ĐỀ CƯƠNG ÔN THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Câu 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trải qua những giai đoạn hình thành và phát
triển nào? Tại sao nói đến năm 1930, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách
mạng Việt Nam được hình thành về cơ bản?
*Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trải qua những giai đoạn hình thành và phát
triển
- Giai đoạn từ năm 1890 – 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cách
mạng
- Giai đoạn từ năm 1911 – 1920: Tìm tòi khảo nghiệm con đường cứu nước và tìm
thấy con đường cứu nước giải phóng dân tộc.
- Giai đoạn từ 1921 – 1930: Tư tưởng HCM được hình thành cơ bản tư tưởng về
cách mạng Việt Nam
- Giai đoạn từ 1930 – 1945: Người vượt qua khó khăn thử thách, nhưng Người vẫn
kiên trì giữ vững lập trường cách mạng
- Giai đoạn từ 1945 – 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, hòan thiện
* Đến năm 1930, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt
Nam được hình thành về cơ bản. Bởi vì, đến đây, Hồ Chí Minh đã tìm thấy lời giải
cho những vấn đề cơ bản nhất của cách mạng Việt Nam. Đó là tư tưởng Hồ Chí
Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, tư tưởng này được hoàn thiện trong
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930
cụ thể:
- Xác địng rõ con đường, mục tiêu của cách mạng Việt Nam: con đường
cách mạng vô sản mà nội dung là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa
cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, thực chất là con đường độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội
- Xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế
giới, nằm trong quỹ đạo của cách mạng vô sản thế giới
- Xác định lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam là Đảng Cộng sản
1
- Động lực của cách mạng là khối đại đoàn kết dân tộc mà nòng cốt là liên
cửa, khác với chính sách của triều đình phong kiến Nhà Nguyễn là bế quan, tỏa cảng.
Cùng với chính sách mở cửa, những làn sóng văn hóa từ bên ngoài có điều kiện xâm
nhập vào Việt Nam, trong đó có làn sóng văn hóa của các cuộc cách mạng tư sản như
Minh Trị của Nhật Bản, Tân Hợi Trung Quốc, cách mạng tư sản Anh(1640), cách mạng
Mỹ(1776), cách mạng Pháp(1789)…Chịu ảnh hưởng bởi các cuộc cách mạng tư sản,
phong trào đấu tranh yêu nước Việt Nam lúc này lại mang một màu sắc mới, đó là cuộc
đấu tranh theo hệ tư tưởng tư sản, tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn
Thái Học… nhưng tất cả đều thất bại. Phong trào yêu nước Việt Nam đang lâm vào một
cảnh khó khăn, khủng hoảng về con đường đấu tranh để giải phóng dân tộc khỏi chủ
nghĩa thực dân để giành độc lập dân cho dân tộc
- Quê hương và gia đình:
HCm sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước có truyền thống
Thân phụ: cụ Nguyễn Sinh sắc là một nhà nho yêu nước có cái nhìn cấp
tiến, cụ có tư tưởng lấy dân làm gốc, lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cuộc cải cách
chính trị xã hội của mình. Chính tấm gương hiếu học, vợt mọi khó khăn, nếp sống
giản dị, thanh bạch của môth nhà nho là những nhân tố tác động đến việc hình
thành tư tưởng của HCM sau này.
Bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu của Bác là một người phụ nữ tiêu biểu cho
những người pn Việt Nam, Với đức tính chịu thương chịu khó, tần tảo, chung thủy
và hi sinh cả cuộc đời cho chồng cho con. Thấy được vai trò và công lao của
người mẹ sau này Bác đã sớm đề ra tư tưởng GPPN.
Anh và chị của Bác đều là những người tham gia hoạt động cách mạng sôi
nổi, bị tù đày nhưng lúc nào cũng thể hiẹn tinh thần kiên trung.
