PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT – PHƯƠNG PHÁP LUẬN
CỦA NHẬN THỨC KHOA HỌC & THỰC TIỄN
I. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÉP BIỆN CHỨNG & NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1. Khái quát lòch sử phép biện chứng
a) Phép siêu hình và phép biện chứng
Vấn đề về bản tính của thế giới
- Thực chất: Vấn đề về bản tính của thế giới là vấn đề nói về mối quan hệ giữa sự liên hệ và tách biệt, giữa sự vận
động và đứng im. Vấn đề này đòi trả lời câu hỏi sau: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới cô lập, tách biệt, đứng im, bất
động hay có liên hệ, ràng buộc lẫn nhau, không ngừng vận động, thay đổi?
- Cách giải quyết: Vấn đề về bản tính của thế giới có hai cách giải quyết đối lập nhau: Cách giải quyết siêu hình cho
rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới cô lập, tách biệt, đứng im, bất động. Cách giải quyết biện chứng cho rằng, mọi
sự vật, hiện tượng trong thế giới liên hệ, ràng buộc lẫn nhau, không ngừng vận động, thay đổi.
Phép siêu hình
- Thực chất: Phép siêu hình là một phương pháp triết học đòi hỏi phải xem xét sự vật, hiện tượng trong sự cô lập, tách
biệt, đứng im, bất động; còn nếu có sự liên hệ, vận động, thay đổi thì đó chỉ là sự liên hệ bên ngoài, sự vận động, thay đổi
đơn thuần về lượng,…. Phép siêu hình còn là một lý luận triết học bàn về những cái bản chất cô lập, bất biến của vạn vật
trong thế giới, tức Siêu hình học.
- Nguồn gốc, nguyên nhân tồn tại: Phép siêu hình xuất hiện là do việc xem xét một cách phiến diện, tuyệt đối hóa một
mặt hay một vài đặc tính nào đó của sự vật; là do việc xem xét tách rời, tuyệt đối hóa tính ổn đònh của sự vật (bản chất).
Phép siêu hình được hình thành còn do chúng ta tuyệt đối hóa, thần thánh hóa tri thức triết học.
Phép biện chứng
- Thực chất: Phép biện chứng là một phương pháp triết học đòi hỏi phải xem xét sự vật, hiện tượng trong sự liên hệ,
ràng buộc lẫn nhau, luôn vận động, phát triển. Phép biện chứng còn là một lý luận triết học bàn về mối liên hệ và sự vận
động, phát triển của vạn vật xảy ra trong thế giới.
- Hình thức: Phép biện chứng có ba hình thức cơ bản là: phép biện chứng chất phác, phép biện chứng duy tâm và phép
biện chứng duy vật.
Cuộc đấu tranh giữa phép siêu hình và phép biện chứng là một động lực thúc đẩy sự phát triển lòch sử triết học. Cuộc
đấu tranh này làm cho phép siêu hình ngày càng tinh vi, còn phép biện chứng ngày càng sâu sắc. Đó cũng là cuộc đấu
tranh để hoàn thiện năng lực nhận thức, nâng cao năng lực tư duy lý luận và năng lực cải tạo thế giới của con người.
b) Khái quát các hình thức lòch sử của phép biện chứng
Phép biện chứng chất phác
động lực của sự vận động, phát triển.
+ Trong triết học của Phíchtơ chứa đựng tư tưởng biện chứng về mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động, phát triển;
và là bản tính của tư duy (tinh thần, nhận thức).
+ Trong triết học của Sêlinh chứa đựng tư tưởng biện chứng về mối liên hệ phổ biến; về sự đồng nhất, thống nhất, đấu
tranh của các mặt đối lập (các lực lượng tinh thần đối lập) trong giới tự nhiên.
+ Trong triết học của Hêghen chứa đựng tư tưởng biện chứng về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển của cái tinh
thần. Phép biện chứng Hêghen là hệ thống lý luận về quá trình tự vận động, phát triển của ý niệm tuyệt đối [Ý niệm tuyệt
đối tự vận động trong chính nó (tư duy thuần túy), rồi nó tự tha hoá để biến nó thành cái khác nó (giới tự nhiên), sau đó, nó
tự khắc phục sự tha hóa đó để quay về với nó trong tinh thần tuyệt đối (xã hội)]. Phép biện chứng Hêghen bao gồm: Một là,
lý luận về tồn tại (cái bên ngoài, trực tiếp của ý niệm tuyệt đối, có thể nhận biết bằng cảm tính) thể hiện qua các phạm trù:
chất, lượng, độ; Hai là, lý luận về bản chất (cái bên trong, gián tiếp, đầy sự đối lập, mâu thuẫn của ý niệm tuyệt đối, chỉ
nhận biết bằng lý tính) thể hiện qua các phạm trù: hiện tượng – bản chất, ngẫu nhiên – tất nhiên, nội dung – hình thức, ;
Ba là, lý luận về khái niệm (sự thống nhất giữa tồn tại và bản chất) thể hiện qua các phạm trù: cái đơn nhất – cái đặc thù –
cái phổ biến, cái trừu tượng – cái cụ thể,…
- Phép biện chứng duy tâm là phép biện chứng tư duy, là phép biện chứng của khái niệm; nó mang tính tư biện, thần bí.
