Lãi suất là công cụ điều tiết thị trường có hiệu
quả
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
LÃI SUẤT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI LÀ MỘT TRONG NHỮNG CÔNG CỤ
ĐIỀU TIẾT CÓ HIỆU QUẢ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : PGS.NGƯT Vũ Hữu Tửu
Sinh vên thực hiện : Nhâm Thị Hà
6.Sự điều hành lãi suất tín dụng c
ủa NHTƯ......................................................... 30
Chương II:Thực trạng chính sách lãi suất ở Việt Nam trong thời gian vừa
qua. ..............................................................................................................................
1.Giai đoạn từ 1945 đến 1951............................................................................... 34
2.Giai đoạn từ năm 1951 đến 1986 ....................................................................... 35
3.Giai đoạn cuối năm 1986 đến 1995 ................................................................... 37
4.Giai đoạn từ 1/1/1996 đến nửa đầu năm 2000................................................... 40
5.Giai đoạn từ 5/8/2000 đến 1/6/2002 .................................................................. 50
6.Giai đoạn từ 1/6/2002 đến nay........................................................................... 53
Chương III:Giải pháp điều hành lãi su
ất ở Việt Nam hiện nay..................... 57
I.Tác động tích cực và tính tất yếu của việc thay đổi cơ chế lãi suất theo
hướng thị trường.................................................................................................... 57
II.Định hướng của NHNN Việt Nam đối với chính sách lãi suất hiện nay .......... 61
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trường có hiệu
quả
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
3
1. Những nguyên tắc cơ bản cần quán triệt khi đổi mới chính sách lãi suất ........ 61
2. Định hướng về chính sách lãi suất ................................................................... 61
III. Những giải pháp điều hành lãi suất ở Việt Nam............................................. 62
1. Những khó khăn gặp phải trong quá trình chuyển sang cơ chế lãi suất thoả
thuận...................................................................................................................... 62
2. Những giải pháp................................................................................................ 64
Kêt luận ................................................................................................................ 70
Tài liệu tham khảo ............................................................................................. 71
Phụ lục 1............................................................................................................... 72
Phụ lục 2............................................................................................................... 74
suấ
t nhằm đạt được các mục tiêu: giá cả, sản lượng và công ăn việc làm.Sự
tác động đó thông qua các công cụ là các lãi suất tái cấp vốn, chiết khấu, tái
cấp vốn...
Như vậy có thể hiểu lãi suất là một kênh truyền dẫn sự tác động của
chính sách tiền tệ. Nó được sử dụng như là một công cụ vô cùng hữu hiệu dể
điều tiết nền kinh tế. Đó là m
ột biến số được theo dõi vô cùng chặt chẽ bởi
nó chi phối đến các quyết định của chúng ta, nó ảnh hưởng đến cuộc sống
của mỗi người trong thời đại ngaỳ nay.
Đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì việc sử dụng có hiệu quả lãi
suất để đem lại một hiệu quả tốt cho nền kinh tế hay nói cách khác là việc
thực thi chính sách tiền tệ mộ
t cách hiệu quả là tương đối phức tạp và rất có
ý nghiã đối với nền kinh tế.
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trường có hiệu
quả
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
5
Trong phạm vi đề tài này tôi xin đề cập đến sự điều hành lãi suất ở
Việt Nam trong giai đoạn từ khi NHNN thành lập cho đến nay- khi áp dụng
chính sách lãi suất thoả thuận.
Mặc dù đây không phải là một đề tài mới nhưng laị là một vấn đề luôn
được quan tâm vì cho dù chính sách lãi suất đã được áp dụng từ rất lâu trên
thế giới cũng như Việt Nam song đối với mỗi nước sự tác
động của chính
sách này đối với nền kinh tế lại không giống nhau, hay ngay trong một nước
tại những thời điểm khác nhau cần phải có những biện pháp tác động khác
nhau. Hay nói cách khác để vận dụng có hiệu quả chính sách này thì đòi hỏi
VÀ LÃI SUẤT
TÍN DỤNG.
