PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình mang lại sự êm ấm, hạnh phúc
cho mỗi cá nhân và bình ổn cho xã hội. Trong suy nghĩ của mỗi cá nhân, gia
đình là một tổ ấm để nuôi dưỡng con người. Gia đình đảm nhiệm nhiều chức
năng quan trọng như: chức năng tái sản xuất con người, chức năng xã hội hoá
trẻ em, chức năng kinh tế, chức năng tâm lý tình cảm và chức năng bảo vệ,
chăm sóc sức khoẻ. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta trong
những năm qua một mặt tạo ra những điều kiện để gia đình làm tốt chức năng
của mình, nhưng mặt khác chính những mặt trái của nền kinh tế thị trường và
một số yếu tố khác đang tác động tiêu cực lên sự tồn tại và phát triển của gia
đình. Gia đình với vai trò là một tổ ấm đang bị tấn công từ nhiều phía. Chức
năng của gia đình ở những thời điểm nhất định đang bị phá vỡ từng mảng, các
chức năng đó đang có những biến đổi, có những chức năng được tăng lên
nhưng cũng có những chức năng bị giảm sút. Quan hệ giữa các thành viên
trong gia đình bị biến đổi theo hướng coi trọng các giá trị vật chất hơn các giá
trị về tinh thần. Tình cảm gia đình - chỗ dựa tinh thần cho mỗi cá nhân đang
bị giảm sút. Nói đến các yếu tố tác động tiêu cực đến quan hệ gia đình không
thể không nói đến bạo lực gia đình (BLGĐ).
Bạo lực gia đình xuất hiện từ rất sớm và nó tồn tại cho đến ngày nay
cùng với sự tồn tại của gia đình. Bạo lực gia đình đã và đang xảy ra ở khắp
nơi trên thế giới với nhiều dạng thức tinh vi khác nhau không phân biệt nước
giàu, nước nghèo, dân tộc, màu da, tầng lớp, lứa tuổi hay trình độ văn hoá và
địa vị xã hội. Nó làm tổn thương đến thể xác và tinh thần của những nạn nhân
mà đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Nó liên quan chặt chẽ đến thân phận, vị trí,
vai trò của họ trong hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, và văn hoá.
1
Trước đây, BLGĐ được nhiều người coi là “chuyện vặt” ,“chuyện nội
bộ” gia đình. Trước năm 1993 hầu hết các chính phủ coi BLGĐ, chống lại
phụ nữ là vấn đề mang tính chất riêng tư của các cá nhân.
Ngày nay, BLGĐ được nhìn nhận như một sự trở ngại của sự phát triển
gây ra bạo lực với mình hoặc mong chờ sự trợ giúp từ bên ngoài.
Trong những năm gần đây BLGĐ nổi lên thành một vấn đề lớn của xã
hội do số nạn nhân của nạn BLGĐ ngày càng tăng cao lên và mức độ của
BLGĐ ngày càng nghiêm trọng hơn. Trong khi đó, biện pháp hỗ trợ cho các
nạn nhân BLGĐ đang còn hạn chế và không đều nhau ở các địa phương trong
cả nước. Đây cũng là một khó khăn trong công tác phòng và chống BLGĐ.
Nạn BLGĐ ngày càng được biết đến nhiều hơn khi mà các đài, báo và các
phương tiện thông tin đại chúng lần lượt đưa ra các vụ BLGĐ gây chấn động
dư luận xã hội.
Từ lý luận và thực tiễn cho thấy việc đẩy lùi và tiến đến ngăn chặn nạn
BLGĐ trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Vấn đề này không chỉ là mối quan
tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà lãnh đạo, của các gia đình trong khuôn
khổ từng quốc gia mà là của toàn nhân loại.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phòng và chống BLGĐ một cách có
hiệu quả? Mặc dù trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều
chính sách và nhiều hoạt động thiết thực, cụ thể trong việc phòng chống
BLGĐ và đã đạt được những kết quả to lớn. Song một thực tế cần được thừa
nhận là BLGĐ vẫn đang xảy ra. Sự can thiệp, giúp đỡ các nạn nhân của
BLGĐ nói riêng và vấn đề phòng chống BLGĐ nói chung là một việc làm cần
thiết của ngành được coi là bác sỹ của xã hội như Công tác xã hội. Chính vì
vậy vấn đề nâng cao nhận thức cho người dân trong việc hiểu biết về luật
phòng chống BLGĐ, hạn chế đi đến ngăn chặn các hiện tượng bạo lực và xây
3
dựng gia đình hạnh phúc đang là những suy nghĩ và trăn trở không chỉ của
các tổ chức, ban ngành, đoàn thể, các nhà quản lý mà còn là của toàn xã hội.
