng sản
phẩm truyền thông của Đài. Các sản phẩm về đề tài trẻ em không phải chỉ có vào
các dịp cao điểm vì trẻ em. Tổng thời lượng phát sóng các sản phẩm truyền
thông về trẻ em trong 5 tháng là 35.315 phút, chiếm 22,2% tổng thời lượng phát
sóng chương trình của địa phương, không kể tiếp âm, tiếp sóng.
2. Báo Bình Phước: có 218 sản phẩm truyền thông về trẻ em, chiếm 4,4%
tổng sản phẩm truyền thông của báo. Trong đó, báo in có 149 tin bài, chiếm
5,2% và báo mạng điện tử có 68 tin bài, chiếm 3,4% tổng tin bài của báo. Các
sản phẩm truyền thông không phải chỉ có vào các dịp cao điểm vì trẻ em. Báo
không có sản phẩm truyền thông dành cho trẻ em.
3. Các đài truyền thanh, truyền hình cấp huyện: Đài thị xã Đồng Xoài
quan tâm cho mảng đề tài trẻ em nhiều nhất, chiếm 10,3% trong tổng số sản
phẩm truyền thông của Đài; thứ hai là Đài huyện Đồng Phú; thứ ba là Đài
huyện Bù Đăng; ít nhất là Đài huyện Bù Gia Mập. Các hoạt động truyền thông
về trẻ em ở Đài thị xã Đồng Xoài không phải chỉ ưu tiên vào các dịp cao điểm,
mà được thực hiện thường xuyên. Trong khi đó, Đài huyện Đồng Phú, Bù Đăng
và Bù Gia Mập không thực hiện thường xuyên, mà chỉ ưu tiên vào tháng 6 -
13
tháng hành động vì trẻ em và tháng 9 - đầu năm học mới.
3.1.2. Hình thức của sản phẩm truyền thông về đề tài trẻ em
Phần lớn là do các cơ quan TTĐC trong tỉnh tự thực hiện. Một số Đài
truyền thanh và truyền hình cấp huyện lấy sản phẩm truyền thông từ Báo Bình
Phước, Báo Bình Phước điện tử và báo khác. Tin là thể loại nhiều nhất, với

THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM,TỪ NỘI DUNG THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG
3.2.1. Vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục thực hiện quyền trẻ em
Vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục về thực hiện quyền trẻ em chưa
được TTĐC Bình Phước đặc biệt quan tâm. Chỉ có 43,6% sản phẩm truyền
thông về trẻ em được nghiên cứu có mục đích đăng phát thông tin, tuyên truyền,
giáo dục về quyền trẻ em. Đài huyện Bù Gia Mập quan tâm nhiều nhất đến mục
14
đích đăng phát thông tin tuyên truyền, giáo dục trong các mục đích đăng phát
của cơ quan mình; thứ hai là Đài huyện Đồng Phú; thứ ba là Đài thị xã Đồng
Xoài; rồi đến Đài huyện Bù Đăng và Báo Bình Phước; quan tâm ít nhất là Đài
Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bình Phước. Các đài truyền thanh cấp huyện
quan tâm nhiều nhất cho công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục thực hiện
quyền trẻ em (chiếm 79,6%). Báo mạng điện tử ưu tiên cho mục đích đăng phát
thông tin này ở vị trí thứ hai; thứ ba là báo in; rồi đến truyền hình và hạn chế
nhất là phát thanh. Kết quả này cho thấy, nhận định của cán bộ truyền thông
không chính xác hoặc TTĐC đã không thực hiện đúng chủ trương đăng phát
thông tin về quyền trẻ em. Phần lớn cán bộ truyền thông cho rằng, mục đích
đăng phát thông tin về đề tài trẻ em của cơ quan họ là thông tin, tuyên truyền về
quyền trẻ em (chiếm 91,4%), cao nhất trong các mục đích đăng phát về trẻ em.
Thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách về quyền trẻ em: không
phải là mục đích đăng phát được TTĐC Bình Phước đặc biệt quan tâm khi nó
chỉ chiếm 11,8%. Đài huyện Bù Gia Mập quan tâm cho mục đích đăng phát này
nhiều nhất (chiếm 51,3%); thứ hai là Đài thị xã Đồng Xoài; thứ ba là Báo Bình
Phước; ít nhất là Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước. Báo mạng điện tử
ưu tiên nhất cho mục đích đăng phát này (chiếm 56,5%); thứ hai là truyền thanh
cấp huyện; thứ ba là báo in; rồi đến truyền hình; ít nhất là báo phát thanh. Đài
Phát thanh và Truyền hình Bình Phước vừa có đông công chúng, vừa có nhiều
ưu thế trong hoạt động tuyên truyền, nhưng tuyên truyền chủ trương, chính sách
về quyền trẻ em còn rất hạn chế, nhất là phát thanh.
Phổ biến kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em: Có

chưa biết cách tạo dư luận xã hội, thổi bùng dư luận xã hội. TTĐC Bình Phước
chưa từng liên kết dư luận xã hội với các chiến dịch thông tin - giáo dục -
truyền thông, không khai thác, đẩy cao trào của dư luận xã hội thành những
chiến dịch truyền thông. Song, ưu điểm là ở Bình Phước chưa có trường hợp
TTĐC tạo nên dư luận xã hội quá đà, không có lợi cho trẻ em vì mục đích lợi
nhuận của nhà truyền thông hay vô tình dẫn đến các hành vi vi phạm quyền trẻ
em như một số trường hợp ở các cơ quan báo chí lớn.
3.2.3. Vai trò vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em
Đây là vai trò được TTĐC Bình Phước quan tâm nhất, với 87,5% sản phẩm
truyền thông có mục đích đăng phát vận động, khuyến khích thực hiện quyền
trẻ em. Cán bộ truyền thông cũng cho rằng, vai trò này được cơ quan họ thực
hiện tốt thứ hai trong các vai trò (chiếm 87,8%), sau vai trò thông tin, tuyên
truyền, giáo dục thực hiện quyền trẻ em. Đài Phát thanh và Truyền hình Bình
Phước quan tâm vai trò này nhất; thứ hai là Đài huyện Bù Đăng; thứ ba là Đài
thị xã Đồng Xoài; rồi đến Đài huyện Bù Gia Mập, huyện Đồng Phú; hạn chế
nhất là Báo Bình Phước. Phát thanh quan tâm nhiều nhất cho vai trò vận động,
khuyến khích thực hiện quyền trẻ em (chiếm 100,0%); thứ hai là truyền hình;
thứ ba là truyền thanh cấp huyện; rồi đến báo in; hạn chế nhất là báo mạng điện
tử (chiếm 40,6 %). Có thể thấy, chỉ đến vai trò vận động, khuyến khích thực
hiện quyền trẻ em, Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước và kênh phát
thanh mới thể hiện sức mạnh, ưu thế và sự quan tâm của mình cho công tác
tuyên truyền về quyền trẻ em.
TTĐC thông tin, phản ánh những hoàn cảnh trẻ em khó khăn cần được
giúp đỡ, kêu gọi mọi người mở rộng tấm lòng nhân ái, chia sẻ tinh thần, hỗ trợ
vật chất, động viên các em vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống. Tuy
nhiên, TTĐC Bình Phước chưa thực sự quan tâm đến trách nhiệm xã hội này.
Mục đích đăng phát thông tin kêu gọi giúp đỡ trẻ em khó khăn chỉ chiếm 6,7%
so với các mục đích khác, thấp hơn rất nhiều so với ý kiến của cán bộ truyền
thông. Có đến 80,2% cán bộ cho biết cơ quan họ ưu tiên cho mục đích đăng
phát thông tin kêu gọi giúp đỡ trẻ em khó khăn. Đài Phát thanh và Truyền hình

được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm và danh dự; được có tài sản của
trẻ em và được sống chung với cha mẹ. Trong khi đó, bốn quyền này hoàn toàn
không phải đã thực hiện tốt ở Bình Phước. TTĐC Bình Phước đang kiến tạo
nên một thực tế thực hiện quyền trẻ em không giống như những gì đang diễn ra.