I. Chính sách tiền tệ.
1. Khái niệm.
Hoạt động của ngân hàng liên quan đến sự ổn định hay thay đổi của
tiền tệ về lưu lượng, chi phí và giá trị, vì những thay đổi nói trên tác động
đến giá cả hàng hoá và giá trị tài sản, thu nhập của nhân dân. Cho nên nó
trực tiếp làm biến chuyển mức sống của họ giữa hai cực: khó khăn, đắt đỏ và
thuận lợi tiện nghi. Do đó bằng cách tạo ra những biến động về tiền t
ệ, người
ta hoàn toàn có thể hướng dẫn những biến động nhất định trong đời sống và
sinh hoạt kinh tế của một cộng đồng. Mối quan hệ ấy đã làm cho tiền tệ biến
động được gọi là “chính sách tiền tệ”. Hoặc chúng ta cũng có thể hiểu: chính
sách tiền tệ là tổng hoà các phương thức mà ngân hàng TƯ thông qua các
công cụ của mình tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông, nhằ
m phục
vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của một quốc gia trong một
thời kỳ nhất định.
Nói đến chính sách tiền tệ không thể không đề cập đến tiền tệ.
Tiền tệ luôn có hai chức năng cơ bản: đó là chức năng làm trung gian
trao đổi, thanh toán và chức năng dự trữ giá trị trong đời sống và hoạt động
kinh tế. Một đi
ều hiển nhiên là khi có một lượng tiền càng lớn thì những
hoạt động trên diễn ra càng thuận lợi vì khi đó chi phí để có tiền sẽ trở nên
thấp hơn và do đó giá trị của tiền cũng giảm theo. Và cơ bản là khi đó cơ hội
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trường có hiệu
quả
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
là mục tiêu dài hạn. Ôn định giá trị tiền tệ là ổn định sức mua của tiền tệ và
ổn định giá cả, trong đó ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trường có hiệu
quả
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
8
hướng phát triển kinh tế của quốc gia. Giá cả có mức lạm phát thấp và ổn
định sẽ làm cho mức tăng thu nhập thực tế của người dân (+) , thúc đẩy nhu
cầu đầu tư, đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả, cải
thiện đời sống của người dân. Ngựơc lại sự bất ổn định giá cả(khi nền kinh
tế rơ
i vào tình trạng lạm phát cao hay thiểu phát liên tục) sẽ làm cho môi
trường kinh tế vĩ mô của quốc gia biến động phức tạp và khó dự đoán chính
xác, nạn đầu cơ sẽ làm nới rộng khoảng cách giàu nghèo, khiến nhân dân
mất niềm tin ở chính quyền. Việc công bố công khai chỉ tiêu này là cam kết
của Ngân hàng TƯ nhằm ổn định giá trị tiền tệ về mặt dài hạn. Điều này có
nghĩa là NHTƯ không tậ
p trung điều chỉnh sự biến động giá cả trong ngắn
hạn. Do những biện pháp về chính sách tiền tệ tác động đến nền kinh tế có
tính chất trung và dài hạn, hơn nữa khó có thể dự đoán chính xác kết quả sẽ
xảy ra vao thời điểm nào trong tương lai, vì vậy sẽ là không khả thi đối với
NHTƯ trong việc theo đuổi kiểm soát giá cả trong ngắn hạn.
Như vậ
y ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu và là mục tiêu dài hạn
của chính sách tiền tệ.
-Tăng trưởng kinh tế
: tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định là nền tảng
cho mọi sự ổn định. Nó đảm bảo giải quyết cho các mục tiêu kinh tế khác
của chính sách tiền tệ như: giảm tỷ lệ thất nghiệp, ổn định tiền tệ trong nước,
thất nghiệp tạm thời (những người đang tìm kiếm việc làm thích hợp) và tỷ
lệ thất nghiệp cơ cấu (thất nghiệp bởi sự không phù hợp nhu cầu về lao động
và cung của lao động). Bên cạnh đó cố gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
cũng được coi là mụ
c tiêu của chính sách tiền tệ.
Ngoài các mục tiêu vĩ mô trên, một số nước còn tập trung vào các mục
tiêu cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế đặc thù của họ. Chẳng
hạn, Cục dự trữ liên bang Mỹ theo đuổi các mục tiêu khác như ổn định thị
trường tài chính, ổn định lãi suất hoặc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm
mục tiêu ổn định hệ thố
ng các tổ chức tín dụng thay vì đảm bảo công ăn việc
làm.