Mặt khác trong những năm qua việc sử dụng truyền thông trong phòng
và chống BLGĐ đã được coi là một trong những biện pháp chủ yếu ở Việt
Nam nói chung và ở Thừa Thiên Huế nói riêng. Đây là biện pháp làm thay
đổi nhận thức và hành vi vủa người dân về BLGĐ, góp phần phòng và chống
BLGĐ ngay từ khi còn là những mầm mống ban đầu.
nguyên nhân, các hình thức diễn ra BLGĐ như: nơi làm việc, đường phố và
gia đình Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của truyền thông, giáo
dục nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức và làm thay đổi hành vi của các cá
nhân trong việc phòng và chống BLGĐ cũng như các biện pháp cải cách pháp
luật và hành động chống lại BLGĐ.
Tác phẩm – “Tình yêu đến sự sống sót - Sự bạo lực tình dục của đàn
ông và cuộc sống của phụ nữ” (Loving to survive – Sexual men’s violence
and women’s live) - của tác giả Dee.L. Rgraham và đồng nghiệp đã trình bày
những ảnh hưởng của bạo lực của nam giới đối với phụ nữ và tâm lý của họ.
Bà đưa ra lăng kính của nữ quyền để chữa trị cho họ trong mối quan hệ nam
nữ.
Tác phẩm “Bạo lực - sự im lặng và sự giận giữ - các bài viết của phụ
nữ như là một tội lỗi” (Violence, silence and Anger – Women’s writing as
transgression) – của nhiều tác giả do Deirdre Lashgari chủ biên. Tác phẩm là
cơ sở cho các nhà nữ quyền trình bày về sự im lặng, sự tức giận và nhu cầu
nói lên tiếng nói chống lại bạo lực. Nhiều hình thức bạo lực như áp bức tình
dục, sự đối kháng giữa mẹ và con gái, các chủ đề về giới với chủng tộc và giai
cấp mà tác phẩm đã đề cập đến.
5
Tác phẩm có tựa đề “Bạo lực gia đình ở Việt Nam” (Domestic
violence in Vietnam) do tổ chức Diễn đàn Châu Á Thái Bình Dương về phát
triển, pháp luật và phụ nữ (Asia Pacific Forum on Women, Law and
Development viết tắt là APWLD), xuất bản năm 2000. Tác phẩm là kết quả
của cuộc khảo sát xã hội học về BLGĐ tại Hà Nội. Các tác giả đã khẳng định
“BLGĐ đã để lại di chứng nặng nề lên đời sống, tinh thần tình cảm, nhận thức
của nạn nhân, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tan vỡ gia đình. BLGĐ
không chỉ xảy ra trong mối quan hệ gia đình giữa chồng với vợ mà còn giữa
cha mẹ đối với con cái, giữa con cái đối với cha mẹ”.
Ở Việt Nam, đã có các bài báo của PGS.TS. Lê Thị Quý - Một trong
những chuyên gia nghiên cứu về giới và gia đình đã đăng tải các công trình
của các hình thức can thiệp trong đó có truyền thông đối với vấn đề phòng và
chống BLGĐ. Thông qua kết quả nghiên cứu của dự án tác giả đã nói lên
được tầm quan trọng của các hình thúc can thiệp nhằm nâng cao nhận thức
cho người dân về phòng chống BLGĐ.
Trong bài viết có tựa đề: “Phổ biến tài liệu hướng dẫn tư vấn chống
bạo hành cho các cộng đồng ở nông thôn” của tác giả Lê Thị Mai đã đưa ra
một số nhận định về nguyên nhân của BLGĐ, cách phân chia BLGĐ thành
các loại khác nhau. Cùng với việc nêu ra những hậu quả nghiêm trọng của
nạn bạo hành trong gia đình. Báo cáo còn đo lường nhận thức của người dân,
cán bộ HLHPN, cán bộ tổ hoà giải tại các địa bàn nghiên cứu. Nghiên cứu
đưa ra một yêu cầu là cần có biện pháp can thiệp bằng việc tiếp cận tâm lý
ngay tại cộng đồng.
