Nguyễn Văn Song- Tạp chí Kinh tế & Phát triển Số 170 (II) tháng 8/2011 từ trang 37-41
1
Ảnh hưởng của năng suất lao động bình quân, tỉ lệ lao động trong dân số
và trình độ giáo dục của nữ giới tới tốc độ tăng trưởng GDP, GNP
PGS.TS. Nguyễn Văn Song - Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
TÓM TẮT
Bên cạnh các nguyên nhân chính làm tăng GDP, GNP của một quốc gia, các yếu tố
khác như năng suất lao động bình quân, tỉ lệ lao động so với dân số, trình độ giáo dục
của nữ giới được cải thiện sẽ có tác động không nhỏ tới tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Bài viết này phân tích tốc độ tăng GDP và GNP bị ảnh hưởng của các yếu tố năng
suất lao động bình quân, tỉ lệ lao động trên dân số, trình độ văn hóa của lao động nữ
được cải thiện và tỉ lệ lao động nữ ở Việt Nam trong những năm gần đây.
Từ khóa: NS lao động BQ, tỉ lệ lao động trên dân số, trình độ giáo dục của lao động
nữ.
Besides the main causes that increase a country's GDP, GNP, other factors such as
labor productivity by an average labor rate compared to the population, the improved
education leve of women will have an impact on economic growth. This article
analyzes the growth of GDP and GNP affected average labour productivity factors,
the ratio of labour on the population, the education level of female workers was
improved and the ratio of female workers in Vietnam in recent years.
Keywords: average labor productivity, labour rate on the population, the education level of
female laborers.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là 1 trong 12 nước có GDP tăng trưởng dương của thế giới và là nước tăng
trưởng cao nhất trong khu vực Đông Nam Á. Theo số liệu của Tổ chức Kinh tế và hợp
tác phát triển (OECD) năm 2010 Việt Nam vẫn là nước đi đầu trong khu vực về tốc
độ tăng GDP thực tế năm 2010 và đặc biệt bình quân 5 năm 2003-2007 (xem bảng 1).
Giả sử gọi: GDP là thu nhập quốc nội
POP là tổng dân số
L là lao động của một quốc gia
Như vậy ta có lượng GDP bình quân đầu người là:
Thu nhập bình quân đầu người =
POP
GDP
(1)
Nếu ta chia cả tử và mẫu công thức 1 cho L (số lượng lao động của một quốc gia)
kết quả thu nhập quốc nội bình quân đầu người sẽ không thay đổi và ta có:
POP
GDP
=
POP
L
L
GDP
*
(2)
Vế phải của phương trình 2 được chia làm 2 phần: phần 1 (GDP/L) là chỉ tiêu
phản ánh thu nhập quốc nội bình quân trên lao động, hay còn có thể gọi là năng
suất bình quân lao động của một quốc gia. Phần 2 (L/POP) là tỉ lệ số người tham
gia lao động trên tổng dân số của một quốc gia.
Như vậy, mức thu nhập thực sự GDP bình quân đầu người (GDP/POP) có thể cho
ta những thong tin rất cơ bản về lượng hàng hóa, dịch vụ mà mỗi người dân có thể
tiêu dung (GDP/POP) phụ thuộc vào: thứ nhất, năng suất trung bình mà mỗi công
nhân có thể sản xuất và thứ hai, tỉ lệ số người tham gia lao động trên tổng dân số.
Cũng từ phương trình đơn giản trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng GDP
bình quân đầu người có thể tăng lên nếu chúng ta đơn giản tăng tỉ lệ số người
đại học mới chiếm có 1,7% lực lượng lao động, chưa nói tới chất lượng đào tạo
còn yếu và kém. Điều này làm ảnh hưởng lớn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam trong ngắn hạn cũng như dài hạn.
b) Vốn vật lý và kỹ thuật công nghệ (physical capital & technology)
Năng suất lao động bình quân của một quốc gia không chỉ ảnh hưởng của từ vốn
con người mà còn ảnh hưởng trực tiếp bởi “vốn vật lý”, tức là các công cụ, máy
móc mà người lao động được trang bị và điều hành. Ví dụ, một bác sĩ rất giỏi và
lành nghề cũng khó có thể mổ tim nếu không có sự trợ giúp của các loại máy móc
hỗ trợ. Nhiều và các loại máy móc hiện đại đã cùng kết hợp với vốn con người tạo
nên các bước tăng năng suất nhảy vọt.
Với một quốc gia có khả năng áp dụng và phát triển các loại công nghệ mới có
năng suất và hiệu quả cao cho phép tạo ra và nâng cao năng suất lao động. Các
yếu tố này tạo ra lợi thế cạnh tranh do cho các sản phẩm và dịch vụ làm ra.
c) Đất đai và tài nguyên thiên nhiên (land & natural resources).