3.2.5. Vai trò giải trí cho trẻ em
Có 59,9% sản phẩm truyền thông được nghiên cứu có mục đích đăng phát
thể hiện vai trò giải trí cho trẻ em. 59,8% cán bộ truyền thông cho biết TTĐC
Bình Phước có mục đích đăng phát này. Nhưng trên thực tế chỉ Đài Phát thanh
và Truyền hình Bình Phước có chương trình dành cho trẻ em và phục vụ nhu
cầu giải trí của trẻ em. Đài đặc biệt ưu tiên mục đích giải trí cho trẻ em với
81,9% chương trình có nội dung giải trí cho trẻ em, ưu tiên nhất trong tất cả các
vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em. Thế nhưng, sự quan tâm đến vai trò
này làm giảm đi sự quan tâm các vai trò quan trọng khác là vi phạm nguyên tắc
tiếp cận quyền, vi phạm quyền trẻ em, ảnh hưởng tiêu cực đến công tác bảo vệ,
17
chăm sóc và giáo dục trẻ em. Báo Bình Phước và truyền thanh các huyện chưa
thực hiện tốt, không có sản phẩm truyền thông, chuyên mục dành riêng cho trẻ em
và phục vụ nhu cầu giải trí của trẻ em.
3.3. Ý KIẾN CỦA CÔNG CHÚNG VỀ VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI
CHÚNG TỈNH BÌNH PHƯỚC TRONG THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM
3.3.1. Về vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục
Phần lớn công chúng Bình Phước đánh giá các vai trò của TTĐC trong
thực hiện quyền trẻ em ở mức khá. Công chúng đánh giá cao nhất vai trò Thông
tin, tuyên truyền, giáo dục thực hiện quyền trẻ em (23,7% tốt, 49,3% khá).
Công chúng đánh giá vai trò này ở Báo Bình Phước điện tử tốt nhất; thứ hai là
Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước; thứ ba là Báo Bình Phước in; đánh
giá thấp nhất với truyền thanh cấp huyện. Thông tin phổ biến kiến thức, kỹ
năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được các cơ quan TTĐC Bình Phước
thực hiện nhiều hơn thông tin, tuyên truyền các chủ trương, chính sách về
quyền trẻ em. Tuy nhiên, công chúng lại đánh giá vai trò thông tin, tuyên truyền

trao đổi, bàn luận thông tin về trẻ em thu được từ TTĐC, dẫn dắt mọi người có
thông tin về quyền trẻ em, nhưng hầu như không có bao giờ trao đổi, phản hồi
thông tin với cơ quan TTĐC.
TTĐC Bình Phước thông tin, tuyên truyền, giáo dục thực hiện quyền trẻ em
góp phần giúp công chúng có được nhận thức, thái độ tích cực về quyền trẻ em.
Tuy nhiên, nhận thức, thái dộ về quyền trẻ em của công chúng vẫn còn nhiều
hạn chế. Công chúng nhận thức chưa đầy đủ và toàn diện về quyền trẻ em, cũng
nhận thức chưa tốt về các quyền trẻ em được nêu trong CRC và Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em. Phần lớn công chúng được hỏi có nhận thức về
quyền của trẻ em ở mức khá. Không có mối liên hệ chặt chẽ giữa việc thường
xuyên theo dõi các kênh TTĐC và mức nhận thức về quyền trẻ em. Việc trả lời
câu hỏi kênh truyền thông nào mang lại nhận thức cho công chúng Bình Phước
tốt nhất là điều vô cùng khó khăn. Vì công chúng chịu sự tác động về mặt nhận
thức từ nhiều kênh truyền thông khác nhau, không chỉ riêng TTĐC trong tỉnh.
3.3.2. Về vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội
Công chúng đã có những ghi nhận khá tích cực về vai trò của các phương
tiện TTĐC tỉnh Bình Phước trong hình thành và thể hiện dư luận xã hội về thực
hiện quyền trẻ em, dù trên thực tế vai trò này chưa được TTĐC thực hiện tốt
(16,6% tốt và 42,9% khá). Vai trò này của Báo Bình Phước điện tử được công
chúng đánh giá cao nhất; thứ hai là Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước;
thứ ba là truyền thanh cấp huyện; thấp nhất là Báo Bình Phước in. Không có sự
khác biệt giữa các nhóm công chúng trong đánh giá vai trò hình thành và thể
hiện dư luận xã hội về thực hiện quyền trẻ em của TTĐC Bình Phước.
