BÀN VỀ VẤN ĐỀ TĂNG VỐN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRƯỚC CỘT MỐC 31/12/2010 - Pdf 11

BÀN VỀ VẤN ĐỀ TĂNG VỐN CỦA CÁC NHTM
VIỆT NAM TRƯỚC CỘT MỐC 31/12/2010
I. Lý luận chung:
1. Sự cần thiết về việc tăng vốn điều lệ của các Ngân hàng thương mại Việt Nam:
Để triển khai kế hoạch hoạt động trong những năm sắp tới và thực hiện chiến lược
phát triển hoạt động kinh doanh, việc tiếp tục tăng vốn điều lệ của Ngân hàng thương mại
có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng nói riêng, và
nền kinh tế nói chung. Thông qua việc tăng vốn điều lệ, sẽ tạo điều kiện cho các ngân
hàng nâng cao năng lực hoạt động, khả năng cạnh tranh của bản thân ngân hàng trong
giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội
của đất nước; cụ thể:
+ Nâng cao khả năng huy động vốn và cho vay đối với khách hàng nhằm thúc đẩy
phát triển kinh tế xã hội;
+ Nâng cao khả năng đầu tư tài sản, góp vốn mua cổ phần, phát triển hệ thống
công nghệ hiện đại phục vụ công tác quản trị ngân hàng và cung ứng các sản phẩm dịch
vụ ngân hàng mới, tạo cơ sở để phát triển mạng lưới chi nhánh nhằm đáp ứng ngày càng
tốt hơn nhu cầu của khách hàng;
+ Nâng cao khả năng chống đỡ với các rủi ro trong hoạt động và đáp ứng tốt hơn
các chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng.
+ Nâng cao năng lực cạnh tranh đối với các ngân hàng có vốn đầu tư của nước
ngoài trong thời kỳ mở cửa hội nhập, nâng cao vị thế của các Ngân hàng thương mại Việt
Nam trong các giao dịch tài chính quốc tế.
Việt Nam đã hội nhập thực sự với nền kinh tế thế giới kể từ khi gia nhập WTO,
cơ chế bao cấp dần dần được xóa bỏ, do đó nguy cơ xảy ra các vụ phá sản ngân hàng là
hoàn toàn có thể xảy ra, nhất là khi nước ta cũng không nằm ngoài khu vực chịu tác động
tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Mặt khác, thực tế ở Việt Nam, khoảng cách
giữa sự phát triển của các sản phẩm dịch vụ tài chính với hoạt động quản trị rủi ro đang
ngày càng lớn. Trong bối cảnh đó theo quy định của Nghị định141/2006/NĐ-CP buộc các
ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) phải tăng vốn điều lệ theo lộ trình với bước
1 đến hết năm 2008 phải đạt 1000 tỷ đồng và bước 2 phải đạt 3.000 tỷ đồng hạn chót
31/12/2010.

Ban hành kèm theo Nghị định này Danh mục mức vốn pháp định đối với các tổ
chức tín dụng thành lập và hoạt động tại Việt Nam.
Điều 2. Tổ chức thực hiện
1. Tổ chức tín dụng được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải có biện pháp
bảo đảm có số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp
định quy định tại Danh mục ban hành kèm theo, chậm nhất vào ngày 31 tháng 12 năm
2008 và ngày 31 tháng 12 năm 2010.
2. Các tổ chức tín dụng được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày Nghị
định này có hiệu lực và trước ngày 31 tháng 12 năm 2008, phải đảm bảo có ngay số vốn
Điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp định quy định cho
năm 2008 tại Danh mục ban hành kèm theo.
3. Các tổ chức tín dụng được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày 31
tháng 12 năm 2008 phải đảm bảo có ngay số vốn Điều lệ thực góp hoặc được cấp tối
thiểu tương đương mức vốn pháp định quy định cho năm 2010 tại Danh mục ban hành
kèm theo.
Điều 3. Quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước
Giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định xử lý, kể cả việc thu hồi Giấy
phép thành lập và hoạt động đối với tổ chức tín dụng có số vốn điều lệ thực góp hoặc
được cấp thấp hơn mức vốn pháp định tương ứng đối với từng loại hình tổ chức tín dụng
quy định cho từng thời kỳ nêu trong Danh mục ban hành kèm theo.
Điều 4. Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và
thay thế Nghị định số 82/1998/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 1998 của Chính phủ về ban
hành Danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng.
Điều 5. Trách nhiệm thi hành
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
Dưới đây là danh mục mức vốn pháp định đối với các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt
động tại Việt Nam.(Ban hành kèm theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP

thực hiện tăng vốn và phương án xử lý trong trường hợp không đạt được mức vốn này.