Bên cạnh vốn con người, vốn vật lý và kỹ thuật công nghệ, một trong những đầu
vào quan trọng cho phép tạo ra năng suất lao động cao hơn đó là nguồn tài nguyên
về thiên nhiên (natural resources) như: đất đai, năng lượng hóa thạch và các
nguyên liệu khác. Đất đai màu mỡ là điều kiện cần thiết cho sản xuất và phát triển
nông nghiệp. Các loại tài nguyên hóa thạch như dầu mỏ, than đá, khoáng sản khác
là điều kiện quan trọng tạo đầu vào rẻ hơn và năng suất lao động cao hơn.
d) Khả năng thành lập ngành mới và quản lý sản xuất (entrepreneurship and
management)
Năng suất lao động của công nhân không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố như trình
độ văn hóa, giáo dục, tay nghề, kỹ thuật công nghệ, nguồn tài nguyên thiên nhiên
mà còn phụ thuộc vào quyết định những người quản lý doanh nghiệp, những
người ra quyết định (decision making). Ví dụ: sản xuất cái gì, sản xuất như thế
nào; cụ thể hơn ví dụ trong nông nghiệp bón phân, phun thuốc phòng trừ sâu bệnh
lúc nào, quy trình chăm bón như thế nào, thu hoạch thời gian nào …
Tổng sản phẩm của một quốc gia còn phụ thuộc và sự sáng tạo và tạo lập những
ngành mới, những sản phẩm mới của một số cá nhân sáng tạo. Thành lập ngành
có trình độ văn hóa, giáo dục cao hơn này sẽ dùng thu nhập kiếm được do lao
động, sản xuất từ bên ngoài thị trường thuê lại những người phụ nữ khác có trình
độ văn hóa, giáo dục thấp hơn để đảm đương các công việc gia đình, nôi trợ của
mình trước kia. Như vậy, công việc nội trợ trước đây của những người phụ nữ lúc
này đã được trao đổi trên thị trường và được tính vào trong thu nhập quốc dân.
Bảng 3: Tổng số lao động và lao động nữ trong các doanh nghiệp của Việt Nam
Năm Tổng số lao động
(lao động)
Nữ
(lao động)
Chiếm (%)
2000 3.536.998 1.511.047
42.72
2003
5.175.092
Không có s
ố liệu
Không có s
ố liệu
2004
5.770.671
2.494.644
Nông thôn 35.951.740 18.584.100 17.367.640 73,10 48.30
Các vùng kinh tế - xã hội
Trung du và miền núi phía
Bắc
6.782.899 3.398.250 3.384.649 13,80 49,90
Đồng bằng sông Hồng 11.117.248 5.539.739 5.577.545 22,60 50,20
Bắc Trung Bộ và DH miền
Trung
10.548.048 5.400.880 5.147.168 21,40 48,80
Tây Nguyên 2.847.823 1.487.038 1.360.785 5,80 47,80
Đông Nam Bộ 7.872.392 4.222.094 3.650.298 16,00 46,40
Đồng bằng sông cửu Long 10.018.776 5.537.509 4.481.267 20,40 44,70
Nguồn: Trung tâm Thông tin, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2010)
Lao động nông thôn của Việt Nam hiện còn chiếm tới 73,10% (2009), trong đó nữ
chiếm tới 48.3%, nếu so sánh tỉ lệ nữ trong các doanh nghiệp (Bảng 3) chỉ có
44.02%. Lao động nữ trong khu vực nông thôn đặc biệt cao ở khu vực đồng bằng
sông Hồng và khu vực trung du miền núi phía Bắc. Các thông tin quan trọng này
có thể cho chúng ta thấy rằng thu hút lao động nữ từ nông thôn, nông thôn khu
vực đồng bằng sông Hồng và khu vực Trung du miền núi phía Bắc là một hướng
quan trọng nhằm tăng GDP nhanh hơn cho quốc gia.
3. KẾT LUẬN
Tăng trưởng kinh tế của một quốc gia được thể hiện qua chỉ tiêu GDP, GNP thực
tế. Có ba phương pháp cơ bản để đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế của một
quốc gia đó là tính theo dòng chi chi, dòng thu nhập và giá trị gia tăng. Bên cạnh
các nhân tố chính ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc
gia như: Đầu tư của chính phủ, của dân chúng, tiêu dùng, xuất khẩu, nhập khẩu;
Các yếu tố gián tiếp ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế của một quốc gia như lãi
suất, tỉ giá hối đoái, thuế, tiêu dùng cận biên, tiết kiệm cận biên. Các yếu nhân tố
khác ảnh hưởng gián tiếp tới tốc độ tăng trưởng kinh tế đó là năng suất bình quân
của một lao động, tỉ lệ lao động dân số, trình độ văn hóa của nữ giới tăng lên.
www.oecd.org/dataoecd/50/20/46338931.pdf (downloaded 26th August, 2011)
5.
Trung tâm Thông tin, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2010)