3.3.3. Về vai trò vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em
Công chúng Bình Phước đã có những đánh giá tích cực về vai trò vận
động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em của các phương tiện TTĐC trong
tỉnh (tốt chiếm 48,8%; khá chiếm 17,3%). Vai trò vận động, khuyến khích thực
hiện quyền trẻ em của Báo Bình Phước điện tử được công chúng đánh giá cao
nhất; thứ hai là Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước; thứ ba là Báo Bình
Phước in và hạn chế nhất là truyền thanh cấp huyện. Vai trò nêu gương người

việc thực hiện một số quyền trẻ em. Nhưng TTĐC cũng đang lèo lái công chúng
bỏ qua một số quyền khác. Đây là sự vi phạm cách tiếp cận quyền trẻ em.
3.3.5. Về vai trò giải trí cho trẻ em
Công chúng trẻ em đánh giá vai trò của Đài Phát thanh và Truyền hình
Bình Phước trong phục vụ nhu cầu giải trí của trẻ em tuy có cao hơn công
chúng người lớn, nhưng phần lớn cũng chỉ ở mức khá, chưa làm công chúng
hoàn toàn thỏa mãn. Công chúng người lớn chưa đánh giá cao vai trò giải trí
cho trẻ em của TTĐC trong tỉnh. Phần lớn công chúng mới đánh giá vai trò này
ở mức khá, với 18,9% công chúng đánh giá tốt và 42,9% đánh giá khá. Trong
đó, Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước được công chúng đánh giá cao
nhất (tốt chiếm 31,8%; khá chiếm 38,7%); cơ quan truyền thông khác không
được đánh giá cao vì gần như không có chương trình giải trí cho trẻ em. Công
chúng đánh giá cao vai trò của TTĐC Bình Phước trong việc đáp ứng nhu cầu
giải trí đang rất thiếu thốn của trẻ em trong tỉnh. Nhưng nhu cầu này vẫn chưa
được thỏa mãn một cách đầy đủ, trẻ em vẫn còn khát sân chơi lành mạnh trong
đời thường lẫn truyền thông.
Tiểu kết chương 3
Chương 3 phân tích khái quát tình hình truyền thông về quyền trẻ em. Phân
tích các vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em từ kết quả phân tích nội
dung thông điệp truyền thông so với ý kiến của của cán bộ truyền thông và ý
kiến đánh giá của công chúng. Căn cứ tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện tốt
20
vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em có thể nhận thấy: Các phương tiện
TTĐC tỉnh Bình Phước thực hiện tốt nhất vai trò vận động, khuyến khích và vai
trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục thực hiện quyền trẻ em; rồi đến vai trò giải
trí cho trẻ em, vai trò giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em; hạn chế nhất là
vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội. Đài Phát thanh và Truyền hình
Bình Phước thực hiện tốt nhất các vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em;
thứ hai là Báo Bình Phước; thứ ba là Đài huyện Bù Gia Mập; rồi đến Đài huyện
Đồng Phú, thị xã Đồng Xoài; hạn chế nhất là Đài huyện Bù Đăng. Loại hình

động định hướng truyền thông về trẻ em chưa được quan tâm đúng mức.
4.1.3. Tác động của cơ quan truyền thông
21
Thông tin định tính cho biết, đặc điểm tôn chỉ, mục đích và cơ cấu tổ chức
hoạt động của cơ quan TTĐC ảnh hưởng lớn đến hoạt động truyền thông về
quyền trẻ em. Hoạt động truyền thông về quyền trẻ em luôn chịu sự tác động từ
quan điểm của cơ quan chủ quản. Lãnh đạo một số cơ quan báo chí truyền thông
ở Bình Phước có quan điểm báo Đảng địa phương phải thông tin mang tính tuyên
truyền, giáo dục là chính, hạn chế những thông tin nổi cộm về trẻ em bị xâm hại.
Mỗi loại hình truyền thông ưu tiên những thông điệp truyền thông khác nhau, có
đặc điểm, ưu thế và hạn chế khác nhau. Do đó, vai trò của từng loại hình đối với
việc thực hiện quyền trẻ em cũng khác nhau. Thời điểm truyền thông có ảnh
hưởng lớn, quyết định việc công chúng có thể tiếp nhận được thông điệp truyền
thông và tiếp nhận như thế nào. Các sản phẩm truyền thông về trẻ em thường
được sắp đặt vào vấn đề xã hội, đứng sau các vấn đề chính trị và kinh tế, thường
được phát sau chương trình thời sự vào khung giờ thuận tiện cho công chúng
theo dõi, đặc biệt được phát lại nhiều lần, không phải khung giờ vàng.