c. Cùng ngày, Ngân hàng Nhà nước có văn bản số 397/NHNN-TTGSNH yêu cầu
các ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng liên doanh, ngân hàng trách nhiệm hữu
hạn 100% vốn nước ngoài, tổ chức tín dụng phi ngân hàng không phải là cổ phần xây
dựng kế hoạch tăng vốn điều lệ năm tài chính 2010. Để đảm bảo các tổ chức tín dụng
(TCTD) thực hiện việc tăng vốn điều lệ theo đúng quy định tại Nghị định 141/2006/NĐ-
CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ về ban hành danh mục mức vốn pháp định của các
TCTD (Nghị định 141), Theo Văn Bản này Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu Quý
đơn vị:
1. Khẩn trương xây dựng kế hoạch tăng vốn trong năm tài chính 2010 trình các
cấp có thẩm quyền thông qua theo quy định hiện hành(Trong đó nêu rõ tiến độ thực hiện
tăng vốn và phương án xử lý trong trường hợp tổ chức tín dụng không đạt được mức vốn
này)
3
2. Chậm nhất ngày 31/03/2010 có văn bản báo cáo Thống đốc Ngân hàng nhà
nước (qua Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng) về việc tăng vốn điều lệ của Quý đơn
vị, trong đó báo cáo cụ thể về:
• Kết quả việc thực hiện tăng vốn năm 2009
• Kế hoạch tăng vốn điều lệ năm 2010 của Quý đơn vị nêu tại điểm 1 của
công văn này
• Đề xuất biện pháp xử lý đối với những trường hợp không đảm bảo mức vốn
quy định
3. Đề nghị các đơn vị nhận được công văn này nghiêm túc triển khai thực hiện
và báo cáo Thống đốc ngân hàng nhà nước đúng tiến độ
d. Ngày 10-5-2010 Văn bản số 3417/NHNN-TTGSNH yêu cầu tổ chứ tín dụng có
mức vốn điều lệ trong năm 2010 chưa đảm bảo mức vốn pháp định theo Nghị định 141
chậm nhất ngày 30.6.2010 phải trình Ngân hàng Nhà nước hồ sơ đề nghị chấp thuận tăng
vốn.Văn Bản có nội dung như sau:
1. Chậm nhất ngày 30/6/2010, tổ chức tín dụng phải trình Ngân hàng Nhà nước

như hiện nay vẫn còn là một tỷ lệ khiêm tốn. Tỷ lệ này có thể cao hơn nhưng vẫn kiểm
soát được sự chi phối của cổ đông nước ngoài. Nếu tỷ lệ này được tăng lên sẽ giúp cho
NHTMCP tranh thủ được một nguồn lực rất lớn cho việc gia tăng quy mô vốn của mình
trong điều kiện cần thiết hiện nay.
Sáp nhập các ngân hàng, hoặc mua lại các ngân hàng nhỏ để hình thành nên một
ngân hàng có tiềm lực tài chính lớn hơn, hình thành nên một tập đoàn tài chính đa năng
cũng là một giải pháp rất hiệu quả cho các NHTMCP hiện nay.
II. Thực trạng:
1. Nhìn lại quá trình tăng VĐL giai đoạn trc 31/12/2008
1.1. Tình hình chung:
Trong năm 2006 cho đến những tháng đầu năm 2007 đã xuất hiện sự kiện các
ngân hàng đua nhau tăng vốn điều lệ, cụ thể:
Trong năm 2006:
_ Ngân hàng Nhà Hà Nội (Habubank) nâng vốn điều lệ từ 300 tỷ đồng lên 1.000
tỷ đồng,
_ Ngân hàng An Bình nâng vốn từ 200 tỷ đồng lên 1.000 tỷ đồng,
_ Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank) nâng vốn điều lệ từ 618 tỷ đồng lên
1.500 tỷ đồng
Trong năm 2007:
_ Ngân hàng thương mại cổ phần quân đội (MB) tăng vốn điều lệ lên mức 1.500
tỷ đồng,
_ EAB tăng vốn điều lệ từ 880 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng,
_ Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
(VPBank) tăng vốn điều lệ từ 750 tỷ đồng lên 1.500 tỷ đồng,
_ Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông (OCB) tăng vốn điều lệ lên
1.200 tỷ đồng,
_ Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á (SeABank) tăng vốn điều lệ lên
1.000 tỷ đồng…
Trong năm 2008:
STT Ngân hàng

1.000
8
Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương
(OceanBank)
2.000
9
Ngân hàng thương mại cổ phần Gia Định
(GiaDinhBank)
1.000
10
Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt
Nam (Maritime Bank)
3.000
11
Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long
(KienLong Bank)
2.000
12
Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt
Nam (Techcom Bank)
3.642
13
Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt
(NaviBank)
1.000
14
Ngân hàng thương mại cổ phần Tiền Phong
(Tienphong Bank)
1.250
15

3.482, 51296
23
Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á
(NASBank)
2.120, 85753
24
Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín
(TrustBank)
2.000
25
Ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất
(FICOMBANK)
1.000
26
Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á
(DongABank)
3.400
27 Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á 5.068, 54545
6
(SEA Bank)
28
Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Tây
(Western Bank)
2.000
29
Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển
Mekong (MX Bank)
1.000
30
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương

38
Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Á
(VietA Bank)
1.631,80183
39
Ngân hàng thương mại cổ phần Xăng Dầu
Petrolimex
1.000
40
Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Tín
Nghĩa (TinNghiaBank)
3.399, 006
Nguồn: Hiệp Hội Ngân hàng Việt Nam
Từ giữa tháng 2/2008, do diễn biến tình hình kinh tế vĩ mô, hoạt động ngân hàng
có nhiều khó khăn hơn trước đây. Lạm phát tăng cao, thanh khoản của nhiều Ngân hàng
thương mại bị ảnh hưởng, lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tăng gấp khoảng 2 lần so
với trước đó, giá cổ phiếu giảm mạnh, thị trường chứng khoán điều chỉnh sâu và kéo dài.
Song nhìn cụ thể vào tình hình vốn của các NHTMCP có thể thấy, nhiều ngân
hàng do lịch sử phát triển, có thương hiệu, năng lực quản trị điều hành khá, chiến lược
kinh doanh rõ ràng và phù hợp, tận dụng các điều kiện thuận lợi của các năm trước nên
nhiều NHTMCP đã đạt mức vốn gấp 3 – 5 lần số vốn quy định cho năm 2008 và công bố
kế hoạch sẽ đạt mức vốn cũng gấp 3-4 lần quy định cho năm 2010.
_ NHTMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã tăng vốn điều lệ từ 2.524
tỷ đồng lên 3.165 tỷ đồng. Đây là đợt tăng vốn lần thứ 2 của Techcombank trong năm
2008. Việc tăng vốn đợt 2 này là kết quả của việc phát hành thêm 5% cổ phần bán cho cổ
đông chiến lược Tập đoàn ngân hàng HSBC, tương đương 20.895.550 cổ phần, đã nâng
tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần của đối tác này lên 20%. Tính đến hết tháng 8/2008,
Techcombank đạt tổng tài sản hơn 53.000 tỷ đồng.
_ Trước đó, NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) cũng đã hoàn thành
đợt tăng vốn điều lệ từ 4.449 tỷ đồng lên 5.116 tỷ đồng, bằng việc chia cổ tức năm 2007

Ngân hàng Nhà nước đã cảnh báo và bắt đầu siết chặt việc tăng vốn điều lệ của hàng loạt
các NHTMCP.
_ Ngày 6.4.2007, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số
3103/NHNN-CNH hướng dẫn việc tăng vốn điều lệ của tổ chức tín dụng trong năm 2007.
Theo đó các ngân hàng muốn tăng vốn phải trình phương án cụ thể, nêu rõ nhu cầu sử
dụng vốn; nhu cầu mở rộng cho vay; nhu cầu mở rộng phạm vi kinh doanh sang các lĩnh
vực khác (như chứng khoán, cho thuê tài chính ); nhu cầu mở rộng địa bàn; hiệu quả
kinh doanh trên cơ sở vốn điều lệ mới… Các ngân hàng phải công khai thông tin về lộ
trình tăng vốn như tổng mức vốn dự định tăng thêm, các đợt dự kiến phát hành, phương
án phát hành từng đợt, những đối tượng được mua, giá bán cho từng loại đối tượng, thời
điểm bán, nghĩa vụ - quyền lợi đi kèm… Đồng thời với việc tăng vốn, các ngân hàng phải
chứng minh được có đủ trình độ năng lực và nhân sự cần thiết để quản trị, điều hành,
kiểm soát quy mô hoạt động tăng lên.
8
_ Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản số 7910/NHNN-CNH yêu cầu ngân hàng
thương mại cổ phần có vốn điều lệ dưới 1.000 tỷ đồng báo cáo kế hoạch tăng vốn điều lệ
năm 2008 trước ngày 10/9/2008.
Theo văn bản trên, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố chỉ
đạo ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn có vốn điều lệ dưới 1.000 tỷ đồng báo
cáo kế hoạch tăng vốn điều lệ năm 2008, biện pháp triển khai và tiến độ thực hiện theo lộ
trình quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP; những khó khăn, vướng mắc trong quá
trình thực hiện (nếu có) của các ngân hàng này.
Dựa trên cơ sở kết quả làm việc với ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng
Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố tổng hợp và có ý kiến đánh giá về khả năng và đề
xuất biện pháp chỉ đạo thực hiện việc tăng vốn điều lệ theo quy định tại Nghị định số
141/2006/NĐ-CP báo cáo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trước ngày 10/9/2008.
Dễ thấy rằng, quan điểm của Ngân hàng Nhà nước cho rằng tăng vốn điều lệ là
cần thiết, nhưng sẽ là “lợi bất cập hại”, mà hại có thể nhiều hơn lợi nếu tốc độ tăng quá
nhanh. Mặc dù quyết định này vẫn còn nhiều bàn cãi, nhưng trước mắt có thể được xem
là cần thiết để đảm bảo được sự an toàn cũng như chất lượng hoạt động của hệ thống

8 Ngân hàng Đại Tín
(TrustBank)
2000 1,000
9 Ngân hàng TMCP Sài Gòn-Hà
Nội
2000 1,000
10 Ngân hàng Tiên Phong
(TiênPhongBank)
1750 1,250
11 Ngân hàng Việt Á
(VietABank)
1632 1,368
12 Ngân hàng Phát triển nhà
Tp.HCM (HDBank)
1550 1,450
13 Ngân hàng Sài Gòn Công
thương (Saigon Bank)
1500 1,500
14 Ngân hàng Bảo Việt
(BaoVietBank)
1500 1,500
15 Ngân hàng Đại Á (DaiABank) 1000 2,000
16 Ngân hàng Nam Việt
(Navibank)
1000 2,000
17 Ngân hàng Phát triển Mê
Kông (MDB)
1000 2,000
18 Ngân hàng Phương Tây
(Western Bank)