Các mục tiêu của chính sách tiền tệ vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với
nhau. Trong khi mục tiêu tăng trưởng kinh tế vững chắc có quan hệ chặt chẽ
với mục tiêu việc làm đầy đủ, mục tiêu tăng trưởng kinh tế và ổn định giá cả
bổ sung cho nhau trong dài hạn, thì trong ngắn hạn mục tiêu ổn đinh giá cả
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trường có hiệu
quả
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
10
lại mâu thuẫn với mục tiêu việc làm cao và mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Mâu thuẫn giữa các mục tiêu đặt các quốc gia vào việc phải lựa chọn một
mục tiêu thích hợp cho từng thời kì, chấp nhận cắt giảm nhất định đối với
những mục tiêu khác, đồng thời sử dụng và điều chỉnh các công cụ của chính
sách tiền tệ nhằm đạt đựơc các chỉ tiêu trung gian: t
ổng khối lượng tiền cung
ứng(M1,M2,M3), hoặc mức lãi sất thị trường(ngắn và dài hạn), chỉ tiêu hoạt
động(tổng dự trữ của ngân hàng thương mại, lãi suất ngắn hạn của thị trường
liên ngân hàng…
u quả do
thị trường tiền tệ chưa phát triển hoặc do mức cầu tiền tệ không nhạy cảm
với sự biến động lãi suất, hoặc do NHTƯ không có khả năng khống chế và
kiểm soát lượng vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng thương mại thì công
cụ hạn mức tín dụng là không thể thiếu trong việc điều tiết lượng tiền cung
ứng.
Khi sử dụng hạn mức tín dụng nhằm khống chế dư nợ tín dụng của
các ngân hàng thương mại thì tương đương với nó là một lượng nguồn vốn
tiền gửi huy động, qua đó ảnh hưởng đến tỷ trọng vốn tín dụng so với lượng
cung ứng. Khi NHTƯ tăng hạn mức tín dụng sẽ dẫn tới khả năng tăng cung
ứng vốn tín dụ
ng của các tổ chức tín dụng cho nền kinh tế, tăng khả năng tạo
tiền qua hệ thống ngân hàng, do đó sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng. Còn
ngược lại giảm hạn mức tín dụng sẽ làm giảm lượng tiền cung ứng.
Tuy nhiên đây là công cụ có tính chất hành chính và thiếu linh hoạt,
đôi khi đi ngược lại với chiều hướng biến động của thị trường tín dụng nên
hi
ệu quả điều tiết của nó chưa cao vì nó có thể đẩy lãi suất lên cao hoặc giảm
khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
b.Lãi suất tiền gửi và cho vay.
Ngân hàng thương mại có thể sử dụng công cụ lãi suất, như khung lãi
suất, lãi suất trần, sàn lãi suất tiền gửi và cho vay trên thị trường nhưng
thông qua cơ chế điều chỉnh cung cầu tiền tệ. Nếu lãi suất tiền gửi cao sẽ thu
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trường có hiệu
quả
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
12
hút được nhiều tiền gửi làm tăng nguồn vốn vay. Ngược lại, sẽ làm giảm khả
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trường có hiệu
quả
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
13
ngân hàng thương mại, gây ra tình trạng mất ổn định trong thanh toán và
quản lý các ngân hàng.
b,Lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn
.
Tái chiết khấu và tái cấp vốn là các phương thức mà NHTƯ cho các
ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng vay thông qua hình thức chiết
khấu lại giấy tờ có giá.
Với việc ấn định lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn NHTƯ có thể tác
động đến khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại. Và qua đó làm
cho cung cầu về tiền tệ có sự thay đổi. Khi lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vố
n
tăng lên các ngân hàng thương mại sẽ bất lợi nếu vay vốn của Ngân hàng
Trung ương. Trong điều kiện như vậy, các ngân hàng thương mại sẽ không
có khả năng mở rộng cho vay tín dụng. Ngược lại, khi lãi suất tái chiết khấu,
tái cấp vốn giảm, các ngân hàng thương mại do được lợi trong việc chiết
khấu lại với NHTƯ nên sẽ có điều kiện mở rộng khả
năng cho vay tín dụng.
Công cụ này có ưu điểm là việc vay muợn được thực hiện trên những
giấy tờ có giá nên thời hạn vay muợn tương đối rõ ràng, việc hoàn trả nợ
tương đối chắc chắn, tiền vay vận động phù hợp với sự vận động của qui luật
cung cầu thị trường. Nó cũng giúp NHTƯ thực hiện vai trò người cho vay
cuối cùng nhằm giúp nền kinh tế
tránh khỏi những cuộc sụp đổ tài chính.