+ Phép biện chứng duy tâm là một hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù chuyển hóa lẫn nhau phản ánh mối liên
hệ và sự vận động, phát triển diễn ra trong thế giới tinh thần. Nó vừa là một hệ thống lý luận khá hoàn chỉnh về mối liên
hệ phổ biến và về sự phát triển vừa là một phương pháp tư duy triết học phổ biến. Phép biện chứng duy tâm đã hoàn thành
cuộc cách mạng về phương pháp, nhưng cuộc cách mạng đó xảy ra ở tận trên trời, chứ không phải xảy ra dưới trần gian,
trong cuộc sống hiện thực, do đó nó “không tránh khỏi tính chất gò ép, giả tạo, hư cấu, tóm lại là bò xuyên tạc”
3
.
+ Theo V.I.Lênin, những kết luận của phép biện chứng duy tâm trong nền triết học cổ điển Đức là những phỏng đoán
tài tình về “biện chứng của sự vật trong biện chứng của khái niệm”
4
.
+ “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở
thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng. Ở
Hêghen, phép biện chứng bò lộn đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái nhân hợp lý của nó ở đằng
sau cái vỏ thần bí của nó”
khách quan thì chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là sự
phản ánh sự chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thông qua những mặt đối lập, tức là những mặt, thông
qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa cuối cùng của chúng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập
kia”
9
.
+ Phép biện chứng duy vật vừa là thế giới quan duy vật biện chứng vừa là phương pháp luận biện chứng duy vật, vừa
là lôgích biện chứng vừa là nhận thức luận biện chứng duy vật. Về điều này, V.I.Lênin nhận xét như sau: “Mác không để
lại cho chúng ta “lôgíc học” (với chữ L viết hoa), nhưng đã để lại cho chúng ta lôgích của “Tư bản”, và cần phải tận dụng
đầy đủ nhất lôgích đó để giải quyết vấn đề mà chúng ta đang nghiên cứu. Trong “Tư bản”, Mác áp dụng lôgíc, phép biện
chứng và lý luận nhận thức (không cần ba từ: đó là cùng một cái duy nhất) của chủ nghóa duy vật vào một khoa học duy
nhất”
10
.
- Là đỉnh cao của tư duy nhân lọai, phép biện chứng duy vật mang tính tự giác, tính khoa học và tính cách mạng triệt để .
Nó được thể hiện trong một hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù chuyển hóa lẫn nhau phản ánh mối liên hệ và sự
vận động, phát triển xảy ra trong thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy con người).
2. Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
a) Nguyên lý là gì?
Nguyên lý là những luận điểm xuất phát (tư tưởng chủ đạo) của một học thuyết (lý luận) mà tính chân lý của nó là
hiển nhiên, tức không thể hay không cần phải chứng minh nhưng không mâu thuẫn với thực tiễn và nhận thức về lónh vực
mà học thuyết đó phản ánh.
Nguyên lý được khái quát từ kết quả hoạt động thực tiễn – nhận thức lâu dài của con người. Nó vừa là cơ sở lý luận
của học thuyết, vừa là công cụ tinh thần để nhận thức (lý giải – tiên đoán) và cải tạo thế giới.
Ý nghóa phương pháp luận của nguyên lý thể hiện qua các nguyên tắc tương ứng. Nguyên tắc là những yêu cầu nền
tảng đòi hỏi chủ thể phải tuân thủ đúng trình tự nhằm đạt mục đích đề ra một cách tối ưu.
Có hai loại nguyên lý: nguyên lý của khoa học (công lý, tiên đề, quy luật nền tảng) và nguyên lý của triết học. Phép
biện chứng duy vật có hai nguyên lý cơ bản. Đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển.
b) Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến
vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vò trí đơn giản cho đến
tư duy”
11
.
- Phát triển là khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn
thiện, do việc giải quyết mâu thuẫn trong bản thân sự vật gây ra, được thực hiện thông qua bước nhảy về chất, và diễn ra
theo xu hướng theo phủ đònh của phủ đònh. Ở khía cạnh khác, phát triển được xem là một khuynh hướng vận động tổng hợp
của một hệ thống sự vật, trong đó, sự vận động có thay đổi những quy đònh về chất (thay đổi kết cấu - tổ chức) của hệ
thống sự vật theo xu hướng tiến bộ giữ vai trò chủ đạo; còn sự vận động có thay đổi những quy đònh về chất của sự vật theo
xu hướng thoái bộ và sự vận động chỉ có thay đổi những quy đònh về lượng của sự vật theo xu hướng ổn đònh giữ vai trò phụ
đạo, cần thiết cho xu hướng chủ đạo trên. Theo cách hiểu này, trong quá trình phát triển của các hệ thống vật chất xảy ra
trong thế giới, không chỉ là sự thay đổi tiến bộ mà còn chứa trong mình những sự thay đổi thoái bộ tạm thời, không chỉ là sự
thay mà còn chứa trong mình những sự ổn đònh tương đối nữa.