Việc các ngân hàng đến thời điểm này phải có hồ sơ, vì văn bản 3417/NHNN-
TTGSNH đã nói rõ sau thời điểm 30.6.2010, trường hợp tổ chức tín dụng không trình
Ngân hàng Nhà nước chấp thuận việc tăng vốn điều lệ, Ngân hàng Nhà nước tạm thời
không xem xét đề nghị mở rộng mạng lưới (Công ty trực thuộc, sở giao dịch, chi nhánh,
phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, ATM, điểm giao dịch) hoặc bổ sung nội dung hoạt động
của tổ chức tín dụng.
Đặc biệt, đối với các tổ chức tín dụng không trình Ngân hàng Nhà nước chấp
thuận tăng vốn điều lệ hoặc không được chấp thuận tăng vốn điều lệ để đảm bảo mức vốn
pháp định tại Nghị định 141, chậm nhất ngày 30.9.2010, tổ chức tín dụng phải có phương
án chấm dứt tư cách pháp nhân của mình theo luật định (bao gồm: Sáp nhập, hợp nhất,
mua lại, tự giải thể ) trình Ngân hàng Nhà nước - chi nhánh tỉnh, thành phố (đối với tổ
chức tín dụng cổ phần) hoặc cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng (đối với tổ chức tín
dụng không phải cổ phần). Vì vậy, không một Ngân hàng thương mại nào dám để chậm
trễ việc làm hồ sơ theo thời gian trên, cho dù phương án tăng vốn có thực sự khả thi hay
không.
2.2. Thực trạng
Thời gian chạy đua với Nghị định số 141/2006/NĐ-CP chỉ còn vỏn vẹn chưa đầy
4 tháng. Hiện có khoảng 22 trên tổng số 41 Ngân hàng Thương mại Cổ phần đang phải
gấp rút thực hiện kế hoạch tăng vốn để đáp ứng đủ mức vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng.
Nhìn chung, phương án tăng vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần chủ yếu
tập trung vào:
• Tận dụng sức mạnh của cổ đông hiện hữu
• Niêm yết trên thị trường chứng khoán để có thể thuận lợi hơn khi gọi vốn
• Bán cho tổ chức nước ngoài
• Ngoài ra, cũng có một số ít đơn vị có "tiền tích trữ" từ nguồn thặng dư vốn
cổ phần.
11
Khối Ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN): Năm 2010 - năm cuối
cùng cho lộ trình tăng vốn điều lệ của toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam, nhưng đối
với các NHTMNN là năm coi như ngồi chơi xơi nước bởi mức vốn pháp định theo qui

• Dự kiến việc tăng vốn đợt II: chào bán 100 triệu cổ phần cho cổ đông
hiện hữu để tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng vào tháng 11.
• Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank)
• Tăng vốn điều lệ từ 2.117 tỷ đồng lên 4.000 tỷ đồng trong năm
2010
• Đợt I: từ 2.117 tỷ đồng lên 2.456 tỷ đồng bằng cách phát hành cổ
phiếu để trả cổ tức và phát hành cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 16,01%
trên tổng số cổ phần sở hữu của cổ đông.
• Phần còn lại sẽ tăng trong đợt 2.
12
Một số Ngân hàng “khôn ngoan” đã nhanh chân phát hành trái phiếu chuyển đổi, điển
hình:
• Ngân hàng TMCP Sài Gòn-Hà Nội (SHB): tháng 3/2010, SHB chào bán thành
công 15 triệu trái phiếu chuyển đổi với giá trị 1.500 tỷ đồng. Cùng với giá trị
1.500 tỷ đồng chào bán cổ phiếu lần này, cuối 2010, vốn điều lệ của SHB là 3.500
tỷ đồng và đến cuối quý 1/2011, ngân hàng này “bỏ túi” thêm 1.500 tỷ đồng, nâng
vốn điều lệ lên 5.000 tỷ đồng.
Niêm yết trên thị trường chứng khoán cũng là một giải pháp để nâng cao vốn điều lệ của
các Ngân hàng nhỏ. Kế hoạch dự kiến niêm yết của một Ngân hàng trong năm 2010 như
sau:
• Navibank
• Ngày 3/6/2010, Navibank đã nộp hồ sơ niêm yết cổ phiếu của NH
lên HNX
• Vốn điều lệ thực góp tại thời điểm này là 1,000 tỷ đồng
• Kế hoạch đến tháng 11 tăng vốn lên 2,000 tỷ đồng
• Sau đó, phát hành thêm cổ phiếu để nâng vốn điều lệ lên 3,000 -
3,500 tỷ đồng
• Lý do để NH thực hiện tăng vốn theo từng giai đoạn là do cổ đông
lớn của NH là Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), hiện nắm
giữ 11% cổ phần đã quyết định không góp thêm vốn đầu tư vào