Nghệ Tĩnh quê hương của Hồ Chí Minh là vùng đất địa linh nhân kiệt, đây
là quê hương của những Danh nhân văn hóa thế giới, là quê hương của những anh
hùng chống giặc như: Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Mai Thúc Loan. Một vùng quê
giàu truyền thống cách mạng
Bối cảnh thời đại đầu thế kỷ XX
3
+ Khi Nguyễn Ái Quốc bước lên vũ đài chính trị Chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh
dân tộc, vì phương hướng phát triển dân tộc quy định những yêu cầu và nội
dung trước mắt của cuộc đấu tranh giành độc lập. Mỗi phương hướng phát
triển gắn liền với một hệ tư tưởng và một giai cấp nhất định.
4
Từ thực tiễn phong trào cứu nước của ông cha và lịch sử nhân loại, HCM
khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trng bối cảnh thời đại mới
là CNXH.
+ Hoạch định con đường phát triển của dân tộc thuộc địa là một vấn
đề hết sức mới mẽ. Từ một nước thuộc địa đi lên CNXH phải trải qua nhiều
giai đoạn chiến lược khác nhau. Trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng Cộng Sản VN, HCM viết: “làm tư sản dân quyền CM và thổ địa CM
để đi tới xã hộ Cộng Sản” con đường đó kết hợp trong đó cả nội dung dân
tộc, dân chủ và CNXH; xét về thực chất chính là con đường độc lập dân tộc
gắn liền với CNXH.
+ “Đi tới xã hội Cộng Sản” là hướng phát triển lâu dài. Nó quy định
vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, đoàn kết mọi lực lượng dân tộc, tiến
hành các cuộc CM chống đế quốc và chống phong kiến cho triệt để. Con
đường đó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở thuộc địa. Đó cũng là nét
độ đáo, khác biệt với con đường phát triển của các dân tộc đã phát triển lên
CNTB ở phương tây.
+ Độc lập dân tộc là nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa.
- Hồ Chí Minh tiếp cận quyền dân tộc từ quyền con người được xác lập từ
giá trị cách mạng thế giới mang lại.
Nhận thức về quyền con người của Hồ Chí Minh là sự kế thừa những
giá trị tư tưởng trong hai bản Tuyên ngôn Độc lập của Cách mạng Mỹ 1776
và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1791, trong
Tuyên ngôn độc lập của Mỹ khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có
quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm
được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền
mưu cầu hạnh phúc”. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách
+ Độc lập là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của các dân tộc
6
+ Độc lập dân tộc phải gắn liền với bình đẳng dân tộc, quyền tự quyết tự lựa
chọn con đường phát triển mà không lệ thuộc bên ngoài
+ Nền độc lập dân tộc phải găn với các quyền tự do cơ bản gắn lền với dân chủ
+ Độc lập phải gắn liền với CNXH
Chính vì khát vọng mang đến độc lập cho dân tộc nên cả cuộc đời
của Người đã phấn đấu không mệt mỏi vì sự nghiệp đó. Khi sáng lập ra
Đảng Cộng sản Việt Nam 1930, Người xác định mục tiêu chính trị của Đảng
là: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước
Nam được hoàn toàn độc lập”
Khi trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người chủ trì Hội
nghị Trung ương lần thứ 8(5.1941) và trong thư Kính cáo đồng bào, chỉ rõ:
“Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”
1
. Khi thời cơ
thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa đã đến, Người đưa ra quyết tâm “Dù có phải
đốt cháy cả dãy Trường sơn này cũng phải giành cho được độc lập dân
tộc”. Cách mạng Tháng 8 thành công, Người khẳng định cho thế giới biết
khát vọng của dân tộc Việt Nam “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và
độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt
Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ
vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Đối với Hồ Chí Minh, hoà bình chân chính trong nền độc lập dân tộc để
nhân dân xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cũng là quyền cơ bản của
dân tộc. Hoà bình không thể tách rời độc lập dân tộc, và muốn có hoà bình
thật sự thì phải có độc lập thật sự. Hồ Chí Minh đã nêu: “Nhân dân chúng
tôi thành thật mong muốn hoà bình. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên
quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ độc lập và chủ quyền thiêng liêng nhất:
1
tổng quát của chủ nghĩa xã hội
a) Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
- Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ khát vọng giải phóng dân tộc Việt Nam.
- Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ phương diện đạo đức và nhân văn.
- Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ văn hóa và con người Việt Nam.
b) Bản chất và đặc trưng tổng quát của chủ nghĩa xã hội
Quan niệm của Hồ Chí Minh về bản chất của chủ nghĩa xã hội là thống nhất với
các nhà kinh điển. Bằng thực tiễn chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, vào thời
điểm khác nhau Người đã nêu bản chất của chủ nghĩa xã hội thông qua các cách định
nghĩa khác nhau là:
- Định nghĩa chủ nghĩa xã hội như là một chế độ hoàn chỉnh, bao gồm nhiều mặt
khác nhau của đời sống: Làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, mọi người đều
có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc. Mục tiêu là giải phóng
nhân dân lao động khỏi nghèo nàn, lạc hậu.
- Định nghĩa chủ nghĩa xã hội là một mặt nào đó (kinh tế, chính trị…). Nhiệm vụ
quan trọng nhất là phát triển sản xuất. Sản xuất là mặt trận chính của chúng ta. Người
viết:… “lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng làm của chung. Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm
ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên trừ những người già cả, đau yếu và trẻ
em…”.
- Hồ Chí Minh tiếp cận bằng cách xác định mục tiêu của chủ nghĩa xã hội: không
có người bóc lột người, ai cũng phải lao động, có quyền lao động; thực hiện công bằng,
bình đẳng… “là mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng tự do”, “là đoàn kết, vui
khoẻ”…
Từ những khái quát đó, chúng ta có thể thấy, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh chủ
nghĩa xã hội trên các phương diện như:
+ Chủ nghĩa xã hội là một chế độ chính trị do nhân dân lao động làm chủ.
9
+ Chủ nghĩa xã hội là một chế độ có nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự
phát triển của khoa học - kỹ thuật. Nền tảng kinh tế là chế độ sở hữu xã hội về tư liệu
sản xuất, thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, không còn người bóc lột
vào bức tường đó, chúng đều bị thất bại. Nhờ có sự đồng tâm hiệp lực mà với gậy tầm
vong và súng hỏa mai lúc đầu, chúng ta đã liên tiếp thắng địch. Nhờ sự đoàn kết mà lần
đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc bị áp bức đã đánh bại cuộc xâm lược của một đế quốc
hùng mạnh, đã giành độc lập cho dân tộc, đem lại ruộng đất cho dân cày, đưa lại quyền
dân chủ thực sự cho nhân dân.
b) Đoàn kết dân tộc là mục tiêu nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc
- Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu nhiệm vụ hàng đầu của Đảng
Tư tưởng này, được Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ trong thư gửi các bạn cùng hoạt
động ở Pháp năm 1923. Mở đầu Người viết: Chúng ta phải làm gì? Đối với tôi, câu trả lời
rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện
họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập. Tư tưởng Đại đoàn kết của Hồ Chí Minh
hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử cụ thể, đã trở thành chiến lược
Đoàn kết của Đảng ta. Sớm nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề năm 1925, Người
đã thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đòng chí hội. Đây là tổ chức hạt nhân để
sau khi về nước họ quy tụ toàn dân Việt Nam cùng tiến tới đồng tình, đồng sức, đồng
lòng, đồng minh nhằm cứu nước nhà.