+ “Hai quan điểm cơ bản… về sự phát triển (sự tiến hóa): sự phát triển coi như là giảm đi và tăng lên, như lập lại; và
phát triển coi như sự thống nhất của các mặt đối lập. Quan điểm thứ nhất thì chết cứng, nghèo nàn, khô khan. Quan điểm
thứ hai là sinh động. Chỉ có quan điểm thứ hai mới cho ta chìa khóa của “sự tự vận động”, của tất thảy mọi cái “đang tồn
tại”; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của những “bước nhảy vọt”, của “sự gián đoạn của tính tiệm tiến”, của “sự chuyển hóa
thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh ra cái mới”
12
.
+ Phát triển như sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập, giữa chất và lượng, giữa cái cũ và cái mới, giữa cái riêng và cái
chung, giữa nguyên nhân và kết quả, giữa nội dung và hình thức, giữa bản chất và hiện tượng, giữa tất nhiên và ngẫu
nhiên, giữa khả năng và hiện thực.
+ Phát triển là qúa trình tự thân của thế giới vật chất, mang tính khách quan, phổ biến và đa dạng: Phát triển trong giới
tự nhiên vô sinh; phát triển trong giới tự nhiên hữu sinh; phát triển trong xã hội; phát triển trong tư duy, tinh thần.
Nội dung nguyên lý
- Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều không ngừng vận động và phát triển.
- Phát triển mang tính khách quan - phổ biến, là khuynh hướng vận động tổng hợp tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện của một hệ thống vật chất, do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước
nhảy về chất gây ra và hướng theo xu thế phủ đònh của phủ đònh.
chúng luôn tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ đònh hay loại bỏ lẫn nhau. Hình thức và mức độ đấu tranh của các
mặt đối lập rất đa dạng, trong đó thủ tiêu lẫn nhau là một hình thức đấu tranh đặc biệt của các mặt đối lập.
- Chuyển hóa của các mặt đối lập (giải quyết mâu thuẫn biện chứng): Sự thống nhất mang tính tương đối gắn liền với
sự ổn đònh của sự vật; Sự đấu tranh mang tính tuyệt đối gắn liền với sự vận động, thay đổi của bản thân sự vật. Mâu thuẫn
biện chứng phát triển tương ứng với quá trình thống nhất các mặt đối lập chuyển từ mức độ trừu tượng sang cụ thể; còn sự
đấu tranh các mặt đối lập chuyển từ mức bình lặng sang quyết liệt. Điều này làm xuất hiện các khả năng chuyển hóa của
các mặt đối lập. Khi điều kiện khách quan hội đủ, một trong các khả năng đó sẽ biến thành hiện thực, các mặt đối lập tự
thực hiện quá trình chuyển hóa. Mâu thuẫn biện chứng sẽ được giải quyết khi các mặt đối lập tự phủ đònh chính mình để
biến thành cái khác. Có hai phương thức chuyển hóa: một là, mặt đối lập này chuyển hóa thành mặt đối lập kia ở một trình
độ mới; và hai là, cả hai mặt đối lập cùng chuyển hóa thành những cái thứ ba nào đó mà quy luật khách quan và điều kiện,
tình hình cho phép.
- Mâu thuẫn biện chứng, tức sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, tồn tại khách quan, phổ biến và rất đa
dạng (mâu thuẫn bên trong - mâu thuẫn bên ngoài; mâu thuẫn cơ bản - mâu thuẫn không cơ bản; mâu thuẫn chủ yếu - mâu
thuẫn thứ yếu; mâu thuẫn trong tự nhiên - mâu thuẫn trong xã hội - mâu thuẫn trong tư duy). Sự tác động của mâu thuẫn
biện chứng lên bản thân sự vật là nguồn gốc, động lực của mọi sự tự vận động, phát triển xảy ra trong thế giới.
Nội dung quy luật
- Các mâu thuẫn biện chứng khác nhau tác động không giống nhau đến quá trình vận động và phát triển của sự vật;
- Mỗi mâu thuẫn biện chứng đều trải qua các giai đoạn: từ sinh thành (sự xuất hiện của các mặt đối lập), sang hiện
hữu (sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập), rồi giải quyết (sự chuyển hóa của các mặt đối lập);
- Mâu thuẫn biện chứng được giải quyết, cái cũ mất đi, cái mới ra đời với những mâu thuẫn biện chứng mới hay thay
đổi vai trò, tác động của các mâu thuẫn biện chứng cũ;
- Mâu thuẫn biện chứng là nguồn gốc của mọi sự vận động và phát triển. Do đó, vận động và phát triển trong thế giới
vật chất mang tính tự thân.
c) Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất, và ngược lại
Chất, lượng, độ, điểm nút, bước nhảy
- Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy đònh vốn có của sự vật, đặc trưng cho sự vật là nó, giúp phân biệt nó
với các sự vật khác.
- Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy đònh vốn có của sự vật, biểu thò về mặt quy mô, tốc độ của sự vận
động, phát triển của sự vật cũng như của các thuộc tính (chất) của nó.
- Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm cho chất thay đổi căn bản,
cực, làm cho cái mới ra đời quay về với cái cũ, cái khẳng đònh quay trở lại với cái bò phủ đònh ở một trình độ cao hơn. Phát
triển, vì vậy mà diễn ra theo khuynh hướng xoắn ốc tiến lên.