Ngoài ra còn rất nhiều tác phẩm, các nghiên cứu và các bài viết về
BLGĐ được đăng trên các tạp chí, các trang báo và các hình thức khác. Tuy
nhiên các nghiên cứu về vai trò của truyền thông trong phòng và chống
BLGĐ đặc biệt là ở Việt Nam còn chưa nhiều
7
3. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở xem xét những tác động của công tác truyền thông trong
việc phòng và chống BLGĐ đề tài này hướng tới việc xây dựng một hệ thống
can thiệp có hiệu quả trong phòng và chống BLGĐ, nhằm thực hiện mục tiêu
xây dựng một xã hội dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn
minh.
3.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Mô tả thực trạng BLGĐ và hoạt động truyền thông trong phòng và
chống BLGĐ tại địa phương.
- Phân tích vai trò của truyền thông đối với vấn đề phòng và chống
BLGĐ.
2006 đến năm 2008.
Do giới hạn về thời gian, kinh phí và khả năng nghiên cứu cho nên trong
công trình nghiên cứu này chúng tôi chỉ tập trung vào một số vấn đề cơ bản như
sau: thực trạng của công tác truyền thông, tác động của truyền thông đối với vấn
đề phòng chống BLGĐ, đề xuất một số giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả
của công tác truyền thông trong phòng và chống BLGĐ. Tuy nhiên một thực tế
cho thấy rằng nghiên cứu về truyền thông không phải là một vấn đề mới nhưng
truyền thông trong phòng và chống BLGĐ trong Công tác xã hội là một vấn đề
mới. Mặt khác nghiên cứu khóa luận đối với sinh viên chỉ là bước tập dượt và
khó khăn do bị giới hạn về kiến thức và kinh nghiệm. Chính vì vậy tác giả của
công trình nghiên cứu này không tham vọng sẽ giải quyết tất cả các nội dung
trên mà chỉ đi sâu vào tìm hiểu vai trò của truyền thông trong phòng và chống
BLGĐ dựa trên cơ sở xem xét các vấn đề có liên quan.
9
5. Giả thuyết nghiên cứu
- Bạo lực gia đình là vấn đề nhức nhối của địa phương.
- Truyền thông có vai trò tích cực trong việc thay đổi nhận thức và
hành vi của người dân trong phòng và chống BLGĐ.
- Cần có những giải pháp cụ thể và thiết thực để nâng cao hơn nữa hiệu
quả củ truyền thông trong phòng và chống BLGĐ như: nâng cao hơn nữa chất
lượng của đội ngũ truyền thông, đầu tư về mặt kinh phí và phương tiện kỹ
thuật cho quá trình truyền thông…
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu này được tiến hành dựa trên phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các nguyên lý của chủ
nghĩa duy vậy biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử như: nguyên lý về sự
phát triển, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến… giúp chúng ta hình thành và
khai thác các hiện tượng có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động
truyền thông trong phòng chống BLGĐ tại địa phương.
6.2.3. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc
Phỏng vấn bán cấu trúc được thực hiện 12 cuộc phỏng vấn bao gồm các
đối tượng gồm: 7 người dân tại thôn 6, thôn 8, thôn 1 của xã Thuỷ Phương là
những người có liên quan đến nạn BLGĐ như: con cái, cha mẹ, hàng xóm,
những người chứng kiến hiện tượng BLGĐ, và 2 cán bộ lãnh đạo địa phương
và 3 cán bộ trực tiếp thực hiện công tác truyền thông tại địa phương. Phỏng
vấn bán cấu trúc nhằm thu thập thông tin về thực trạng BLGĐ, về cách nhìn
nhận của người dân về vấn đề BLGĐ và phòng chống BLGĐ, về thực trạng
của hoạt động truyền thông và ảnh hưởng nó tới việc thay đổi hành vi và nhận
11
thức của người dân đối với vấn đề BLGĐ. Thông qua những ý của các cán bộ
lãnh đạo địa phương, cán bộ truyền thông và ý kiến của những người dân cho
ta thấy được một cách chính xác những vấn đề xảy ra xung quanh quá trình
hoạt động truyền thông nói riêng và vấn đề BLGĐ nói chung ở địa phương.
