TIỂU LUẬN:
Phật giáo trong thế giới quan
của người Việt Nam chương I
Phật giáo, một hiện tượng tôn giáo
và triết học của dân tộc.
Sự giao lưu giữa các quốc gia trong một khu vực đã phá vỡ cái thế
riêng biệt của tâm lý, tư tưởng trong từng dân tộc làm cho tâm lý và tư
tưởng đó hoà vào cái chung của khu vực. Việt Nam cũng ở trong một quá
trình như thế. Theo chân các nhà buôn, nhà truyền giáo ấn Độ, Phật giáo
Thời Lê, thời Nguyễn tuy tôn sùng Nho, nhưng vẫn để cho Phật giáo lưu
hành. Lê Sát, Lê Ngân là những đại thần thời Lê sở và những hoàng thân,
quốc thích thời Nguyễn trong nhà đều có chùa thờ Phật. Thậm chí Trương
Hán Siêu trước chống Phật giáo sau lại theo Phật giáo. Còn quần chúng
nhân dân thì lẳng lặng đi theo Phật giáo.
Hai khuynh hướng phủ nhận và thừa nhận trên đã đan xen nhau, kế
tiếp nhau trong lịch sử. Nhưng khuynh hướng thừa nhận mạnh hơn khuynh
hướng phủ nhận và là khuynh hướng chung của lịch sử, làm cho Phật giáo
trở thành một tôn giáo và là một hiện tượng triết học lâu dài của dân tộc.
Trở thành một hiện tượng đó, rõ ràng không phải là sự áp đặt, cũng
không phải là sự lầm lỡ nhất thời, mà như là một sự tất yếu, một hiện
tượng có tính quy luật, không thể khác trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.
Tính tất yếu trên ít nhiều đã có người đề cập. Một số người có kiến
thức lịch sử lại có quan điểm hiện thực chủ nghĩa, không thể không công
khai thừa nhận sự tồn tại hiển nhiên của Phật giáo. Lê Quý Đôn, Ngô Thì
Nhậm, Phan Huy ích thế kỷ XVIII đều thừa nhận một số yếu tố của Phật
giáo. Thậm chí Lê Quý Đôn còn cho rằng chê bai tiên Phật là thái độ "hẹp
hòi".
Vì sao Phật giáo, một tôn giáo, một triết thuyết từ bên ngoài vào lại
khẳng định được vị trí của mình dài lâu trong dân tộc như thế?
Về vấn đề này đã có nhiều giải kiến khác nhau. Có người cho rằng
dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống bao dung tôn giáo nên dung nạp
Phật giáo; có người giải thích rằng Phật giáo là một trào lưu văn hoá nên
sẽ sống mãi với dân tộc, có người quan niệm rằng Phật giáo không giành
quyền binh và uy lực ngoài đời nên người ta tin theo Nhưng tất cả các lý
lẽ đó đều không sức thuyết phục. Nếu nói rằng, người Việt Nam có truyền thống bao dung tôn giáo
thì không thể giải thích được hiện tượng các nhà nho phê phán Phật giáo
người Việt Nam trong lịch sử. Tín ngưỡng đó với các nguyên lý: Thờ tổ
tiên thì được tổ tiên phù hộ, thờ thổ công thì được thổ công cho phúc, thờ
thành hoàng thì được thành hoàng bảo vệ đã gieo vào lòng người những
niềm tin.
Nhưng tín ngưỡng thô sơ đó không thoả mãn được nhu cầu tâm lý
và nhận thức của con người Việt Nam. Cùng với sự phát triển của xã hội,
người Việt Nam ngày càng mong muốn hiểu được ý nghĩa cuộc sống của
mình, muốn biết sự sinh thành của mình, muốn biết quan hệ nhân quả
trong cuộc đời mình Phật giáo với lý thuyết: Khổ, tập, diệt, đạo, nghiệp, vô,
thường, ngã đã đáp ứng được phần nào nhu cầu đó. Phật giáo do đó đã thay thế được các tín ngưỡng cổ truyền, trở thành tôn giáo chung của nhiều địa phương và
cuối cùng là của cả đất nước.
Sống và yêu cầu sống không được đáp ứng trong hiện thực xã hội, không
những là điều kiện cho Phật giáo du nhập và thắng thế, mà còn là cơ sở qui định sự
phát triển của các tông phái. Phật giáo ở Việt Nam, Tông phái nào chú ý đến yêu
cầu sống của dân, đến cảnh khổ đau thì ăn sâu phát triển, tông phái nào lý luận cao
siêu nhưng không chú ý mấy đến sự thoả mãn yêu cầu của con người thì dù có
được thịnh hành cũng chỉ là hiện tượng tạm thời trong lịch sử.