được mệnh danh là cổ phiếu vua. Thời điểm từ tháng 5/2006 – 6/2007 thị trường chứng
khoán Việt Nam khởi sắc mạnh mẽ (VNINDEX : 700-1170 điểm), là thời điểm “thiên
thời – địa lợi – nhân hòa” cho ngân hàng nào biết nắm bắt cơ hội, ngân hàng đó sẽ rút
ngắn được lộ trình tăng vốn. Và thực tế, đã có một số ngân hàng nắm bắt được cơ hội
vàng son đó.
Trong bối cảnh đó việc tăng vốn điều lệ của các Ngân hàng thương mại ngỡ là rất
dễ dàng. Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 bùng nổ Hệ thống tài chính - ngân hàng
phải gánh chịu những tổn thất nặng nề nhất, khó có thể phục hồi trong thời gian ngắn, tác
động tiêu cực đến tình hình kinh tế trong nước. Thị trường chứng khoán Việt Nam nói
riêng và thế giới nói chung lao dốc theo.
Theo nhận định của các chuyên gia, năm 2010 là năm tích tụ tất cả những khó
khăn mà cuộc hủng hoảng tài chính gây ra, nhưng cũng là năm buộc tất cả các Ngân hàng
thương mại Việt Nam phải tăng đủ vốn pháp định theo quy định. Từ nay đến 31/12/2010
chỉ còn 3 tháng, các ngân hàng phải vừa tăng vốn, vừa đảm bảo các chỉ tiêu tài chính theo
quy định, trong khi thị trường chứng khoán chưa có dấu hiệu ủng hộ cho các ngân hàng
thương mại. Thêm vào đó, bước sang quý 2/2010 khủng hoảng nợ công một số nước
Châu Âu và nguy cơ lan sang Châu Á đã khiến tương lai của thị trường chứng khoán Việt
Nam đang trở nên bất ổn, khó lường, thanh khoản thị trường kém, giá cổ phiếu ngân hàng
càng thê thảm hơn. Đặc biệt là nền kinh tế đang có dấu hiệu tái lạm phát cao trở lại, do đó
nhiều chính sách từ kích cầu (chính sách nới lỏng tiền tệ) có thể chuyển sang thắt chặt
trong thời gian tới, gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại vì tính thanh khoản của
thị trường chứng khoán bị tác động mạnh. Bài toán tăng vốn của các ngân hàng bằng
cách phát hành trái phiếu chuyển đổi hay cổ phiếu nay càng trở nên nan giải khi khả năng
thanh khoản của thị trường bị giảm sút.
Khó khăn cho các ngân hàng nhỏ chọn giải pháp “lên sàn”.
Gần đây, Ngân hàng Nà nước đã cho phép một số ngân hàng có vốn điều lệ 1000
tỷ đồng được niêm yết trên sàn chứng khoán để tăng cơ hội huy động đủ vốn điều lệ.
Niêm yết là giải pháp kỹ thuật để cổ phiếu ngân hàng tăng tính thanh khoản. Hy vọng thị
trường chứng khoán ấm lên, cơ hội tăng vốn của các Ngân hàng thương mại sẽ thuận lợi
hơn. Nhưng năm nay quá nhiều doanh nghiệp có ý định lên sàn, chưa kể nhiều ngân hàng

NHTMCP yếu thế cũng đang khép lại do các tập đoàn, các tổng công ty nhà nước gần
như không được phép đầu tư vào các ngành nhạy cảm như ngân hàng, chứng khoán. Vì
thế, để hoàn thành việc tăng vốn, nhất thiết các ngân hàng nên tính đến việc tìm cổ đông
ngoại, bởi nếu chỉ trông chờ vào cổ đông trong nước, khả năng rất khó đạt mục tiêu. Tuy
nhiên, việc tìm kiếm các cổ đông chiến lược nước ngoài không dễ dàng trong bối cảnh
kinh tế toàn cầu hiện nay. Các ngân hàng nước ngoài hiện nay phải tập trung lo đối phó
với các rủi ro lớn do khủng hoảng tài chính gây ra, tất nhiên chưa tính đến việc mở rộng
đầu tư. Đó là chưa kể đến niềm tin của các cổ đông chiến lược nước ngoài đối với một số
NHTM cổ phần Việt Nam chưa tốt.
• Đại hội cổ đông của Ngân hàng Phương Đông (OCB) thông báo sẽ tăng
vốn thông qua việc phát hành từ thặng dư vốn, phát hành mới cho cổ đông
hiện hữu, bán thêm cho đối tác chiến lược nước ngoài và bán chọn lọc cho
đối tác trong nước. Tuy nhiên, theo ông Hồ Hữu Hạnh, Giám đốc Ngân
hàng Nhà nước chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, OCB nên cân nhắc kế
hoạch tăng vốn lên 20% cho đối tác nước ngoài là PNB Paripas, vì đến
thời điểm này Chính phủ chỉ cho phép ngân hàng nước ngoài sở hữu vốn
của một ngân hàng trong nước không quá 15%.
15
Đau đầu với bài toán tỷ suất sinh lời. Trong bối cảnh các ngân hàng lớn như
ACB, Sacombank, Techcombank… có kế hoạch tăng năng lực tài chính, việc thực hiện
mục tiêu 3.000 tỷ đồng của các ngân hàng nhỏ càng khó khăn. So với chỉ tiêu lợi nhuận
xây dựng cũng như mức thực hiện được của năm trước, kế hoạch lợi nhuận được các
ngân hàng nhỏ đưa ra cho năm nay gia tăng đáng kể. Tuy nhiên, xét về tốc độ tăng trưởng
vốn điều lệ, tỷ suất sinh lời trên vốn 3.000 tỷ đồng vẫn khiêm tốn.
• OceanBank đưa ra chỉ tiêu 420 tỷ đồng so với năm 2009 là 300 tỷ đồng.
• HDBank dự kiến thu về 300 tỷ lợi nhuận trước thuế năm 2010 so với năm
trước 255 tỷ đồng
• GiaDinhBank đưa ra mức lợi nhuận 200 tỷ đồng so với 72 tỷ đồng năm
trước.
• NamABank có kế hoạch tăng đến 294,37% so với năm trước nhưng cũng