6.2.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
Đã có 10 cuộc được thực hiện trên các đối tượng: 5 người là nạn nhân của
nạn BLGĐ, 5 người là những người gây ra BLGĐ. Quá trình phỏng vấn sâu
cho phép chúng ta thu thập được những thông tin liên quan đến đời sống tâm
lý của nạn nhân BLGĐ, diễn tiến của hành vi bạo lực trong khuôn khổ đời
sống các nhân của những con người cụ thể. Những thông tin đi sâu khám phá
tác động của BLGĐ làm tổn thương đến tâm lý của những nạn nhân, tác động
của truyền thông trong việc làm thay đổi nhận thức và hành vi của người dân
về BLGĐ mà các phương pháp khác không khai thác hoặc khó khai thác
được.
Như chúng ta đã biết BLGĐ là một vấn đề tế nhị và nhạy cảm chính vì
vậy mà cần đảm bảo tính khuyết danh của người được phỏng vấn nhằm làm
cho vấn đề được nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan hơn.
6.2.5. Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
Thảo luận nhóm tập trung được sử dụng để thu thập thông tin về vai trò
của truyền thông đối với công tác phòng và chống BLGĐ và các giải pháp
tại địa phương.
Chủ đề: Nâng cao hiệu quả của công tác truyền thông trong phòng và
chống BLGĐ.
13
* Mục đích
- Tác động của truyền thông đối với việc phòng và chống BLGĐ.
- Tìm hiểu những khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình truyền
thông.
- Giải pháp khắc phục những
khó khăn trong công tác truyền thông.
- Tìm ra các hướng để thúc đẩy
quá trình truyền thông đối với việc
phòng và chống BLGĐ mang lại hiệu
quả hơn.
Cuộc thảo luận nhóm
cán bộ thức hiện truyền thông
7. Đóng góp của đề tài
7.1. Đóng góp về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần kiểm chứng và làm sáng tỏ các lý
thuyết xã hội học: lý thuyết học hỏi, lý thuyết hệ thống, lý thuyết tâm lý năng
động
7.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
Đối với xã hội: Việc nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người
dân là một trong những yếu tố quan trọng trong công tác phòng chống BLGĐ
giúp cho mọi gia có một cuộc sống bình yên, hạnh phúc, đồng thời góp phần
bình ổn xã hội và phát triển đất nước. Chính vì vậy kết quả nghiên cứu giúp
chúng ta có cái nhìn đúng đắn hơn về những hiện tượng xảy ra xung quanh
vấn đề BLGĐ như: các hình thức BLGĐ, thực trạng của bạo lực gia đình,
cách nhìn nhận của người dân về BLGĐ Đặc biệt báo cáo giúp cho những
người dân tại địa phương hiểu rõ hơn về thực trạng và hậu quả nghiêm trọng
gồm: Các khái niệm cơ bản của đề tài, một số lý thuyết cơ bản được áp dụng
cho quá trình nghiên cứu
Chương 2: Trình bày kết quả nghiên cứu bao gồm: Vài nét về địa bàn
nghiên cứu, thực trạng của BLGĐ và hoạt động truyền thông trong phòng
chống BLGĐ tại địa bàn nghiên cứu, vai trò của truyền thông trong phòng và
chống BLGĐ, một số hạn chế của truyền thông trong phòng và chống BLGĐ
tại địa phương.
Phần kết luận và khuyến nghị.
16
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Các khái niêm công cụ
1.1.1. Khái niệm truyền thông
Có rất nhiều cách hiểu về truyền thông. Theo tác giả Mai Quỳnh Nam:
Truyền thông là một dạng căn bản của hành vi con người trong xã hội. Đó là
cơ chế để các liên hệ của con người tồn tại và phát triển. [41;Tr.1]
Theo cách tiếp cận mang tính văn hoá của Keyton (2005) thì truyền
thông là một quá trình tương tác phức hợp và liên tục giữa các thành viên và
thông qua quá trình đó các thành tố của văn hoá được nhận thức và chia sẻ.