4.1.4. Tác động từ phía cán bộ truyền thông
Có phải đặc điểm nhân khẩu xã hội của cán bộ truyền thông là nhân tố ảnh
hưởng đến số lượng sản phẩm truyền thông, nội dung và chất lượng lao động
truyền thông về quyền trẻ em của họ, trực tiếp nhất là số lượng sản phẩm truyền
thông về trẻ em hướng đến việc thực hiện quyền trẻ em?
Số lượng sản phẩm truyền thông về trẻ em có sự khác nhau giữa các nhóm
cán bộ truyền thông. Sự khác nhau này có ý nghĩa thống kê song không đáng
kể. Cũng không có mối liên hệ giữa sự quan tâm ưu tiên mảng đề tài trẻ em và
số lượng sản phẩm truyền thông được thực hiện.
Nhận thức về quyền trẻ em của cán bộ truyền thông: ở mức khá, đạt trung
bình 23,7 điểm/34 điểm. Tuy nhiên, nhận thức đó còn nhiều hạn chế, chưa đầy
đủ và toàn diện, nhiều nội dung còn mang tính cảm tính.
Thái độ về việc thực hiện quyền trẻ em: Phần lớn cán bộ truyền thông được

bộ truyền thông có ảnh hưởng, nhưng không quyết định đến sự quan tâm đối
với mảng đề tài trẻ em của cán bộ truyền thông.
4.2. DỰ BÁO XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG
ĐẠI CHÚNG TỈNH BÌNH PHƯỚC TRONG THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM
THỜI GIAN TỚI
4.2.1. Xu hướng thứ nhất: TTĐC về quyền trẻ em trở thành một xu
hướng của truyền thông hiện đại. Các vai trò của TTĐC với việc thực hiện
quyền trẻ em đều có tiến triển tốt hơn, kiến tạo nên mô hình nhận thức, thái độ
và hành vi thực hiện quyền trẻ em đúng đắn theo CRC và pháp luật Việt Nam.
4.2.2. Xu hướng thứ hai: Vẫn tiếp tục có sự chênh lệch, căng thẳng và
xung đột giữa các vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em.
4.2.3. Xu hướng thứ ba: Kỹ năng truyền thông về quyền trẻ em trong đội
ngũ cán bộ TTĐC của tỉnh tiếp tục được nâng lên. Vai trò của TTĐC tỉnh Bình
Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương sẽ thay đổi theo xu hướng
tính đến các yếu tố quyền của trẻ em đã được pháp luật thừa nhận.
4.2.4. Xu hướng thứ tư: Công chúng Bình Phước ngày càng thỏa mãn
hơn, ứng dụng được nhiều hơn các thông tin về quyền trẻ em từ TTĐC, thực
hiện quyền trẻ em tốt hơn, tham gia nhiều hơn vào quá trình truyền thông, nhưng
sẽ yêu cầu cao hơn về nội dung, hình thức thể hiện và sự tiện lợi của hội tụ
truyền thông.
4.3. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI
CHÚNG TỈNH BÌNH PHƯỚC TRONG THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM
4.3.1. Đối với cơ quan truyền thông đại chúng
- Cần quan tâm đến chế độ chính sách và điều kiện tác nghiệp của cán bộ
TTĐC về trẻ em.
- Cần đổi mới nội dung, đa dạng hình thức các chương trình, chuyên mục
về đề tài trẻ em.
4.3.2. Đối với cán bộ truyền thông đại chúng
23
- Cần xây dựng một đội ngũ phóng viên, biên tập viên chuyên nghiệp về đề

thực hiện quyền trẻ em ở địa phương, có một số vấn đề đặt ra sau đây:
1. Sự nhận thức về quyền trẻ em, về trách nhiệm pháp lý và vị trí, vai trò
quan trọng của các cơ quan TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em của các cấp ủy
đảng, chính quyền các cấp và toàn xã hội ở Bình Phước còn có những hạn chế
nhất định, chưa ngang tầm với đòi hỏi của thực tiễn.
2. Tuy các phương tiện TTĐC tỉnh Bình Phước làm khá tốt năm vai trò
trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương. Song, vẫn còn những hạn chế nhất
định trong việc thông tin, chia sẻ các kỹ năng, kinh nghiệm thực hiện quyền trẻ
em, nhất là việc lựa chọn thông điệp truyền thông, kiến tạo mô hình nhận thức,
thái độ, hành vi thực hiện quyền trẻ em cho công chúng, cũng như tạo dư luận
xã hội tích cực nhằm thực hiện tốt quyền trẻ em.
