TIỂU LUẬN:
Phép biện chứng về mâu thuẫn và
việc phân tích mâu thuẫn giữa xây
dựng kinh tế độc lập tự chủ với hội
nhập kinh tế quốc tế
Lời nói đầu
Trong quá trình vận động và phát triển của sự vật luôn luôn xẩy ra mâu
thuẫn, đó là mâu thuẫn giữa các yếu tố trong bản thân sự vật hay mâu thuẫn giữa
các sự vật với nhau. Triết học Mác-Lênin đã chỉ ra, mâu thuẫn là một tất yếu
khách quan, mang tính phổ biến và có đa dạng các loại mâu thuẫn. Xác định đúng
từng loại mâu thuẫn sẽ cho phép con người tìm ra được những giải pháp phù hợp,
qua quá trình nghiên cứu khoa học thực sự, từ thu thập, xử lý thông tin đến tổng
hợp và viết báo cáo. Bài tiểu luận đã phản ánh một nhãn quan khoa học của người
viết về lí luận mâu thuẫn và xử lý mâu thuẫn trong thực tiễn giữa xây dựng kinh tế
độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế.
nhất định. Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa mặt đối lập của sự vật này với
mặt đối lập của sự vật khác. Việc phân chia mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn
bên ngoài cần có quan điểm lịch sử cụ thể, tuỳ phạm vi phân tích.
Mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định trực tiếp đối với quá trình vận động và
phát triển của sự vật. Còn mâu thuẫn bên ngoài có vai trò hỗ trợ. Mâu thuẫn bên
ngoài tự nó không thể phát huy được vai trò của mình, mà phải thông qua mâu
thuẫn bên trong để phát huy tác dụng nhất định. Tuy nhiên, giữa mâu thuẫn bên
trong và mâu thuẫn bên ngoài có sự tác động qua lại với nhau. Giải quyết mâu
thuẫn này cũng là điều kiện để giải quyết mâu thuẫn kia.
* Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, các
mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự
phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật. Nó tồn tại gắn liền với sự vật từ khi
sinh ra cho đến khi sự vật kết thúc.
Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào
đó của sự vật, nó quy định sự vận động và phát triển của một mặt nào đó của sự
vật.
Mâu thuẫn cơ bản đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự vật. Mâu
thuẫn cơ bản là cơ sở hình thành và chi phối các mâu thuẫn khác trong quá trình
phát triển của sự vật. Khi mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi
về chất. Mâu thuẫn không cơ bản tồn tại bao giờ cũng gắn liền với mâu thuẫn cơ
bản, và trong quá trình vận động, mâu thuẫn cơ bản có thể làm nảy sinh mâu thuẫn
không cơ bản.
* Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu
Dựa vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật
trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yếu
chung toàn thế giới, đồng thời phải phát huy nội lực để tự đứng vững trước mọi
tác động tiêu cực từ bên ngoài.
Phần ii
Mâu thuẫn giữa xây dựng kinh tế độc lập tự chủ
với hội nhập kinh tế quốc tế
Trong giai đoạn hiện nay, cũng như trong tương lai xa hơn, hội nhập kinh
tế quốc tế đối với Việt Nam có nghĩa là Việt Nam phải tham gia các tổ chức kinh
tế quốc tế và khu vực như AFTA, APEC, WTO,…, phát triển các quan hệ thương
mại và đầu tư rộng rãi với mọi quốc gia, đặc biệt là các trung tâm kinh tế thế giới,
mở rộng sự hợp tác với các công ty xuyên quốc gia. Phát triển các mối quan hệ
này sẽ dẫn đến một kết cục là: các hàng rào thuế quan và phi thuế quan phải giảm
thiểu theo các nguyên tắc của các tổ chức trên, các công ty nước ngoài được phép
vào Việt Nam hoạt động một cách bình đẳng với các công ty Việt Nam và ngược
lại các công ty Việt Nam cũng được phép hoạt động bình đẳng tại các nước đối
tác. Trong điều kiện đó việc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ nên được
hiểu như thế nào là thích hợp. Liệu có mâu thuẫn giữa hội nhập kinh tế quốc tế với
xây dựng kinh tế độc lập tự chủ?
Trước hết, ta phải hiểu bản chất của nền kinh tế độc lập tự chủ. Có hai
cách hiểu sau:
Thứ nhất, nền kinh tế độc lập tự chủ trong mô hình kinh tế hướng nội.
nền kinh tế gồm những ngành có lợi thế cạnh tranh cao, và tuỳ thuộc vào thị
trường thế giới. Độc lập tự chủ trong mô hình này chấp nhận sự tuỳ thuộc lẫn
nhau trên cơ sở cùng có lợi trong quan hệ giữa các quốc gia. Sự tuỳ thuộc lẫn nhau
này diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực từ hoạch định chính sách phát triển, thể chế
kinh tế vĩ mô, đến cả sự hình thành các ngành kinh tế, các công ty. Mô hình kinh
tế này đưa lại nhiều mặt tích cực, nhưng đồng thời cũng đưa lại nhiều mâu thuẫn,
nhiều tiêu cực.