[36; Tr.5]
Trong Luật phòng chống BLGĐ của nước ta cũng nêu rõ: Thông
thông, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình là những hành động
nhằm làm thay đổi nhận thức, hành vi về bạo lực gia đình, góp phần tiến tới
xoá bỏ bạo lực gia đình và nâng cao nhận thức về truyền thống tốt đẹp của
con người. [32, Tr.12]
Trong các khái niệm trên thì khái niệm được đưa ra trong luật phòng
chống BLGĐ là khái niệm phù hợp hơn với nội dung của đề tài nghiên cứu vì
khái niệm đã khái quát lên được nhiệm vụ của truyền thông trong phòng và
chống BLGĐ.
1.1.2. Khái niệm gia đình
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội thu nhỏ mà
thành viên đó không thay đổi hoặc thay đổi theo hướng tiêu cực.
Khi áp dụng vào nghiên cứu này ta thấy. Nếu trong CLB “Hạnh phức
gia đình” có một thành viên gây ra bạo lực thì sẽ bị các thành viên khác trong
18
CLB phê phán, quá trình phê phán có thể là trực tiếp hoặc có thể là gián tiếp
thông qua các buổi sinh hoạt. Sự phê phán này của các thành viên trong câu
lạc bộ sẽ tác động lên cá nhân đó theo hai hướng: Một là làm cho cá nhân đó
thay đổi hành vi không còn gây bạo lực nữa, hai là cá nhân đó không thay đổi
mà hành vi gây bạo lục đó sẽ được duy trì chính vì vậy mà vai trò tác động
của truyền thông thông qua CLB là rất lớn trong việc thay đổ nhận thức và
hành vi của mỗi cá nhân.
1.2.2. Thuyết hệ thống
Thuyết hệ thống của Parsons ra đời vào năm 1951. Thuyết hệ thống nói
tới vai trò của các cá nhân trong một nhóm. Theo ông nhóm là một hệ thống,
bên trong các yếu tố tác động lẫn nhau. Khi nói hệ thống có nhiều bộ phận tuỳ
thuộc lẫn nhau như một mắt xích. Và các mắt xích này liên kết với nhau tạo
thành một hệ thống chặt chẽ. Nếu một bộ phận bị lỗi thì ảnh hưởng đến cả
một hệ thống. Cũng như trong một nhóm các cá nhân có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau khi có một cá nhân thay đổi thì sẽ ảnh hưởng tới các cá nhân khác.
Áp dụng lý thuyết hệ thống vào nghiên cứu này ta thấy được gia đình là
một nhóm hay một tiểu hệ thống mà các cá nhân trong gia đình là một thành
phần của hệ thống đó. Các cá nhân liên kết với nhau tạo nên một gia đình lớn
mạnh và chặt chẽ nhưng khi một thành viên nào đó trong gia đình có những
thay đổi hành vi không phù hợp (gây bạo lực) thì các thành viên còn lại sẽ bi
ảnh hưởng. Hay ta vẫn thấy gia đình là một tế bào của xã hội. Các gia đình
liên kết lại tạo thành một hệ thống xã hội. Khi một gia đình có gây bạo lực
thì xã hôi cũng sẽ bị ảnh hưởng (nạn ly hôn tăng, tệ nạn xã hội tăng, ảnh
hưởng đến thế hệ trẻ…).
1.2.3. Thuyết tâm lý năng động
Thuyết tâm lý năng động của Freud và Frank Moreno ra đời vào năm
Hương Thủy là một huyện nằm ở phía nam của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Phía Bắc giáp với thành phố Huế, phía Nam giáp với huyện Phú Lộc, phía
Tây giáp huyện Nam Đông, phía Đông giáp huyện Phú Vang. [37,Tr.1]
Xã Thuỷ Phương là một xã nằm ở phía Bắc của huyện Hương Thuỷ
nằm cách phía nam thành phố Huế khoảng 3km trên tuyến Quốc lộ 1A. Diện
tích của toàn xã là 1257 ha. Vị trí địa lý bao gồm: phía Bắc giáp xã Thuỷ
Dương, phía Nam giáp xã Thuỷ Bằng, phía Tây và Đông giáp xã Thuỷ Châu.