24
3. Sự phối hợp giữa các cơ quan TTĐC và các cơ quan hữu quan khác
nhau chưa thật sự tích cực, chặt chẽ trong truyền thông về quyền trẻ em.
4. Việc nắm bắt nhu cầu, tạo ra nhu cầu cho công chúng cũng như năng lực
kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp của cán bộ TTĐC cần được chú trọng, đặt ra
như là một trong những vấn đề cần được nâng cao trong thời gian tới.
Tác giả luận án đã đưa ra một hệ thống giải pháp đối với cơ quan TTĐC, với cán
bộ truyền thông, với cơ quan lãnh đạo, quản lý, với công chúng người lớn và công
chúng trẻ em.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
1. Truyền thông thúc đẩy tiến trình thực hiện quyền trẻ em đã được các cơ
quan, loại hình TTĐC ở tỉnh Bình Phước quan tâm, góp phần vào việc đưa chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền trẻ em vào cuộc
sống, huy động, tập hợp các nguồn lực xã hội tham gia giải quyết các vấn đề trẻ
em. Song, vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của công tác bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em. Vấn đề trẻ em chưa trở thành một trong những nội dung
quan trọng của TTĐC ở tỉnh Bình Phước, thường phải đứng sau các vấn đề
chính trị, kinh tế và những vấn đề cấp bách khác. Quyền trẻ em chưa được đề

chiến lược truyền thông quyền trẻ em. Chưa thực sự quan tâm tham gia hoàn
thiện chính sách về quyền trẻ em và phục vụ nhu cầu giải trí của trẻ em. Quá
trình truyền thông còn mang tính chất một chiều. Nhà truyền thông chưa tuân
thủ tốt nguyên tắc tiếp cận quyền và các luật liên quan. Công tác đào tạo, bồi
dưỡng kỹ năng truyền thông về trẻ em chưa được quan tâm đúng mức. Nhận thức
quyền trẻ em của cán bộ truyền thông và công chúng còn hạn chế. Việc thực thi
quyền trẻ em vẫn còn là một quá trình lâu dài, đầy khó khăn, thách thức.
5. Đối chiếu kết quả thực nghiệm với các giả thuyết nghiên cứu:
Giả thuyết thứ nhất được kiểm chứng. TTĐC Bình Phước đúng là có vai
trò quan trọng trong thực hiện quyền trẻ em và đã thực hiện tương đối tốt năm
vai trò (thông tin, tuyên truyền, giáo dục; hình thành và hướng dẫn dư luận xã
hội; vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em; giám sát tình hình thực
hiện quyền trẻ em và phục vụ nhu cầu giải trí cho trẻ em). Tuy nhiên, mức độ
thực hiện các vai trò có sự chênh lệch đáng kể. Vai trò vận động, khuyến khích
và thông tin, tuyên truyền, giáo dục thực hiện quyền trẻ em được thực hiện tốt
nhất; rồi đến vai trò giải trí cho trẻ em; sau đó là vai trò giám sát tình hình thực
hiện quyền trẻ em; hạn chế nhất là vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội.
Giả thuyết thứ hai đã được kiểm chứng. Các chính sách của tỉnh về quyền
trẻ em, TTĐC và vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em cũng như điều
kiện phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của địa phương tác động đáng kể đến
thực trạng vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em hiện
nay. Đặc điểm của các cơ quan truyền thông với tôn chỉ, mục đích và cơ cấu tổ
chức; loại hình truyền thông, thời điểm truyền thông; quan điểm của cơ quan
chủ quản ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động truyền thông về quyền trẻ em. Đặc
điểm của cán bộ truyền thông với đặc điểm nhân khẩu xã hội và nhận thức, thái
độ, hành vi tác nghiệp; sự ủng hộ của cơ quan truyền thông và sự quan tâm tạo
điều kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có ảnh hưởng không đáng kể.
Giả thuyết thứ ba: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã được phân tích và sự
suy đoán logic của tác giả, có thể dự báo: Thời gian tới, vai trò của TTĐC tỉnh
Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương sẽ thay đổi theo xu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status