đoạn đầu tư nên hiệu quả góp vốn chưa cao. Vì vậy, hoạt động đầu tư tài chính trước mắt
chưa đóng góp lợi nhuận lớn cho ngân hàng.
III . Những ý kiến xung quanh vấn đề tăng vốn điều lệ:
1. Người trong cuộc nói gì?
Cuộc chạy nước rút tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng vào cuối năm nay khiến
không ít ngân hàng ướt mồ hôi. Các NHTM nhận định như thế nào về vấn đề này?
1.1 Ngân hàng đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc tăng vốn:
Có nhà băng cho rằng, yêu cầu tăng vốn điều lệ thật ra đã có sự chuẩn bị từ rất lâu
nên hoàn toàn nằm trong khả năng điều hành của ngân hàng. Ông Nguyễn Duy Hưng,
Tổng giám đốc Ngân hàng VietBank cho biết, lộ trình tăng vốn của ngân hàng trên thực
tế đã được chuẩn bị ngay từ khi có nghị định 141 của Chính phủ ban hành. Đại hội đồng
cổ đông tháng 4/2010 chính thức thông qua kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 1.000 tỷ lên
3.000 tỷ trong quý IV năm 2010. Ông Hưng nói "Việc tăng vốn này hoàn toàn không đột
ngột hay quá khó khăn vì ngân hàng đã chuẩn bị kỹ từ trước đó"
1.2 Khó khăn trong vấn đề tăng vốn:
Tuy nhiên, không phải tất cả NHTM đều sẵn sàng cho vấn đề tăng vốn. Phó giám
đốc một ngân hàng cổ phần thuộc loại trung bình có trụ sở tại Hà Nội nói, đây là một lộ
trình tăng vốn chưa bao giờ có từ trước đến nay, tăng đột biến cả về số tương đối lẫn
tuyệt đối. Trong tình hình hiện nay, nếu không thật sự cố gắng, nhiều ngân hàng sẽ không
theo kịp mức tăng vốn này, vì để đảm bảo mức sinh lời hợp lý thì ngân hàng phải tăng
trưởng lợi nhuận đồng thời mở rộng quy mô hoạt động tương ứng với tốc độ tăng vốn
điều lệ.
Ông Hoàng Văn Toàn, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Đại Tín (TrustBank), cho rằng
tăng vốn trong bối cảnh hiện nay không đơn giản, ngân hàng phải tích cực vận động cổ
đông lớn đồng cảm, chia sẻ khó khăn. Để tạo niềm tin cho cổ đông, ngân hàng đang nỗ
lực niêm yết cổ phiếu trong năm nay. Ông nói: “Hiện nay dù TrustBank đã chọn được cổ
đông chiến lược nước ngoài nhưng chưa đồng ý cho họ tham gia góp vốn vì thị giá của cổ
phiếu ngân hàng hiện không cao. Không thể bán giá thấp gây thất vọng cho cổ đông hiện
hữu”
1.3 Liệu tăng vốn sẽ đảm bảo an toàn?

động và có thể phát sinh nhiều tiêu cực khi các ngân hàng chưa đạt chuẩn tìm cách tăng
nhanh vốn huy động của mình. Thêm vào đó, với mức vốn huy động như hiện nay, các
ngân hàng còn sử dụng chưa hết, tăng nữa thì biết để làm gì, và lấy lãi đâu ra để trả cổ tức
cho cổ đông. “Nếu vốn huy động tăng cao mà ngân hàng không biết đầu tư vào đâu, sinh
ra làm bậy thì càng gây nguy hiểm cho hệ thống”,
1.5 Nỗi lo kinh doanh khi quy mô vốn tăng so với trước:
Thừa nhận sẽ có thách thức sau khi tăng lên đủ mức vốn 3.000 tỷ đồng, ông Đào
Trọng Khanh, Tổng giám đốc Ngân hàng Tiên Phong cho rằng, việc tăng vốn quá nhanh
sẽ sinh ra nhiều thách thức. Thứ nhất là năng lực quản trị theo quy mô lớn và thứ hai là
áp lực lợi nhuận trên đồng vốn. "Chắc chắn lợi nhuận trong những năm đầu sẽ ở mức
thấp và chỉ có thể nâng dần trong những năm sau đó chứ không thể tăng song hành như
tốc độ tăng vốn điều lệ”
2. Ý kiến của người lập chính sách
Việc tăng vốn pháp định là do các nguyên nhân sau:
Thứ nhất: Hiện nay có hai kiểu hệ thống ngân hàng trên thế giới.
18
 Thị trường nằm trong tay một số ngân hàng lớn như Singapore và Malaysia.
Hệ thống này tạo ra sự ổn định rất cao cho thị trường nhưng cũng xuất hiện
nhiều dấu hiệu của sự độc quyền và kìm hãm sự cạnh tranh tự do.
 Trong khi đó, ở một số thị trường như Hồng Kông thì có rất nhiều ngân hàng
nhỏ hoạt động, kiểu thị trường này giúp tạo ra sự cạnh tranh tự do, nhưng khả
năng ổn định tiền tệ quốc gia sẽ khó khăn hơn.
Do vậy, lựa chọn mô hình nào sẽ là quyết định của người làm chính sách. Như
vậy, ý định của những người làm chính sách đã rõ khi đưa ra định hướng về mức vốn
điều lệ tối thiểu đối với các ngân hàng.
Vậy ý định của NHNN là muốn giới hạn số lượng ngân hàng toàn quốc trong thời
gian tới, nên tôi nghĩ hạn chế hoạt động của các ngân hàng chưa đáp ứng quy định về vốn
cũng là một biện pháp nên xem xét trước khi bắt các ngân hàng hợp nhất, sáp nhập.
Thứ hai: Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế
VN từng bước mở cửa dịch vụ ngân hàng, nhằm hướng đến xây dựng hệ thống ngân hàng