Địa hình tự nhiên xã chủ yêú là đồng bằng (chiếm 78% diện tích), một diện
tích nhỏ là các đồi núi ở phía Tây và một số đầm phá ở phía Đông. Xã Thủy
Phương cũng là một trong những xã của huyện Hương Thủy có tuyến quốc lộ
1A chạy qua. Đây là một điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu và phát triển
kinh tế của xã. Về khí hậu, Thủy Phương mang nét đặc trưng khí hậu của tỉnh
Thừa Thiên Huế là nóng ẩm và mưa nhiều. Tuy nhiên cũng giống như các địa
bàn xã khác trên cả tỉnh Thủy Phương cũng thường xuyên chịu ảnh hưởng lớn
của hiện tượng lũ lụt đặc biệt vào mùa mưa. Đây cũng là một trở ngại cho sản
xuất kinh tế nhất là đối với sản xuất nông nghiệp. [39;Tr.1]
21
2.1.2. Tình hình kinh tế, xã hội của xã Thủy Phương
Theo tổng điều tra dân số thời điểm 1/4/2008 dân số của toàn xã là
13000 người, với 3027 hộ. Đời sống của người dân chủ yếu dựa vào nông
nghiệp, khoảng 15% là ngành nghề dịch vụ và buôn bán. Xã Thuỷ Phương
được chia làm 11 khu vực dân cư bao gồm các thôn theo thứ tự từ thôn 1 đến
thôn 11.
Cơ cấu kinh tế của xã bao gồm: sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp - thương mại dịch vụ, công tác quản lí đất đai, công tác xây dựng cơ
bản.
Sản xuất nông nghiệp chủ yếu: trồng trọt, chăn nuôi. Trong đó: cây lúa
diện tích gieo trồng 142 ha, năng suất 53,1 tạ /ha, sản lượng đạt 7540 tấn, cây
lạc: Năm 2008 diện tích gieo trồng đạt 289 ha, năng suất bình quân đạt 23
tạ /ha, sản lượng đạt 664,7tấn. Ngoài ra trên địa bàn còn trồng trọt các loại
chức tốt ngày hội đại đoàn kết toàn dân. Đặc biệt tại địa phương đã tích cực
trong việc xây dựng các phong trào do HLHPN xã phát động như xây dựng
gia đình văn hóa, làng văn hóa… đây là một yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ
của các cá nhân trong gia đình, trong làng xã trở nên thân thiết và gắn bó hơn.
Bên cạnh những yếu tố văn hoá hiện đại thì yếu tố văn hoá truyền thống
cũng là một trong những thế mạnh trong nền văn hoá của xã. Các loại lễ hội
tôn giáo, lễ hội dân gian, lễ hội văn hoá mang đậm những bản sắc riêng. Tuy
nhiên một thực tế cho ta thấy rằng nên văn hoá truyền thống đã ăn sâu vào
trong đời sống của mỗi người dân địa phương đặc biệt là ảnh hưởng của: hệ
tư tưởng gia trưởng, chế độ phụ quyền, và một số hủ tục khác như cờ bạc,
rượu chè Đây là một yếu tố dẫn tới cách nhìn nhận và những hành vi sai
lệch của người dân có liên quan đến BLGĐ và nó tác động trực tiếp đến thực
trạng BLGĐ của địa phương. [39,Tr.2]
23
2.2. Thực trạng về BLGĐ và hoạt động truyền thông trong phòng
chống BLGĐ ở xã Thủy Phương
2.2.1. Thực trạng BLGĐ ở địa bàn nghiên cứu
Trong những năm qua, mặc dù công cuộc vận động xây dựng gia đình
văn hóa và sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đạt được những bước tiến bộ quan
trọng, nhưng vấn đề BLGĐ ở nước ta vẫn đang xảy ra và trở thành một vấn
đề nóng bỏng của xã hội. Những năm gần đây hiện tượng BLGĐ được phản
ánh nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Theo báo cáo của Bộ
Công an, trên phạm vi toàn quốc thì cứ khoảng 2 - 3 ngày có một người bị
giết liên quan đến BLGĐ. Trong năm 2005, có 14% số vụ giết người liên
quan đến BLGĐ (151/1113 vụ). Ba tháng đầu năm 2006 tỷ lệ này là 30,5%
(26/77 vụ). [1,Tr.5]
Theo báo cáo của Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết các vụ
kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì năm 1998 các cơ quan tòa án trên
cả nước đã thụ lý 55.419 vụ ly hôn, trong đó có 28.686 vụ ly hôn do mâu
thuẫn gia đình, người vợ bị đánh đập ngược đãi, chiếm tỷ lệ 52 %. Sang năm