Bên cạnh đó, công cụ này cũng còn tồn tại không ít nhược điểm. Thứ nhất:
trong nghiệp vụ này NHTƯ ở vào thế bị động NHTƯ có thể thay đổi lãi suất
độ nào khi có yêu cầu,
căn cứ vào khối lượng giấy tờ có giá bán ra.
+)Nghiệp vụ thị trường mở có thể tiến hành nhanh chóng, không gây
những chậm trễ về mặt hành chính và ít gây tốn kém về mặt chi phí.
Tuy nhiên khi NHTƯ mua bán chứng khoán trên thị trường thì vẫn
phải phụ thuộc vào người mua và người bán, các ngân hàng thương mại. Và
để sử dụng được nghiệp vụ này thì phải có sự phát triển khá cao của cơ chế
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trường có hiệu
quả
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
15
thanh toán không dùng tiền mặt, tiền trong lưu thông phần lớn nằm trong tài
khoản của các ngân hàng.
II. Lãi suất tín dụng.
Phạm trù quan trọng nhất của ngân hàng là lãi suất. Danh từ lãi suất
chúng ta nói ở đây bao gồm các khoản chi phí của tiền tệ và tài chính trong
nền kinh tế. Chi phí của vốn sẽ quyết định lợi nhuận tạo ra từ nguồn vốn ấy
ở bất kì lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào. Trong lĩnh vực ngân hàng đ
iều
này càng chính xác.
Khi tiền nhiều được cất vào kho hay chôn xuống đất, tiền không tạo ra
được bất kì lợi nhuận, hay giá trị nào vì nó bị cách ly với môi trường mà
trong đó nó có vai trò vô cùng quan trọng. Và trong điều kiện có lạm phát thì
giá trị của nó càng để lâu càng bị giảm. Ngựơc lại khi được vận dụng một
cách có ích tiền sẽ tạo ra giá trị. Đến lượt chính những giá trị do nó tạo ra
xác định chi phí cần phải có để có ti
ền.
Ngưòi ta gọi chi phí này là tiền lãi. Lãi suất tính bằng tỷ lệ phần
trăm(%) và định nghĩa như sau:
.
a,Lãi suất tín dụng thương mại: áp dụng khi các doanh nghiệp cho
nhau vay dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá. Nó được tính như sau:
Lãi suất tín dụng thương mại=100%* [(giá cả hàng hoá bán chịu – giá
cả hàng hoá bán trả tiền ngay)/ giá cả hàng hoá bán chịu]
Loại lãi suất này được tính bao hàm trong tổng giá cả hàng hoá bán
chịu.
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trường có hiệu
quả
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
17
b,Lãi suất tín dụng ngân hàng: áp dụng trong quan hệ giữa ngân hàng
với công chúng và doanh nghiệp trong việc thu hút tiền gửi và cho vay, trong
hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương cho các ngân hàng, trong
quan hệ giữa các ngân hàng với nhau trên thị trường liên ngân hàng. Việc
phân biệt khái niệm lãi suất trong các quan hệ này là cần thiết để hiểu rõ mối
quan hệ giữa chúng:
Lãi suất tiền gửi: là lãi suất trả cho các khoản tiền gửi. Nó được áp
dụng để tính tiền lãi phải tr
ả cho người gửi tiền. Lãi suất tiền gửi có nhiều
mức khác nhau tuỳ thuộc vào thời hạn gửi, qui mô tiền gửi.
Lãi suất tiền vay: lãi suất người đi vay phải trả cho ngân hàng do việc
sử dụng vốn vay của ngân hàng. Nó được áp dụng để tính tiền lãi vay mà
khách hàng phải trả cho ngân hàng. Về mặt nguyên tắc mức lãi suất tiền vay
bình quân phải cao hơn mức lãi suất tiền gửi bình quân, và có sự phân biệ
t
giữa các khoản vay với thời hạn khác nhau cũng như mức rủi ro khác nhau.
Lãi suất chiết khấu : áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới
hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc giấy tờ có gía chưa đến hạn thanh
cung cầu tiền trung ương của các tổ chức tín dụng và chịu sự chi phối của lãi
suất tái cấp vốn của NHTƯ. Mức độ chi phối này phụ thuộc vào sự phát triển
của thị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay NHTƯ của các tổ
chức tín
dụng.