hàng Nhà nước sẽ bắt buộc cổ đông ngân hàng phải chứng minh nguồn gốc vốn góp,
thay vì chỉ chung chung “không vi phạm pháp luật” như lâu nay. Những cổ đông có tỷ lệ
vốn góp nhiều hơn mức luật cho phép thì phải rút bớt hoặc sang nhượng lại.
Như vậy, mức vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng, sự minh bạch và giảm tỷ lệ đối với
nguồn vốn góp được coi là cơ hội tốt để nhà nước sàng lọc, loại bỏ những cơ thể ốm yếu
trong hệ thống ngân hàng.
Ngoài ra, việc gia tăng vốn pháp định, an ninh tài chính là vấn đề quan trọng,
sống còn trong hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường; bao trùm lên tất cả các
hoạt động của ngân hàng và là tiêu chí cuối cùng đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân
hàng trong mối tương tác với hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
Sự cần thiết bảo đảm an ninh tài chính ngân hàng nằm ngay trong yếu tố kinh tế xuất phát
từ bản thân hoạt động ngân hàng và mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động ngân hàng
và hoạt động kinh tế xã hội.
Trên phạm vi toàn cầu, quan điểm về an ninh hoạt động của các tổ chức tín dụng
nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng bao trùm nội dung cơ bản sau:
 An ninh trong nguồn vốn.
 An ninh trong sử dụng vốn.
 An ninh trong sinh lời.
IV. Vấn để sáp nhập, giải thể:
1. Việc sáp nhập tổ chức tín dụng được quy định ở thông tư 04/2010/TT-NHNN
1.1 Đối tượng điều chỉnh: (điều 1)
 Ngân hàng thương mại;
20
 Công ty tài chính;
 Công ty cho thuê tài chính;
 Tổ chức tín dụng hợp tác.
 Tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc sáp nhập tổ chức tín dụng.
1.2 Khái niệm về hợp nhất, sáp nhập, mua lại: (điều 2)
Sáp nhập tổ chức tín dụng là hình thức một hoặc một số tổ chức tín dụng (gọi là tổ chức
tín dụng bị sáp nhập) sáp nhập vào một tổ chức tín dụng khác (gọi là tổ chức tín dụng nhận sáp

quyết thông qua các quyết định do các tổ chức tín dụng bị hợp nhất thỏa thuận, nêu
cụ thể tại Đề án hợp nhất và phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
1.5 Các hình thức sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng ( Điều 6 )
Các hình thức sáp nhập:
a) Ngân hàng, công ty tài chính, tổ chức tín dụng hợp tác sáp nhập vào một
ngân hàng.
b) Công ty tài chính sáp nhập vào một công ty tài chính.
c) Công ty cho thuê tài chính sáp nhập vào một công ty cho thuê tài chính.
Điều kiện để được sáp nhập ( Điều 9 )
Không thuộc trường hợp tập trung kinh tế bị cấm theo quy định tại Luật Cạnh tranh;
Có Đề án sáp nhập bao gồm tối thiểu các nội dung quy định tại Điều 12 Thông tư này. Đề
án sáp nhập có nội dung không được trái với Hợp đồng sáp nhập;
Tổ chức tín dụng nhận sáp nhập sau khi sáp nhập đảm bảo mức vốn điều lệ tối thiểu bằng
mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật hiện hành.
1.6 Điều kiện để được hợp nhất ( Điều 13 )
Không thuộc trường hợp tập trung kinh tế bị cấm theo quy định của Luật Cạnh tranh.
Có Đề án hợp nhất bao gồm tối thiểu các nội dung quy định tại Điều 16 Thông tư này. Đề
án hợp nhất có nội dung không được trái với Hợp đồng hợp nhất.
Tổ chức tín dụng hợp nhất phải đảm bảo mức vốn điều lệ tối thiểu bằng mức vốn pháp
định theo quy định của pháp luật hiện hành.
2. Những vấn đề xoay quay việc sát nhập của NHTM
Theo quyết định của ngân hàng nhà nước thì đối với các tổ chức tín dụng không
trình ngân hàng nhà nước chấp thuận tăng vốn điều lệ hoặc không được ngân hàng nhà
nước chấp thuận tăng vốn điều lệ để đảm bảo mức vốn pháp định tại Nghị định 141 thì
chậm nhất ngày 30/9/2010, tổ chức tín dụng phải có phương án chấm dứt tư cách pháp
nhân của tổ chức tín dụng theo luật định (bao gồm: sáp nhập, hợp nhất, mua lại, tự giải
thể…) trình ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố (đối với tổ chức tín dụng cổ
phần) hoặc Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng (đối với tổ chức tín dụng không phải
tổ chức tín dụng cổ phần). Và trước quyết định này của ngân hàng nhà nước thì có rất
nhiều ý kiến về làn sóng sát nhập của các ngân hàng thương mại trong năm 2010. Nổi bật