Trước hết, nhận định mặt tích cực, hội nhập kinh tế quốc tế đã và sẽ tạo
ra những cơ hội cho sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, cho phép chúng ta
tiếp cận với nền văn minh công nghiệp của thế giới. Toàn cầu hoá kinh tế là một
cơ hội để chúng ta phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, tạo ra cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội và do đó mà có điều
kiện và khả năng thực tế để bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia. Trong điều
kiện toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, chúng ta có nhiều cơ hội để tiếp cận nền khoa
học và công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới, học hỏi những kinh nghiệm quản
lí xã hội, tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh công nghiệp.
Bên cạnh mặt tích cực, toàn cầu hoá kinh tế cũng đưa lại không ít mâu
thuẫn. Cụ thể là:
- Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài, có
nhiều vốn đầu tư đổ vào thì nền kinh tế mới có điều kiện xây dựng cơ sở hạ tầng
hiện đại, mới có điều kiện đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao năng suất lao
động. Tuy nhiên, vốn đầu tư từ nước ngoài bao giờ cũng gắn với những điều kiện
nhất định, như điều kiện về mục đích sử dụng, đối tượng sử dụng, thời gian sử
dụng,…Như vậy là nước nhận đầu tư đã phần nào bị chi phối, bị khống chế về
kinh tế, chính trị bởi chủ đầu tư. Và từ đó làm nảy sinh mâu thuẫn bên ngoài giữa
nước nhận đầu tư và nước chủ đầu tư, nước nhận đầu tư mất tính độc lập. Hơn
nữa, nếu sử dụng không đúng nhu cầu của nền kinh tế hay sử dụng không có hiệu
gia gần như đều phải tự cấp tự túc, đều phải làm ra cả những cái mà mình không
có thế mạnh để đáp ứng cho nhu cầu đa dạng của nền kinh tế quốc dân; còn khi
tham gia toàn cầu hoá kinh tế, mỗi quốc gia sẽ chỉ sản xuất ra một số loại hàng
hoá nhất định để trao đổi với các quốc gia khác, ai mạnh mặt nào sẽ khai thác triệt
để mặt đó. Tức là có mối liên hệ phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau giữa các quốc gia.
Vậy, để giải quyết mâu thuẫn giữa hội nhập kinh tế với độc lập tự chủ,
chúng ta nên nhìn nhận theo khía cạnh sau:
Trước hết, và quan trọng nhất là phải đảm bảo lợi ích phát triển của quốc
gia ở mức cao nhất có thể được. Các mối quan hệ của một nước với các nước khác
phải được xem xét đánh giá trên tiêu chuẩn có đảm bảo được lợi ích phát triển của
đất nước không. Đó mới là mục tiêu cho mọi chiến lược phát triển. Trong điều
kiện hội nhập quốc tế tiến triển như hiện nay, mọi nền kinh tế ngày càng tuỳ thuộc
nhiều hơn vào bên ngoài. Nhưng nếu sự tuỳ thuộc nhiều hơn đó đảm bảo tốt hơn
cho lợi ích phát triển quốc gia, thì không có lí gì lại không chấp nhận.
Thứ hai, sức cạnh tranh của nền kinh tế phải được cải thiện và tăng dần.
Sức cạnh tranh này phải được thể hiện các mặt:
Thể chế chính trị, kinh tế, xã hội, phải đủ mạnh, đủ tạo ra một môi trường
đầu tư, kinh doanh thuận lợi, chi phí thấp, rủi ro thấp, khả năng sinh lợi lớn.
Cơ cấu kinh tế gồm những ngành có khả năng cạnh tranh cao, có khả năng
tự điều chỉnh, tự rút lui khỏi những ngành kém khả năng cạnh tranh.
Cơ cấu doanh nghiệp cũng phải bao gồm những doanh nghiệp có sức mạnh
công nghệ và trí lực, đủ sức cạnh tranh trên thương trường trong nước và quốc tế.
Nguồn nhân lực trong nước phải được đào tạo tốt và phát triển, sử dụng có
hiệu quả.
Biểu hiện tập trung của sức cạnh tranh của nền kinh tế là ở chất lượng và
giá thành của sản phẩm và dịch vụ của đất nước. Nếu sản phẩm và dịch vụ của
một quốc gia có giá thành cao, chất lượng thấp, thì sẽ không tiêu thụ được ở cả thị
nhận thức của những năm 50 và 60. Cần có nhận thức mới thích hợp với điều kiện
mới. Chính những nhận thức mới này sẽ mở đường cho thực tiễn phát triển. Nhìn
thẳng vào sự thật. Thực tiễn đang đòi hỏi phải có nhận thức mới, tư duy mới.