Nội dung quy luật
- Mọi sự vật đều liên hệ lẫn nhau và luôn vận động, phát triển; phát triển là một chuỗi các lần phủ đònh biện chứng có
gắn liền với việc giải quyết mâu thuẫn và thực hiện bước nhảy về chất xảy ra bên trong sự vật.
- Là vòng khâu liên hệ giữa cái mới với cái cũ, cái mới (cái được khẳng đònh) ra đời trên cơ sở loại bỏ những yếu tố
tiêu cực, đồng thời lưu giữ, cải tạo những yếu tố tích cực của cái cũ (cái bò phủ đònh); Phủ đònh biện chứng mang tính khách
quan - nội tại, tính kế thừa – tiến lên.
- Qua một số lần phủ đònh biện chứng xuất hiện phủ đònh của phủ đònh, xác lập lại cái cũ (khẳng đònh lại cái đã bò phủ
đònh) ở một trình độ cao hơn; Phủ đònh của phủ đònh mang tính chu kỳ hở.
- Phủ đònh của phủ đònh vạch ra khuynh hướng phát triển xoắn ốc tiến lên của mọi sự vật trong thế giới.
4. Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật
a) Phạm trù là gì?
Phạm trù là hình thức tư duy phản ánh một cách trừu tượng và khái quát nhất một mặt, một thuộc tính cơ bản nhất
của một lónh vực hay toàn bộ hiện thực nói chung.
Phạm trù được hình thành từ trong quá trình hoạt động nhận thức của con người. Chúng là những “bậc thang”, những
“nút mạng” của quá trình nhận thức, mà trước hết là của nhận thức triết học và nhận thức khoa học…. Chúng không chỉ là
công cụ tinh thần để nhận thức (tức để lý giải, để tiên đóan) mà còn là công cụ tinh thần để chỉ đạo hoạt động thực tiễn cải
tạo thế giới. Cùng với sự vận động và phát triển của hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người, phạm trù
cũng luôn vận động và phát triển. Chúng vừa là kết quả, vừa là điểm tựa cho hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức
của nhân loại.
Có hai nhóm phạm trù:
- Nhóm phạm trù khoa học mang tính khu biệt, vì chúng phản ánh một cách trừu tượng và khái quát nhất một mặt, một
thuộc tính cơ bản nhất của một lónh vực hiện thực nhất đònh mà một ngành khoa học nào đó nghiên cứu, và chúng chủ yếu
chỉ được dùng cho ngành khoa học đó.
- Nhóm phạm trù triết học mang tính đặc biệt, vì chúng phản ánh một cách trừu tượng và khái quát nhất một mặt, một
thuộc tính cơ bản nhất của toàn bộ hiện thực nói chung; chúng thường xuất hiện từng cặp và được dùng trong mọi ngành
khoa học. Phép biện chứng có sáu cặp phạm trù. Đó là: cái riêng và cái chung, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu
nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực.
b) Cái riêng và cái chung
tác động trong những hoàn cảnh nhất đònh chỉ có thể gây ra những kết quả nhất đònh.
Mối quan hệ biện chứng
- Nguyên nhân nào kết quả nấy
+ Nhiều nguyên nhân khác nhau cùng tác động để sinh ra nhiều kết quả khác nhau. Trường hợp một nguyên nhân duy
nhất tác động để sinh ra một kết quả duy nhất chỉ là sự trừu tượng hóa trong nhận thức của con người.
+ Các nguyên nhân khác nhau (nguyên nhân cơ bản - nguyên nhân không cơ bản, nguyên nhân chủ yếu - nguyên nhân
thứ yếu, nguyên nhân bên trong - nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân khách quan - nguyên nhân chủ quan,…) có vai trò
khác nhau trong việc sản sinh ra kết quả.
+ Những nguyên nhân tác động cùng hướng sẽ tăng cường tác dụng của nhau; những nguyên nhân tác động khác
hướng sẽ làm suy yếu hay triệt tiêu tác dụng của nhau.
- Sự tác động của kết quả lên nguyên nhân của nó: Kết quả (là một quá trình) có thể ảnh hưởng ngược lại nguyên nhân
(cũng là một quá trình) sinh ra nó.
- Nguyên nhân và kết quả thay đổi vò trí cho nhau: Kết quả do nguyên nhân trước sinh ra, sẽ trở thành nguyên nhân mới
sản sinh ra kết quả mới…; quá trình cứ như thế tiếp diễn tạo nên chuỗi nhân quả vô tận. Chuỗi nhân quả đơn tuyến chỉ là sự
trừu tượng hóa trong nhận thức của con người. Trong thế giới tồn tại các chuỗi nhân quả đa tuyến đan xen tạo nên màng
lưới nhân quả; thông qua màng lưới nhân quả, vạn vật ảnh hưởng, tác động lẫn nhau và làm cho nhau thay đổi, phát triển.
d) Tất nhiên và ngẫu nhiên
Khái niệm
- Tất nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái (sự vật, hiện tượng, quá trình) phải xảy ra như thế chứ không thể thế
khác được. Tất nhiên do những nguyên nhân cơ bản, bên trong; do những quy luật động lực học (quy luật phản ánh cái tất
nhiên dưới dạng “thuần tuý”) chi phối; do đó, tất nhiên hay quy luật động lực học bao giờ cũng thể hiện tính nhân quả
thẳng, tức tính nhân quả đơn trò.