Người căn dặn cán bộ rằng, chuẩn bị đấu tranh trước hết phải tuyên truyền mạnh
mẽ để lôi cuốn đa số quần chúng tham gia. Chính vì vậy mà Người nói, nhiệm vụ huấn
luyện của ta là, thứ nhất, là đoàn kết; thứ hai là làm cách mạng kháng chiến để giành độc
lập… và điều đó được thể hiện rất rõ trong mục đích của Đảng ta là: Đoàn kết toàn dân
phụng sự Tổ quốc, khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh chủ trương không ngừng
tăng cường củng cố vững chắc hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội làm cho mục đích
cuộc cách mạng của dân, do dân và vì dân ngày càng mang lại hiệu quả thiết thực cho
toàn dân, đồng thời ngày càng huy động được đông đảo nhất dân chúng, không bỏ sót
một ai vào khối Đại đoàn kết toàn dân.
11
- Đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng nhân
dân vì vậy Đảng phải có sứ mệnh tập hợp, giác ngộ, chuyển những đòi hỏi khách quan tự
phát của quần chúng thành tự giác
Câu 6: Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về các nguyên tắc tổ chức, sinh
bọc lẫn nhau.
Thứ tư, là nguyên tắc kỷ luật nghiêm minh và tự giác
Đây là sức mạnh to lớn của Đảng. Kỷ luật phải do lòng tự giác của mỗi đảng viên
về nhiệm vụ của họ đối với Đảng. Việc đề cao kỷ luật Đảng đối với mỗi cán bộ đảng viên
từ trên xuống dưới là điều kiện tăng thêm uy tín và sức mạnh của Đảng. Hồ Chí Minh
mỗi đảng viên phải phục tùng kỷ luật Đảng vô điều kiện, tất cả các đảng viên đều bình
đẳng trước Điều lệ Đảng. Chấp hành kỷ luật Đảng, là tất cả mọi đảng viên đều nói và làm
đúng theo Nghị quyết của Đảng.
Thứ năm, là nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng
Đoàn kết theo Hồ Chí Minh là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của
dân tộc ta. Người căn dặn các đồng chí đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong
Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Để thực hiện đoàn kết, Người yêu cầu phải
thực hiện dân chủ nội bộ, thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình thằng thắn
nghiêm túc. Đối với Hồ Chí Minh, là cán bộ đảng viên, chúng ta không chỉ có nhiệm vụ
đoàn kết trong Đảng mà còn phải đoàn kết rộng rãi trong xã hội và đặc biệt là phải có
nhiệm vụ thực hiện đoàn kết giữa các đảng anh em trên thế giới, nối lại sự đoàn kết giữa
Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Liên xô, trên tinh thần phê bình có tình có
lý được xác lập trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin.
2. Ý nghĩa của các nguyên tắc đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay
- Định hướng cho công tác tổ chức, sinh hoạt Đảng, đảm bảo cho Đảng ta thật sự
là một đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng trong
giai đoạn mới.
- Xác định rõ các vấn đề trong tổ chức, sinh hoạt Đảng: Mở rộng dân chủ gắn liền
với tăng cường kỷ cương; thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình; tăng
cường trách nhiệm của cá nhân đảng viên trong giai đoạn mới
13
Câu 7: Phân tích định nghĩa của Hồ Chí Minh về dân chủ. Làm rõ mối quan
hệ về dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Dân chủ là khát vọng muôn đời của nhân dân. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân
chủ được Người kiến giải một cách giản dị, dễ hiểu, Người không định nghĩa dân chủ
trọng nhất, đó là: Dân chủ trong chính trị, dân chủ trong kinh tế và dân chủ trong văn hóa,
tư tưởng.
Thực hiện dân chủ trong chính trị Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến việc thực
hiện dân chủ trong Nhà nước, trong Đảng và trong các tổ chức chính trị - xã hội khác.
Dân chủ trong kinh tế theo Hồ Chí Minh là để đảm bảo quyền làm chủ về kinh tế
của người lao động, của nhân dân. Điểm cốt lõi của dân chủ trong kinh tế là lợi ích. Thực
hiện dân chủ trong kinh tế thì Chính phủ nhằm phục vụ lợi ích cho nhân dân, bao nhiêu
lợi ích đều vì dân, Nhà nước phải lo làm lợi cho dân. Để người dân thực sư làm chủ về
kinh tế, theo Hồ Chí Minh phải thực hiện phân phối công bằng và hợp lý.