nhà nước lập luận rằng với số ngân hàng ít đi họ sẽ giám sát chặt chẽ hơn
và bản thân các ngân hàng sẽ cẩn thận hơn, điều hành tốt hơn là những
ngân hàng nhỏ manh mún hiện nay. Trước hết cần xác định, ngân hàng
23
càng lớn thì hoạt động và sản phẩm càng phức tạp, ngân hàng nhà nước sẽ
càng khó giám sát và kiểm tra để phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro. Ngoài vấn
đề quá lớn để thất bại, nhiều nhà kinh tế như Krugman, Johnson đã cảnh
báo hiện tượng “quá lớn để quản lý”. Nghĩa là ngân hàng lớn sẽ có nhiều
cách để “lách luật”, hoặc tệ hơn nữa là tìm cách ảnh hưởng tới quá trình
làm luật/chính sách để có lợi cho mình.
Lập luận cho rằng các ngân hàng nhỏ hiện nay thiếu chuyên môn và hoạt động
quá liều lĩnh là có một phần chính xác. Tuy nhiên giải pháp sáp nhập các ngân hàng nhỏ
và/hoặc buộc tăng vốn điều lệ không giải quyết được nguyên nhân căn bản. Chuyên môn
và nghiệp vụ ngân hàng không phải là điều quá khó để các ngân hàng nhỏ không thể học
được (với sự giúp đỡ của ngân hàng nhà nước). Việc điều hành những ngân hàng nhỏ có
1 – 2 chi nhánh đơn giản hơn nhiều so với một ngân hàng lớn có chi nhánh toàn quốc và
cả ở nước ngoài. Việc tăng chuyên môn phụ thuộc vào sự đào tạo, giúp đỡ, giám sát của
ngân hàng nhà nước nhiều hơn là vào việc sáp nhập. Các ngân hàng nhỏ sau khi sáp nhập
với nhau không có nghĩa đội ngũ nhân viên và lãnh đạo tự nhiên có trình độ chuyên môn
tăng lên.
Nếu thực sự tạo điều kiện cho các ngân hàng nhỏ hoạt động, theo quy luật mèo
nhỏ bắt chuột nhỏ, thì sẽ không xảy ra tình trạng, nhỏ cản mũi lớn, làm rối thị trường.
Nếu ngân hàng nhỏ chỉ được hoạt động trong phạm vi một vài tỉnh, với vài chi nhánh, chỉ
huy động và cho vay các món nhỏ, đúng với năng lực và các giới hạn luật định, thì sao có
thể ảnh hưởng xấu đến thị trường?
Lo sợ các ngân hàng nhỏ làm loạn thị trường, nên sáp nhập nhằm giảm bớt ngân
hàng, thì liệu có mâu thuẫn khi dẫn tới khả năng một hoặc một nhóm ngân hàng lớn sẽ
thao túng thị trường tài chính, tiền tệ? Cho rằng sắp xếp lại, để càng ít ngân hàng, càng dễ
kiểm soát, liệu có tạo ra một nghịch lý khác là ngân hàng càng lớn, thì càng phức tạp và
lại càng khó kiểm soát?

nhất định, nhưng qua thời gian, một số ngân hàng đã khẳng định khá tốt vai trò phục vụ
các doanh nghiệp nhỏ, cá nhân, nông hộ và khách hàng như Kiên Long, Mỹ Xuyên ở
vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Các ngân hàng này này chịu sự hạn chế trong đa dạng
hóa về mặt địa lý, nên chỉ có thể giới hạn phạm vi hoạt động trong một tỉnh thành nhất
định. Trào lưu chuyển đổi từ ngân hàng nông thôn lên ngân hàng đô thị cùng Nghị định
141/2006/NĐ-CP đã mặc nhiên “xóa sổ” mô hình ngân hàng nông thôn. Nền kinh tế Việt
Nam nói chung và nói riêng là khu vực kinh tế nông thôn, kinh tế nông hộ, thậm chí cả
khu vực kinh tế phi chính thức vẫn luôn cần đến dịch vụ cho vay vừa và nhỏ. Vì vậy sự
tồn tại các ngân hàng nhỏ là một sự tồn tại khách quan đối với nền kinh tế.
25

Trích đoạn Giải pháp nâng cao hiệu quả sát nhập và mua lại ở các ngân hàng thương mại 1 Hoàn thiện khung pháp lý về sáp nhập
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status