- Ngẫu nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái (sự vật, hiện tượng, quá trình) có thể xảy ra như thế này nhưng cũng
có thể xảy ra như thế khác. Ngẫu nhiên do những nguyên nhân bên ngoài, do sự ngẫu hợp của hoàn cảnh; do những quy
luật thống kê - xác suất (quy luật phản ánh cái xác suất, tức phản ánh sự thống nhất tất nhiên với ngẫu nhiên) quy đònh; do
đó, ngẫu nhiên hay quy luật thống kê - xác suất biểu thò tính nhân quả phân nhánh, tức tính nhân quả đa trò.
Mối quan hệ biện chứng
- Tính thống nhất giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
+ Quá trình vận động và phát triển của bản thân sự vật, hiện tượng bò chi phối chủ yếu bởi cái tất nhiên, nhưng cái
ngẫu nhiên có ảnh hưởng làm cho quá trình vận động và phát triển ấy diễn ra nhanh hơn hay chậm hơn.
mang tính tạm thời, đến một lúc nào đó, nội dung sẽ “tự giải phóng” mình ra khỏi sự kìm hãm đó.
f) Bản chất và hiện tượng
Khái niệm
- Bản chất là phạm trù triết học dùng để chỉ cơ sở bên trong của hiện tượng. Bản chất là cái chung, tất yếu, bên trong,
khá ổn đònh, mang tính quy luật; bản chất là cái quy đònh xu hướng vận động và phát triển của bản thân sự vật; Bản chất
thường là sự kết hợp của các quy luật cùng chi phối sự vận động, phát triển của sự vật (quy luật và bản chất là các khái
niệm cùng trình độ, cùng biểu thò sự nhận thức sâu sắc các hiện tượng đa dạng xảy ra trong thế giới).
- Hiện tượng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thể hiện bản chất ra bên ngoài. Hiện tượng là cái cá biệt, ngẫu
nhiên, bên ngoài, bất ổn, biểu thò sự tồn tại cụ thể của sự vật trong điều kiện xác đònh.
Mối quan hệ biện chứng
- Tính thống nhất giữa bản chất và hiện tượng
+ Bản chất được bộc lộ qua hiện tượng; Hiện tượng biểu hiện ít nhiều về bản chất; về căn bản, chúng phù hợp với
nhau.
+ Những bản chất khác nhau bộc lộ ra thành các hiện tượng khác nhau.
+ Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng của nó cũng thay đổi; Khi bản chất biến mất thì hiện tượng của nó cũng không
còn.
- Tính mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng
+ Sự tương tác giữa bản thân sự vật và môi trường tồn tại xung quanh sự vật đã đưa vào hiện tượng của sự vật những
nội dung từ bên ngoài sự vật đó, nghóa là sự tương tác này đã làm cho hiện tượng của sự vật không thể hiện được bản chất
của nó. Như vậy, bản chất và hiện tượng (của sự vật) không phù hợp hoàn toàn, tức hiện tượng không biểu hiện y nguyên
bản chất.
+ Bản chất và hiện tượng là những cái đối lập nhau; nhưng bản chất là cái sâu sắc hơn hiện tượng, còn hiện tượng bao
giờ cũng phong phú hơn bản chất. Một bản chất được thể hiện qua vô số hiện tượng, trong đó có cả các hiện tượng xuyên
tạc bản chất (giả tượng) lẫn những hiện tượng thể hiện rõ bản chất (hiện tượng điển hình).
+ Sự xung đột hay mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng ở cấp độ hiện tượng (sinh động, dễ nhận biết) là sự xung đột
hay mâu thuẫn giữa giả tượng và hiện tượng điển hình.
g) Khả năng và hiện thực
Khái niệm
- Khả năng là phạm trù triết học dùng để chỉ cái (sự vật, hiện tượng, quá trình) chưa có, chưa tới nhưng sẽ có, sẽ tới
khi điều kiện tương ứng hội đủ.
CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1. Khái quát về phương pháp và phương pháp luận
a) Khái quát về phương pháp
Đònh nghóa: Phương pháp là hệ thống các yêu cầu mà chủ thể phải tuân thủ đúng trình tự để đạt mục đích đặt ra một
cách tối ưu.
- “Phương pháp là hệ thống các nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động
nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu nhất đònh”
13
.
- Phương pháp như “ngọn đuốc soi đường cho người đi trong đêm tối” [Ph.Bêcơn].
- Phương pháp là “linh hồn của đối tượng” [Hêghen].
Nguồn gốc, chức năng: Từ hiểu biết về thuộc tính, quy luật của sự vật, hiện tượng thuộc các lónh vực khác nhau mà
các phương pháp khác nhau được xây dựng; và sau đó, chúng được vận dụng như công cụ tinh thần vào quá trình hoạt động
nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiệu quả thế giới của nhân loại.
Phân loại: Sự đa dạng của các đối tượng phải nghiên cứu hay cải tạo dẫn đến sự đa dạng của phương pháp.
- Dựa theo phạm vi áp dụng, phương pháp được chia thành phương pháp riêng (phương pháp áp dụng cho từng ngành
khoa học), phương pháp chung (phương pháp áp dụng cho nhiều ngành khoa học) và phương pháp phổ biến (phương pháp
áp dụng cho mọi ngành khoa học, cho toàn bộ hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, tức các phương
pháp của triết học).