Dân chủ trong văn hóa, tư tưởng, đó là phải đem văn hóa lãnh đạo quốc dân để
thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ. Phải xây dựng nền văn hóa mới đảm bảo tính dân
tộc, khoa học và đại chúng. Trong chế độ dân chủ, Hồ Chí Minh yêu cầu phải thực hiện
tự do tư tưởng, tôn trọng ý kiến của mọi cá nhân.
Mối quan hệ dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội(giữa dân chủ trong
chính trị với dân chủ trong kinh tế và văn hóa, tư tưởng). Dân chủ trong chính trị đóng
vai trò đặc biệt quan trọng, dân chủ trong kinh tế là quyết định, dân chủ trong văn hóa tư
tưởng là cần thiết và cấp bách. Ba lĩnh vực này tạo ra một mối quan hệ mật thiết hữu cơ
không thể tách rời và không được xem nhẹ lĩnh vực nào.
Câu 8: Phân tích quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân và
vì dân. Từ đó rút ra ý nghĩa đối với xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam
hiện nay
Nhà nước của dân
Đó là một Nhà nước thể hiện đầy đủ tư tưởng bao nhiêu quyền hạn đều của dân,
nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, nguồn gốc của quyền lực nhà nước bắt
nguồn từ nhân dân. Điều 1 Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Năm 1946)
15
nói: Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của
toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp,
tôn giáo.
Điều 32, viết: Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân
Minh khẳng định: “Không có nhân dân thì chính phủ không đủ lực lượng, còn nhân dân
mà không có chính phủ thì nhân dân không có ai dẫn đường”; lực lượng bao nhiêu đều ở
dân hết, công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân; sự nghiệp kháng chiến, kiến
quốc là công việc của dân.
Nhà nước do dân tức là công việc xây dựng đất nước là trách nhiệm của dân. Do
đó phải phát huy được vai trò của mặt trận, các đoàn thể trong công tác quản lý nhà nước
và xã hội. Nhà nước muốn điều hành quản lý xã hội có hiệu lực, hiệu quả, nhất định phải
dựa vào lực lượng của dân, dựa vào sáng kiến và trí tuệ của dân. Nhà nước do dân trong
tư tưởng Hồ Chí Minh là “dân tự làm, tự lo thông qua các mối quan hệ xã hội, qua các
đoàn thể, chứ không phải do nhà nước bao cấp, lo thay cho dân. Chức năng của nhà nước
là điều hành vĩ mô, Chính phủ chỉ giúp kế hoạch, cổ động”. CHính vì vậy mà nhà nước
do dân là nhà nước tin dân và dân tin nhà nước.
c) Nhà nước vì dân
Đó là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, không
có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính. Trong nhà nước đó, cán
bộ từ chủ tịch trở xuống đều là công bộc của dân.
“Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm,
Việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh”
Nhà nước vì dân là nhà nước làm lợi cho dân, theo Hồ Chí Minh không chỉ làm
lợi cho dân, mà còn phải yêu dân, kính dân “chúng ta phải yêu dân thì dân mới yêu
chúng ta”. Nhà nước vì dân là nhà nước mọi chủ trương chính sách, mọi quy định của
pháp luật từ trung ương xuống địa phương đều phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân , cả
lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, cả lợi ích cá nhân và tập thể và xã hội trong sự kết hợp
hài hòa. Nhà nước vì dân phải “làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân co
chỗ ở; làm cho dân có học hành”. Nhà nước vì dân là nhà nước có trách nhiệm và chịu
trách nhiệm trước dân, Người nói: “Nếu để dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu để
17
dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu để dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi”. Nhà
nước vì dân là nhà nước sống trong lòng dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.