Lãi suất cơ bản: được các ngân hàng sử dụng để ấn định mức lãi suất
kinh doanh của mình. Lãi suất cơ bản được hình thành khác nhau tuỳ từng
nước, nó có thể do NHTƯ ấn định, hoặc có thể do bản thân các ngân hàng tự
xác định căn cứ vào tình hình hoạt động cụ thể của ngân hàng mình và đó là
mức lãi suất được áp dụng cho các khách hàng có mức rủi ro thấp nhất, hoặ
c
căn cứ vào mức lãi suất cơ bản của một số ngân hàng đứng đầu, của các
ngân hàng khác + hoặc - biên độ giao động theo một tỷ lệ % nhất định để
hình thành lãi suất cơ bản của mình. Một số nước lại sử dụng lãi suất liên
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trường có hiệu
quả
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
19
ngân hàng làm lãi suất cơ bản vì thực chất lãi suất cơ bản của các ngân hàng
rất gần với mức lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, nếu không như vậy
hoạt động Arbitrage về lãi suất sẽ diễn ra. Mặc dù khác nhau lãi suất cơ bản
của hầu hết các nước đều hình thành trên cơ sở thị trường và đó là mức lãi
suất tối thiểu bù đắp được lãi suất cho vay và có một mức l
ợi nhuận bình
quân cho phép. Khi áp dụng đối với các đối tượng có mức rủi ro khác nhau,
mức lãi suất kinh doanh sẽ khác nhau vì sự biến động của mức bù rủi ro.
Ơ Việt Nam truớc tháng 8 năm 2002, lãi suất cơ bản do Ngân hàng
Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh
doanh. Lãi suất cơ bản được thông báo hàng tháng trên cơ sở tham khảo mức
a,Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền
tệ vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi
tỷ lệ lạm phát. Lãi suất danh nghĩa thường được thông báo chính thức trong
các quan hệ tín dụng.
b,Lãi suất thực tế: là loại lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo
những thay đổi về lạm phát. Hay nói cách khác là lãi suất đ
ã trừ đi tỷ lệ lạm
phát. Lãi suất thực có hai loại:
Lãi suất thực tính trước là lãi suất thực được điều chỉnh lại cho đúng
theo những thay đổi dự tính về lạm phát.
Lãi suất thực tính sau là lãi suất thực được chỉnh lại cho đúng những
thay đổi trên thực tế về lạm phát.
Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực và lạm phát đượ
c
Irving Fisher nêu thành phương trình sau:
lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát
2.3.Căn cứ vào mức độ ổn định của lãi suất: lãi suất chia thành hai
loại:
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trường có hiệu
quả
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
21
Lãi suất cố định: là lãi suất được áp dụng cố định trong suốt thời hạn
vay. Nó có ưu điểm: người gửi tiền và người vay tiền biết trước tiền lãi được
trả và phải trả. Bên cạnh đó có nhược điểm: bị ràng buộc bởi một mức lãi
suất nhất định trong một thời gian nào đó các tổ chức cung ứng tín dụng và
người vay tiề
n khó có khả năng phản ứng linh hoạt với những biến động nếu
kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh
nghiệp. Lãi suất có thể coi là chi phí của doanh nghiệp. Khi lãi suất thấp có
nghĩa là chi phí của vốn đầu tư thấp, điề
u đó sẽ khuyến khích doanh nghiệp
mở rộng đầu tư. Bớt một đồng chi phí là tăng một đồng lợi nhuận vì thế họ
sẽ tìm cách tối đa hoá lợi nhuận trên một đồng chi phí. Có thể nói rằng lãi
suất đóng vai trò là công cụ bắt buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn một
cách triệt để, có hiệu quả.
-Đối với Nhà nước: lãi suất không chỉ là mộ
t công cụ nhằm huy động
hay cho vay vốn mà còn là công cụ quản lý vĩ mô quan trọng nhằm điều tiết
sản xuất kinh doanh theo đúng hướng, xử lý hài hoà giữa tổng cung và tổng
cầu tiền tệ, điều hành gián tiếp chính sách tiền tệ quốc gia để thực hiện các
mục tiêu của mình: ổn định giá cả đồng nội tệ, tăng trưởng kinh tế ở tốc độ
cao (trên 7%) và công ăn việ
c làm đầy đủ.
3.2.Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường.-Lãi suất tín dụng là phương tiện kích thích lợi ích vật chất để thu hút
mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế.
