TIỂU LUẬN: Sự phát triển là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập" từ luận điểm trên làm rõ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của Việt Nam trong thời kỳ quá độ - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

Sự phát triển là cuộc đấu tranh của các
mặt đối lập" từ luận điểm trên làm rõ
cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
của Việt Nam trong thời kỳ quá độ Lời mở đầu

Đại hội Đảng VI đã mở ra một trang mới cho lịch sử kinh tế Việt Nam.
Bước ngoặt này có ý nghĩa trọng đại: Biến nền kinh tế Việt Nam từ kế hoạch hoá
tập trung, quan liêu bao cấp, thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Bước ngoặt này đánh dấu sự thay đổi, phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế
xã hội Việt Nam. Sự phát triển này phải chăng là kết quả của Việt Nam trước Đại

triển, trong đó phân công lao động đang diễn ra mạnh mẽ, đó là sự đấu tranh giữa
những mặt đối lập của cơ chế cũ, và đang báo hiệu một tương lai tươi sáng, một
nền kinh tế phát triển bền vững.
Đề tài: Lênin nói "Sự phát triển là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập"
từ luận điểm trên làm rõ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của Việt Nam
trong thời kỳ quá độ"

I. quy luật thống nhất và mâu thuẫn giữa các mặt đối lập của phép biện
chứng
Lịch sử phát triển của triết học là lịch sử phát triển của tư duy triết học gắn
liền với cuộc đấu tranh của hai phương pháp tư duy - biện chứng và siêu hình.
Chính cuộc đấu tranh lâu dài của hai phương pháp này đã thúc đẩy tư duy triết học
phát triển và được hoàn thiện dần với thắng lợi của tư duy biện chứng duy vật.
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương
pháp. Hệ thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn thế
giới khách quan mà còn chỉ ra những thách thức để định hướng cho con người
trong nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Phép biện chứng duy vật không chỉ
khái quát những thành tựu của tất cả các khoa học cụ thể, mà còn kết tinh những
tinh hoa trong quá trình phát triển tư tưởng triết học của nhân loại. Phép biện
chứng duy vật trình bày một cách có hệ thống chặt chẽ tính chất biện chứng của
thế giới thông qua những phạm trù và những quy luật chung nhất của thế giới (tự
nhiên, xã hội và tư duy).
Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp
luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người, trong đó, quy luật thống nhất và đấu

phát triển mà ta phải nhấn mạnh mặt này hay mặt kia. Khi sự vật còn ở giai đoạn
phát triển, khi mâu thuẫn chưa gay gắt thì khi đó mặt thống nhất giữ vai trò chủ
đạo, còn khi mâu thuẫn trở nên gay gắt, đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn lại là
chủ đạo, chính yếu.
Ngày nay, sự "thống nhất" của các mặt đối lập ngày càng mở rộng. Những
giải pháp khoa học và kỹ thuật tiên tiến, những vấn đề toàn cầu… tạo ra môi
trường thuận lợi cho sự mở rộng đó. Vì vậy, bước chuyển biến cách mạng từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội không thể không mang những hình thái đặc thù:
có thể cho phép các nước kém phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua một hay
nhiều giai đoạn nào đó trong sự phát triển tư bản chủ nghĩa.
II. Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
Nước ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa. Đặc điểm cơ bản nhất của thời kỳ quá độ là sự tồn tại nền kinh tế
nhiều thành phần và xã hội nhiều giai cấp. Trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế có

tính chất quá độ. Nó không còn là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng cũng chưa
hoàn toàn là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
2.1. Tính tất yếu tồn tại nhiều thành phần kinh tế (TPKT) ở Việt Nam
Trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào cũng có phương thức sản xuất giữ
vị trí chi phối. Ngoài ra, còn có phương thức sản xuất tàn dư của xã hội trước và
phương thức sản xuất mầm mống của xã hội tương lai. Các phương thức sản xuất
này ở vào địa vị lệ thuộc, bị chi phối bởi phương thức sản xuất thống trị.
Thành phần kinh tế là một loại hình của quan hệ sản xuất xác định tương ứng
với trình độ và trình độ của lực lượng sản xuất nhất định đã ra đời nhưng chưa đạt
tới độ thống trị trong nền kinh tế hoặc đang bị thủ tiêu dần.
Như vậy, phạm trù thành phần kinh tế và phương thức sản xuất đều phản ánh
mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nhưng

khác đóng vai trò tích cực trong quá trình phát triển nền kinh tế - xã hội.
2.2. Các thành phần kinh tế ở Việt Nam
Trên cơ sở nhận biết được tính tất yếu của việc tồn tại nhiều thành phần kinh
tế ở Việt Nam, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã xác định nước ta
hiện nay có 6 thành phần kinh tế như sau:

2.2.1. Thành phần kinh tế nhà nước
- Là thành phần kinh tế mà vốn chủ yếu dựa trên sở hữu nhà nước hoặc phần
sở hữu Nhà nước chiếm tỷ lệ khống chế. Kinh tế Nhà nước gồm hai loại: Doanh
nghiệp nhà nước và kinh tế nhà nước phi doanh nghiệp (tài nguyên thiên nhiên, cơ
sở hạ tầng, tài chính, dự trữ nhà nước…)
- Đặc điểm:
+ Thuộc sở hữu nhà nước
+ Thường bảo đảm những cân đối lớn trong nền kinh tế
+ Vai trò: chủ đạo, mở đường, duy trì bộ máy nhà nước.
- Xu hướng vận động: Tồn tại lâu dài và có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
2.2.2. Thành phần kinh tế hợp tác.
- Là sự liên kết kinh tế tự nguyện của các chủ thể kinh tế với các hình thức
đa dạng, linh hoạt, phù hợp với nhu cầu, khả năng và lợi ích của các bên tham gia,
có thể dẫn tới hoặc không dẫn tới pháp nhân. Nòng cốt của thành phần kinh tế này
là hợp tác xã: HTX nông nghiệp, thủ công, cổ phần…
- Đặc điểm:
+ Sở hữu hỗn hợp
+ Là hình thức kinh tế linh hoạt, hiệu quả
+ Một chủ thể có thể tham gia vào nhiều hợp tác xã.
+ Sản xuất kinh doanh dịch vụ ở tất cả các ngành trong nền kinh tế
- Xu hướng vận động: Tồn tại lâu dài, có thể trở thành kinh tế tư bản tư nhân

+ Tư hữu lớn.
+ Thuê và bóc lột lao động làm thuê.
+ Thường chỉ kinh doanh những ngành ít vốn, lãi cao.
+ Mạnh về vốn, linh hoạt.
- Xu hướng vận động: Tồn tại lâu dài, xã hội đòi hỏi phát triển thành phần
kinh tế này, có thể chuyển thànah kinh tế hợp tác, kinh tế Nhà nước hoặc tư bản
Nhà nước.

2.2.6. Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Thành phần kinh tế này bao gồm phần vốn đầu tư của nước ngoài vào các cơ
sở sản xuất, kinh doanh ở nước ta. Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế này
có thể có 100% vốn đầu tư nước ngoài, có thể liên kết, liên doanh, vói doanh
nghiệp Nhà nước hoặc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta.
Thành phần kinh tế này được tạo điều kiện phát triển thuận lợi, hướng vào
suất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện
đại, tạo thêm nhiều việc làm. So với Đại hội VIII, Đại hội IX đã tách thành một
thành phần kinh tế riêng không để trong thành phần kinh tế tư bản nhà nước.
Đại hội IX cũng chỉ có: "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế
nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ
phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cùng
phát triển lâu dài hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đoạ. kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền
tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
2.3. Tính thống nhất và mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế.
Nền kinh tế hàng hoá quá độ trong đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế với
những kiểu sản xuất hàng hoá không cùng bản chất, vừa thống nhất lại vừa mâu
thuẫn với nhau.

cao đời sống nhân dân.
Trong quá trình cạnh tranh và hợp tác, từng thành phần kinh tế tồn tại với tư
cách là đơn vị sản xuất hàng hoá để vươn lên tự khẳng định mình và phát triển
theo quỹ đạo chung, chịu sự quản lý của Nhà nước.
Cần phân biệt các thành phần kinh tế vì từ đặc điểm lịch sử hình thành và
bản chất vốn có của mỗi thành phần kinh tế có vị trí, vai trò, chức năng, tiềm năng,
xu hướng phát triển khác nhau. Chính sự khác nhau đó là cơ sở để phân biệt các
thành phần kinh tế, nhằm phát huy tác dụng tích cực và hạn chế ảnh hưởng teieu
cực của chúng với sự phát triển kinh tế - xã hội. Và chỉ có đường lối, chính sách
phân biệt như vậy mới có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Phải nhấn mạnh rằng, không chỉ phân biệt các thành phần kinh
tế mà nội dung từng thành phần kinh tế càng phải phân biệt. Khi phân tích chính

sách của Đảng với nông dân, Lênin chỉ rõ "phải phân biệt và phân định rõ ranh
giới giữa người nông dân lao động với người nông dân con buôn, giữa người nông
dân cần lao động với người nông dân đầu cơ. Tất cả thực chất của chủ nghĩa xã
hội nằm trong sự phân định ranh giới đó".
Như vậy, toàn bộ hoạt động của Nhà nước thực hiện trước hết bằng pháp
luật, các văn bản pháp luật, các chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội, cơ chế
quản lý, các biện pháp, phương tổ chức thực hiện… Không thể không tín đến sự
nhất quán giữa các thành phần kinh tế và sự phân biệt giữa chúng,. Trong sự thống
nhất đã chứa đựng sự phân biệt và phân biệt giữa chúng. Trong sự thống nhất đã
chứng đựng sự phân biệt để thống nhất.



- Tăng cường hiệu quả quản lý vĩ mô của nhà nước, phát huy mặt tích cực
của cơ chế thị trường. Bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật
của mọi doanh nghiệp và cá nhân, không phân biệt thành phần kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status