- Dựa theo lónh vực áp dụng, phương pháp được chia thành phương pháp chỉ đạo hoạt động thực tiễn (trước hết là thực
tiễn cách mạng cải tạo thế giới) và phương pháp hướng dẫn hoạt động nhận thức (trước hết là nhận thức khoa học hiện
đại).
- “Phép biện chứng là phương pháp mà điều căn bản của là nó xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng
trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong
của chúng”
14
. Phép biện chứng duy vật không chỉ đưa ra hướng nghiên cứu chung, đưa ra các nguyên tắc tiếp cận sự vật,
hiện tượng nghiên cứu, mà đồng thời còn là điểm xuất phát để đánh giá những kết quả đạt được. Mọi nhận thức thế giới
của Mác – đó không phải là học thuyết mà là phương pháp. Nhận thức thế giới của Mác không mang lại những giáo điều
có sẵn, mà chỉ mang lại những điểm xuất phát để tiếp tục nghiên cứu và là phương pháp cho việc nghiên cứu đó.
duy vật hơn. Sau đây là một số nguyên tắc hay yêu cầu cơ bản về mặt phương pháp luận của phép biện chứng duy vật.
2. Nguyên tắc toàn diện
a) Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến (xem: Mục I,2,b của Chương
này).
b) Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc toàn diện
Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải:
- Tìm hiểu, phát hiện càng nhiều mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) đang chi phối sự
tồn tại của bản thân sự vật càng tốt.
- Phân loại để xác đònh những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) nào là bên trong, cơ
bản, tất nhiên, ổn đònh…; còn những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) nào là bên ngoài,
không cơ bản, ngẫu nhiên, không ổn đònh…;
- Dựa trên những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) bên trong, cơ bản, tất nhiên, ổn
đònh… để lý giải được những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) còn lại. Qua đó xây dựng
một hình ảnh về sự vật như sự thống nhất các mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…); phát
hiện ra quy luật (bản chất) của nó.
Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải:
- Đánh giá đúng vai trò của từng mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) chi phối sự vật.
- Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng đồng bộ nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp (mà trước hết là
những công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để biến đổi những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất,
yếu tố, mặt,…) của bản thân sự vật, đặc biệt là những mối liên hệ, quan hệ (…) bên trong, cơ bản, tất nhiên, quan trọng… của
nó.
- Nắm vững sự chuyển hóa các mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) của bản thân sự
vật; kòp thời sử dụng các công cụ, phương tiện, biện pháp bổ sung để phát huy hay hạn chế sự tác động của chúng, nhằm
lèo lái sự vật vận động, phát triển theo đúng quy luật và hợp lợi ích chúng ta.
Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc toàn diện sẽ giúp chủ thể khắc phục được chủ nghóa phiến diện, chủ
nghóa chiết trung, chủ nghóa ngụy biện, … trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình.
- Chủ nghóa phiến diện là cách xem xét chỉ thấy một mặt, một mối quan hệ, tính chất nào đó mà không thấy được
nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, nhiều tính chất của sự vật.
- Chủ nghóa chiết trung là cách xem xét chỉ chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật nhưng không rút ra
được mặt bản chất, không thấy được mối liên hệ cơ bản của sự vật; mà coi chúng như nhau, kết hợp chúng một cách vô
- Xây dựng được hình ảnh về sự vật như sự thống nhất các xu hướng, những giai đoạn thay đổi của nó; từ đó, phát hiện
ra quy luật vận động và phát triển (bản chất) của sự vật.
Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải:
- Chú trọng đến mọi điều kiện, khả năng … tồn tại của sự vật để nhận đònh đúng các xu hướng, những giai đoạn thay
đổi có thể xảy ra đối với nó;
- Thông qua thực tiễn, sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp (mà trước hết là những công cụ,
phương tiện, biện pháp vật chất) để biến đổi những điều kiện, phát huy hay hạn chế những khả năng … tồn tại của sự vật
nhằm lèo lái sự vật vận động, phát triển theo hướng hợp quy luật và có lợi cho chúng ta.
Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc phát triển sẽ giúp chủ thể khắc phục được quan điểm (tư duy) siêu hình
trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình.
Nguyên tắc phát triển đòi hỏi chủ thể phải sử dụng các nguyên tắc khác kèm theo mới làm sáng rõ bản tính vận động
và phát triển tự thân của sự vật như nguyên tắc (phân tích) mâu thuẫn, nguyên tắc phân tích lượng - chất, nguyên tắc phủ
đònh biện chứng,
3.1. Nguyên tắc mâu thuẫn
a) Cơ sở lý luận của nguyên tắc (phân tích) mâu thuẫn (còn được gọi là nguyên tắc phân đôi cái thống nhất) là nội dung
quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (xem: Mục I,3,b của Chương này).
b) Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc (phân tích) mâu thuẫn
Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải:
- Phân đôi sự vật thành các cặp mặt đối lập, khảo sát sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập để phát hiện ra
các mâu thuẫn biện chứng đang chi phối sự vật đó;
- Phân loại và xác đònh đúng vai trò của từng mâu thuẫn biện chứng đang chi phối sự vận động và phát triển của bản
thân sự vật;
- Xác đònh giai đoạn tồn tại cũng như xu thế phát triển tiếp theo của từng mâu thuẫn biện chứng;
- Phân tích kết cấu vàø điều kiện tồn tại của sự vật để xác đònh đúng quy mô và phương thức giải quyết của từng mâu
thuẫn biện chứng, dự đoán cái mới ra đời sẽ vận đng dưới sự tác động của những mâu thuẫn biện chứng nào.
Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải:
- Hiểu rõ những mâu thuẫn biện chứng nào là nguồn gốc, động lực thúc đẩy sự vận động và phát triển của bản thân sự
vật; từ đó xây dựng các đối sách thích hợp;
- Thông qua thực tiễn, sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp (mà trước hết là những công cụ,
phương tiện, biện pháp vật chất) để can thiệp đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ vào tiến trình vận động và phát triển của
Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải:
- Phát hiện và xác đònh đúng cái mới, cái cũ trong quá trình vận động và phát triển của sự vật; Phân biệt được cái cũ
với cái truyền thống, cái mới với với cái quái dò;
- Coi quá trình vận động và phát triển của sự vật là một cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn, phức tạp giữa cái mới với
cái cũ; cái mới có thể thất bại tạm thời nhưng cuối cùng nó sẽ thắng lợi;
- Thấy được xu hướng vận động và phát triển xoắn ốc của sự vật xảy ra trong thế giới.
Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải:
- Hiểu rõ xu thế vận động và phát triển của sự vật; từ đó xây dựng các đối sách thích hợp;
- Thông qua thực tiễn, sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp (mà trước hết là những công cụ,
phương tiện, biện pháp vật chất) để can thiệp đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ vào tiến trình vận động của sự vật lèo lái
nó theo đúng quy luật và hợp lợi ích của chúng ta. Cụ thể:
+ Phải xác đònh đúng cái mới, phải khôn khéo, dũng cảm bảo vệ cái mới, và tạo điều kiện thuận lợi cho cái mới nhanh
chóng lớn mạnh;
+ Không bi quan, chán chường trước sự thất bại tạm thời của cái mới;
+ Phải mạnh dạn phê phán, khắc phục và loại bỏ dần cái cũ tiêu cực lỗi thời, để cái mới tích cực tiến bộ sớm chiến
thắng cái cũ,…
4. Một số yêu cầu phương pháp luận của các cặp phạm trù
Từ nội dung lý luận của các cặp phạm trù biện chứng (xem: Mục I,4,b-g của Chương này), phương pháp luận biện
chứng duy vật đã xây dựng những yêu cầu giúp chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Cụ thể như sau:
a) Cái chung và cái riêng
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn chủ thể cần lưu ý:
- Muốn phát hiện cái chung cần phải nghiên cứu từ bản thân của những cái riêng, tức từ các sự vật, tình hình cụ thể mà
không nên xuất phát từ ý muốn chủ quan của mình.
- Khi áp dụng cái chung vào (những) cái riêng cần phải cá biệt hóa nó cho phù hợp với điều kiện, tình hình cụ thể của
từng cái riêng mà không được tuyệt đối hóa hay áp dụng cái chung một cách giáo điều, máy móc.
- Muốn giải quyết hiệu quả những vấn đề riêng phải giải quyết các vấn đề chung, mà trước hết là các vấn đề lý luận
chung có liên quan đến những vấn đề riêng đó. Tránh lề thói tùy tiện, tình trạng mò mẫm, chủ nghóa kinh nghiệm.
- Nắm vững điều kiện, quy luật chuyển hóa giữa cái riêng hay cái đơn nhất và cái chung hay cái phổ biến để vạch ra
đối sách thích hợp, rồi thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng linh họat các công cụ, phương tiện vật chất can thiệp đúng
lúc, đúng chỗ vào tiến trình vận động và phát triển của sự vật để lèo lái nó theo đúng quy luật và hợp lợi ích chúng ta.
d) Nội dung và hình thức
Trong hoạt động nhận thức muốn hiểu được thực trạng của sự vật chủ thể phải phát hiện được nội dung và hình thức
của nó trong sự thống nhất lẫn nhau mà không được tuyệt đối hóa cái này coi thường cái kia.
Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải:
- Biết khai thác và sử dụng mọi hình thức có thể có để giải quyết tốt nhiệm vụ thực tiễn (nội dung) đặt ra; phải chống
lại cả quan điểm bảo thủ, đầu óc thủ cựu, chỉ biết làm theo kiểu cũ, duy trì hình thức cũ, lẫn quan điểm chủ quan nóng vội,
tuỳ tiện thay đổi hình thức một cách vô căn cứ.
- Thấy được vai trò quyết đònh của nội dung, biết xây dựng những nội dung phù hợp với hình thức và điều kiện sẵn có;
biết tác động đến sự thay đổi nội dung để cải biến sự vật.