+ Ý nghĩa
- Phương châm bao gồm: học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tế; học tập kết
hợp với lao động; phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội; thực hiện dân chủ, bình đẳng
trong giáo dục; học suốt đời. Coi trọng việc tự học, tự đào tạo và đào tạo lại. Học ở mọi
lúc, mọi nơi, học mọi người. Phương pháp giáo dục phải xuất phát và bám chắc vào mục
tiêu giáo dục. Giáo dục là một khoa học nên cách dạy phải phù hợp với lứa tuổi; dạy từ
dễ đến khó; kết hợp học tập với vui chơi có ích, lành mạnh; giáo dục phải dùng phương
pháp nêu gương; giáo dục phải gắn liền với thi đua.
18
- Quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên vì không có giáo viên thì không có giáo dục.
Phải xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất yêu nghề; phải có đạo đức cách mạng;
phải yên tâm công tác, đoàn kết; phải giỏi về chuyên môn, thuần thục về phương pháp.
Người đi giáo dục cũng phải được giáo dục, phải học thêm mãi, học không bao giờ đủ,
còn sống còn phải học.
Câu 10: Trình bày quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức
cách mạng.
Trung với nước, hiếu với dân
Trong mối quan hệ đạo đức thì mối quan hệ giữa mỗi người với đất nước, với
nhân dân, với dân tộc là mối quan hệ lớn nhất. Trung, hiếu là phẩm chất đạo đức quan
trọng nhất, bao trùm nhất.
Trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống Việt
Nam và phương Đông, xong có nội dung hạn hẹp. Trung với vua, hiếu với cha mẹ, phản
ánh bổn phận của dân đối với vua, con đối với cha mẹ. Hồ Chí Minh đã vận dụng và đưa
vào nội dung mới. Hồ Chí Minh đã kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống và vượt
trội. Trung với nước là trung thành với sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Nước là của
dân, còn nhân dân là chủ của đất nước. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu
lợi ích đều vì dân. Đây là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Trung với nước, hiếu với dân là suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ
quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua,
kẻ thù nào cũng đánh thắng. Bác vừa kêu gọi hành động vừa định hướng chính trị- đạo
đức cho mỗi người Việt Nam.
mình là trộm vị. Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm là tham uý
lạo. Cụ Khổng nói: người mà không liêm, không bằng súc vật. Cụ Mạnh nói: ai cũng
tham lợi thì nước sẽ nguy.
Chính là không tà, thẳng thắn, đứng đắn. Đối với mình, với người, với việc.
Đối với mình, không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn kiểm
điểm mình để phát huy điều hay, sửa đổi điều dở.
20
Đối với người, không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới; luôn giữ thái độ
chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, không dối trá, lừa lọc.
Đối với việc, để việc công lên trên việc tư, làm việc gì cho đến nơi, đến chốn,
không ngại khó, nguy hiểm, cố gắng làm việc tốt cho dân cho nước.
Cần, kiệm, liêm, chính cần thiết đối với tất cả mọi người. Hồ Chí Minh viết:
Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính
Thiếu một mùa thì không thành trời
Thiếu một phương thì không thành đất
Thiếu một đức thì không thành người.
Cần, kiệm, liêm, chính rất cần thiết đối với người cán bộ, đảng viên. Nếu đảng
viên mắc sai lầm thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng. Cần,
kiệm, liêm, chính còn là thước đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh về tinh thần, sự văn
minh của dân tộc. “Nó” là cái cần để “làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự
Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại”.
Chí công vô tư, là làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì
Đảng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lợi ích của cách mạng. Thực hành chí công vô tư là
quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. “phải lo trước thiên hạ, vui
sau thiên hạ (tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc). Chủ nghĩa cá nhân
chỉ biết đến mình, muốn “mọi người vì mình”. Nó là giặc nội xâm, còn nguy hiểm hơn cả
giặc ngoại xâm. Hồ Chí Minh viết: “ Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm
qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay vẫn được mọi người yêu mến