Phật giáo truyền vào nước ta là Phật đại thừa với cả ba tông phái: Thiền
tông, Mật tông, Tinh độ tông.
Thiền tông với các quan niệm: Phật tại tâm, Phật có ở mọi nơi, ai cũng có
thể trở thành Phật, có thể trở thành Phật ngay tức khắc đã nâng con người lên
trong ách kìm kẹp nặng nề của trật tự phong kiến và Nho giáo. Nhưng Thiền tông
không đề cập đến những nhu cầu thực tế, hàng ngày nên chỉ được thịnh hành trong
một giai đoạn lịch sử (Lý - Trần).
Mật tông với thuật phù chí, bùa phép, với phương pháp hàng long phục hổ,
trấn tà yểm huyệt, tuy thô thiển về mặt cách thức nhưng hứa hẹn thoả mãn một
điều gì đó trong tâm lý con người, nên được nhiều người tin theo nhất là quần
khoa học tự nhiên chưa xuất hiện, công nghiệp không có trên đất Việt
Nam mặc dù những nhận thức về tự nhiên và xã hội ở Việt Nam phần
nhiều còn ngây thơ, chất phác, còn dừng lại ở mức độ tư duy kinh nghiệm
nhưng những tác phẩm thành văn và hiện vật ghi chép lại đã cho thấy ở họ
có một bức tranh tổng quát và hoàn thiện về thế giới.
Do hoàn cảnh lịch sử, các học thuyết Nho, Phật,, Lão từ bên ngoài
truyền vào nước ta. Các học thuyết đó không những không phá vỡ sự hoàn
chỉnh vốn có của thế giới quan người Việt Nam mà còn dung hoà phát
triển trên cơ sở đó. Xét về mặt chất thì Nho, Phật, Lão có quan niệm khác
nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau về thế giới, xã hội và con người. Nhưng
xét về mặt kết cấu của một thế giới quan thì Nho, Phật, Lão lại là các bộ
phận cần thiết hợp thành. Giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, có sự phân
công trách nhiệm, đồng thời cũng có sự nương tựa vào nhau, bổ sung cho
nhau làm thành một thế giới quan toàn diện, cần thiết cho con người
phong kiến.
Thời kỳ Lý - Trần, các vua và triều đình cùng một lúc coi trọng cả
ba đạo, cùng một lúc sử dụng cả nhà nho, nhà sư và đạo sĩ. Họ đã tổ chức
ra các kỳ thi tam giáo và dựa vào thái độ của họ, người đương thời đã đề
xuất ra các lý thuyết "Tam giáo đồng nguyên", "Tam giáo đồng quy",
"Tam giáo nhất nguyên" Lý thuyết "Tam giáo đồng nguyên" còn được
nêu lên mạnh mẽ ở thế kỷ XVIII. Đó không phải là điều ngẫu nhiên, mà có cơ sở trong nội dung mỗi đạo cũng như vị trí mỗi đạo trong thế giới
quan người Việt Nam.
Nho giáo, một học thuyết được giai cấp thống trị đề cao và thần
thánh hoá, nhưng nó chỉ là học thuyết chính trị và đạo đức của giai cấp
phong kiến. Trong nhiều phương diện hoạt động của con người, nó chỉ
chú ý tới phương diện xã hội, trong nhiều mối quan hệ xã hội, nó chỉ chú
ý đến quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ. Bước vào lĩnh vực khác của
Sự lớn mạnh của Phật giáo, sự chi phối đời sống tinh thần toàn xã
hội của Phật giáo đã khiến nhiều nhà nho trong lịch sử không hiểu được
và thắc mắc. Lê Quát, một nho sĩ thế kỷ XIV phàn nàn rằng: " Nhà Phật
lấy hoạ phúc để cảm lòng người, sao được người ta tin sâu bền thế? " (Đại
việt sử ký toàn thư), Bùi Huy Bích một nho sĩ khác ở thế kỷ XVIII cũng
phàn nàn rằng: "Nhà nhà mê hoặc vào thuyết báo ứng, người ở đâu thì lề
Phật ở đấy" ( "Lừ trung tạp thuyết" của Bùi Huy Bích). Sự không hiểu
được đó vì thái độ thành kiến và thói quen nhắm mắt trước hiện thực của
nhà nho.