Lãi suất là một loại giá cả đặc biệt của việc buôn bán vốn tiền tệ, do
đó nó cũng tuân thủ qui luật cung cầu thị trường. Muốn thu hút nguồn vốn
nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế, ngoài việc phục vụ tốt còn đòi hỏi
giá c
ả(lãi suất) hợp lý và hấp dẫn. Đối với ngân hàng, lãi suất huy động tiền
gửi cao sẽ kích thích lòng ham muốn lợi nhuận của khách hàng đối với ngân
hàng. Do đó nếu ngân hàng muốn tăng cường huy động vốn có thể bằng
nhiều biện pháp trong đó có công cụ lãi suất.
nhiệm vụ trong toàn thời kỳ này của đất nước ta là: Công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Vậy để có thẻ tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng sản
xuất thì vấn đề không thể thiếu được là v
ốn. Trong đại hội VIII của Đảng đã
đề ra rằng: vấn đề tích luỹ và sử dụng vốn để tiến hành công nghiệp hoá,
hiện đại hoá có tầm quan trọng đặc biệt cả về phương pháp nhận thức và chỉ
Lãi suất là công cụ điều tiết thị trường có hiệu
quả
Nhâm Thi Hà- A3 chuyên ngành 7
24
đạo thực tiễn. Vì vậy cơ chế lãi suất có vai trò quan trọng trong việc huy
động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tập trung các nguồn vốn manh mún,
tản mạn thành các nguồn vốn lớn đáp ứng các nhu cầu về vốn cho các doanh
nghiệp tạo điều kiện cho việc tái sản xuất, mở rộng sản xuất một cách liên
tục, phát triển kinh tế.
-Lãi suất với quá trình đầu tư.
Quá trình đầu tư của các doanh nghiệp vào tài sản cố định (máy móc,
công trường, nguyên vật liệu) chỉ được thực hiện khi họ dự tính lợi nhuận
thu được từ vốn đầu tư vào các tài sản cố định này lớn hơn số lãi phải trả cho
các khoản đivay để đầu tư. Do đó khi lãi suất thấp các doanh nghiệp có điều
kiện tiến hành vay vốn đầu tư vào các tài sả
n cố định phục vụ sản xuất. Vì
thế chi tiêu đầu tư có kế hoạch sẽ cao hơn và ngược lại. Quan hệ lãi suất và chi tiêu đầu tư có kế hoạch
Sự dốc xuống của đường đầu tư phản ánh tỷ lệ nghịch giữa chi tiêu
đầu tư có kế hoạch với lãi suất .
Đường đầu tư càng thoải thì càng nhạy cảm với lãi suất.
Lãi suất thấp sẽ khuyến khích đầu tư, khuyến khích tiêu dùng, làm
tăng tổng cầu dẫn đến sản lượng tăng giá cả tăng, thất nghiệp giảm, nội tệ có
xu hướng giảm giá so với ngoại tệ.
Ngược lại lãi suất cao sẽ hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng do đó làm
giảm tổng cầu, khiến sản lượng giảm, giá giảm, thất nghiệp tăng, nội tệ có xu
hướng tăng gía so với ngoại tệ.
Như vậy lãi suất là công cụ đo lường tình trạng sức khoẻ của nền kinh
tế. Người ta thấ
y rằng: trong giai đoạn đang phát triển của nền kinh tế, lãi
suất có xu hướng phát triển do cung cầu cho vay đều phát triển, trong đó tốc
độ phát triển quỹ cho vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay. Ngược
lại trong nền kinh tế bị đình trệ, hàng hoá bị ứ đọng và xuống giá, cơ hội đầu
tư kiếm lời giảm xuống, áp lực lạm phát hay thiểu phát, lãi suấ
t sẽ giảm bởi
nguyên tắc cơ bản lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận đầu tư.
-Lãi suất với xuất nhập khẩu: khi lãi suất trong nước thực tế tăng thì
các khoản tiêu dùng bằng đồng nội tệ sẽ trở nên thấp hơn so với các khoản
tiêu dùng bằng quỹ ngoại tệ. Do đó làm cho giá trị đồng nội tệ tăng lên so
với các đồng khác nghĩ
a là tỷ giá hối đoái tăng. Lúc này hàng hoá trong
nước tại nước ngoài đắt hơn, hàng hoá nước ngoài ở trong nước sẽ rẻ hơn
dẫn đến giảm xuất khẩu ròng, khuyến khích nhập khẩu