- Nắm vững điều kiện, cách thức thay đổi của hình thức cũng như sự tác động ngược lại của hình thức đến nội dung để
vạch ra đối sách thích hợp, rồi thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp (mà
trước hết là những công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để can thiệp đúng lúc, đúng chỗ vào tiến trình vận động và
phát triển của đối tượng, lèo lái nó theo đúng quy luật và hợp lợi ích chúng ta.
e) Bản chất và hiện tượng
Trong hoạt động nhận thức muốn hiểu thấu sự vật chủ thể phải nghiên cứu các hiện tượng để khám phá ra bản chất
của nó:
- Phải phân tích điều kiện tồn tại của sự vật để loại bỏ những giả tượng, tìm kiếm cho được hiện tượng điển hình;
- Từ hiện tượng điển hình phát hiện ra bản chất của sự vật.
- Đào sâu quá trình nhận thức từ chỗ vượt qua bản chất cấp một, phát hiện ra bản chất cấp hai, và từ bản chất cấp hai
vươn đến khám phá bản chất cấp ba, và mãi mãi.
Trong hoạt động thực tiễn muốn thành công chủ thể phải xuất phát từ bản chất (chứ không nên xuất phát từ hiện
tượng), vạch ra đối sách thích hợp, rồi thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích
hợp (mà trước hết là những công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để can thiệp đúng lúc, đúng chỗ vào tiến trình vận
động và phát triển của sự vật, lèo lái nó theo đúng quy luật và hợp lợi ích chúng ta.
f) Hiện thực và khả năng
Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải:
- Lấy hiện thực làm đối tượng của mọi quá trình nhận thức.
- Nghiên cứu hiện thực để khám phá các quy luật, phát hiện bản chất chi phối sự vận động và phát triển của nó.
- Phân tích điều kiện tồn tại của hiện thực để phát hiện ra những khả năng tiềm ẩn trong hiện thực; xác đònh đúng các
khả năng có mức độ hiện thực hóa cao để thấy được xu hướng vận động và phát triển của bản thân sự vật.
Trong hoạt động thực tiễn, chủ thể phải xây dựng được những đối sách cụ thể, áp dụng cho những sự vật cụ thể, đang
tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh, quan hệ cụ thể mà không nên áp dụng những khuôn mẫu chung chung cho bất cứ
sự vật nào, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh, quan hệ nào.
Nguyên tắc lòch sử - cụ thể được V.I.Lênin cô động trong nhận đònh: “xem xét mỗi vấn đề theo quan điểm sau đây:
một hiện tượng nhất đònh đã xuất hiện trong lòch sử như thế nào, hiện tượng đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ
yếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xét xem hiện nay nó đã trở thành như thế nào”
18
. Điều này có
nghóa là nguyên tắc lòch sử - cụ thể đòi hỏi phải phân tích sự vật cụ thể trong những tình hình cụ thể để thấy được:
- Sự vật đang (đã hay sẽ) tồn tại thông qua những chất, lượng nào; thể hiện qua những độ nào; đang (đã hay sẽ) thực
hiện những bước nhảy nào để tạo nên những chất, lượng mới nào?
- Sự vật đang (đã hay sẽ) bò tác động bởi những mâu thuẫn nào; những mâu thuẫn đó đang nằm ở giai đoạn nào, có vai
trò như thế nào đến sự vận động, phát triển của sự vật?
- Sự vật đang (đã hay sẽ) trải qua những lần phủ đònh biện chứng nào; cái cũ nào đang (đã hay sẽ) phải mất đi, cái mới
nào đang (đã hay sẽ) xuất hiện?
- Trong mối quan hệ với những sự vật khác, những điều gì được coi là những cái riêng hay cái đơn nhất, điều gì là cái
chung hay cái đặc thù / cái phổ biến; chúng quy đònh nhau, chuyển hóa lẫn nhau như thế nào?
- Bản chất của sự vật là gì, nó được thể hiện qua những hiện tượng nào; hiện tượng nào chỉ là giả tượng, hiện tượng
nào là điển hình…
- Nội dung của sự vật là gì, nó đang (đã hay sẽ) tồn tại thông qua những hình thức nào; hình thức nào phù hợp với nội
dung của sự vật, hình thức nào không phù hợp với nội dung, cái gì làm cho nội dung của sự vật biến đổi?
- Trong bản thân sự vật, hiện thực là gì; hiện thực đó đang (đã hay sẽ) nảy sinh ra những khả năng nào; mỗi khả năng
đó, trong những điều kiện cụ thể nào có độ tất yếu hiện thực hóa ra sao?
Nguyên tắc lòch sử - cụ thể đòi hỏi chúng ta phải bao được các sự kiện xảy ra trong nghiên cứu khoa học hay các biến
cố xảy ra trong các tiến trình lòch sử nhân loại. Tuy nhiên, nó không cho phép chúng ta kết hợp các sự kiện khoa học như
những cái ngẫu nhiên thuần túy của tự nhiên hay mô tả các biến cố lòch sử như những cái vụn vặt đơn lẻ của xã hội; mà nó
đòi hỏi chúng ta phải tái hiện chúng, mô tả chúng trên cơ sở vạch ra được cái tất yếu lôgích, cái chung (quy luật, bản chất)
của chúng, chỉ ra được những trật tự nhân quả quy đònh chúng. Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được bức
tranh khoa học về thế giới, để qua đó chúng ta nhận thức được tính muôn vẻ của tự nhiên, tính phong phú của lòch sử trong
sự thống nhất.
10. Phép biện chứng tư duy, tư duy biện chứng là gì? Mối quan hệ giữa chúng?