Phật giáo, ngoài vấn đề thế giới quan của giai cấp phong kiến, còn
là vấn đề của người dân bình thường, được quần chúng tự nguyện tin theo.
Ngoài tính giai cấp ra, Phật giáo còn có tính quần chúng. Chính vì vậy,
khi cuộc cách mạng xã hội nổ ra thì Nho và Lão - Trang không còn cơ sở
tồn tại, nhưng Phật giáo vẫn còn sống dai dẳng. chương iv
Giá trị và hạn chế của Phật giáo trong phương pháp tư duy của người
Việt Nam.
Phật giáo là một tôn giáo, nhưng trong đó hai yếu tố tôn giáo và
triết học quện vào nhau, làm cơ sở luận chứng cho nhau. ở đây, chúng ta
chú ý tới yếu tố triết học. Về mặt này, Phật giáo đã có ảnh hưởng lớn tới
phương pháp tư duy của người Việt Nam. Trong đó có những giá trị, đồng
thời cũng có nhiều hạn chế.
Tiếp thu Phật giáo, tư duy người Việt có thêm một loạt khái niệm
và phạm trù nói lên bản thể luận, nhận thức luận là những vấn đề cơ bản
của triết học. Trong thế giới quan phức hợp nhiều thành phần của người
Việt Nam thì Phật giáo là thành phần có ý nghĩa triết học nhiều nhất.
Tuy ở đó có nội dung báo ứng, có tư tưởng nhẫn nhục chịu đựng và không
phân biệt bạn thù, song việc làm do tác động của tư tưởng trên biểu hiện
một sự quan tâm đến con người, cứu vớt con người.
Trên đây là những vấn đề mà triết học Phật giáo dựa vào thế giới
quan Việt Nam, góp phần làm nên những yếu tố có ý nghĩa triết học sâu sa
trong phương pháp tư duy của người Việt Nam.
Tuy vậy, Phật giáo có những hạn chế, những ảnh hưởng tiêu cực
đến tư duy người Việt.
Phật giáo chỉ thấy cá nhân con người mà không thấy xã hội con
người, chỉ thấy con người nói chung mà không thấy con người thuộc các
giai cấp đối kháng nhau trong xã hội trước đây, không thừa nhận sự đấu
tranh giai cấp trong xã hội. Do đó, không thấy được nguyên nhân xã hội
đưa đến sự khổ ải của con người, không thấy được sự cần thiết phải đấu
tranh chống áp bức, bóc lột vì thế quan niện từ bi, bác ái trong một số
trường hợp bất lợi cho sự đấu tranh giải phóng giai cấp, chống áp bức.
Phật giáo không bàn tới lĩnh vực chính trị, vì thế mỗi khi nhà sư
bước sang lĩnh vực chính trị - xã hội, họ phải sử dụng các tư tưởng của
nhà Nho hay Lão - trang. Nhà sư Viên Thông cho rằng: "Lòng dân là gốc
trị loạn", trong đó "lòng dân" là khái niệm và tư trưởng của nhà nho; hoặc
nhà sư Đỗ Pháp Thuận nói: "Vô vi cư diện các, xứ xứ tức đao binh" (nếu
đường lối vô vi ngự trị trong triều đình, thì nơi nơi sẽ tắt chiến tranh) trong đó " vô vi" là khái niệm của Lão - Trang, mặc dù khái niệm đó đã
được giải thích theo quan niệm nhà Phật.
Hạn chế lớn nhất của Phật giáo đối với phương pháp tư duy của
người Việt Nam là quan điểm duy tâm thần bí. Quan điểm này khiến
người ta không hướng vào hiện thực, mà hướng vào nghiệp, vào quả báo,
vào thần linh để mong được phù hộ, độ trì. Và một khi tư duy như vậy thì
không cần gì đến sự tìm tòi và khám phá, sáng tạo và hành động.
đáo, đậm đà bản sắc dân tộc có tầm cỡ quốc tế của Việt Nam phần lớn
được xây dựng vào thời kỳ này. Từ cuối thế kỷ XIII cho đến nay, Phật
giáo không còn là "quốc giáo" nữa nhưng những tư tưởng tích cực của nó
vẫn còn là nguồn sống tinh thần của nhân dân ta và cần được giữ gìn và
phát huy.