Báo cáo " Vấn đề hiệu lực của giao dịch thương mại của Ngân hàng thương mại " doc - Pdf 11



nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 6/2005 57

TS. NguyÔn V¨n TuyÕn *
rong thực tiễn pháp lí ở nước ta, việc
xác định một giao dịch pháp lí nói
chung và giao dịch thương mại của ngân
hàng thương mại nói riêng có hiệu lực hay
không luôn là vấn đề phức tạp và thường gây
nhiều tranh luận. Điều này có liên quan trực
tiếp đến lợi ích chung của xã hội cũng như
lợi ích riêng của các bên tham gia vào giao
dịch mà Nhà nước là người có sứ mệnh phải
bảo vệ. Vì lẽ đó, việc làm rõ vấn đề hiệu lực
của giao dịch pháp lí nói chung và giao dịch
thương mại của ngân hàng nói riêng, thiết
nghĩ cũng nên xem là việc làm hữu ích cả về
phương diện lí luận cũng như thực tiễn.
Bài viết này xin trao đổi một vài ý kiến
xung quanh vấn đề hiệu lực của giao dịch
thương mại của ngân hàng thương mại với tính
cách là loại hình giao dịch dân sự đặc thù phát
sinh trong đời sống pháp lí ở nước ta cũng như
ở nhiều nước khác trên thế giới.
1. Các điều kiện có hiệu lực của giao
dịch thương mại của ngân hàng thương mại

mại nhưng về lí thuyết có thể hiểu đó chính là
khả năng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của
ngân hàng thương mại thông qua người đại
diện hợp pháp của nó. Khả năng này (năng lực
hành vi dân sự của ngân hàng thương mại)
được xác định bởi hai yếu tố cơ bản sau:
- Tư cách pháp nhân của ngân hàng
thương mại.
Sở dĩ phải coi tư cách pháp nhân là yếu
T
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế
Trường Đại học Luật Hà Nội nghiªn cøu - trao ®æi
58 T¹p chÝ luËt häc sè 6/2005

tố đầu tiên hợp thành năng lực hành vi dân
sự của ngân hàng thương mại là bởi vì,
giống như bất kì pháp nhân nào, ngân hàng
thương mại chỉ có khả năng thực hiện được
các quyền, nghĩa vụ pháp lí của mình (nghĩa
là chỉ có năng lực hành vi) khi nó có đầy đủ
các điều kiện của một pháp nhân (được thành
lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có
tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài
sản đó; nhân danh mình trong các quan hệ
pháp luật). Nói như vậy có nghĩa, chỉ khi nào
ngân hàng thương mại được Nhà nước công
nhận là một pháp nhân thì khi đó nó mới

với chủ thể khác (nghĩa là không có năng lực
hành vi). Mặt khác, cũng có thể xem như
giao dịch thương mại của ngân hàng đã vi
phạm điều kiện này khi có bằng chứng
chứng minh rằng người xưng danh đại diện
của ngân hàng thương mại không có thẩm
quyền đại diện ngân hàng để xác lập và thực
hiện giao dịch với khách hàng.
Thứ hai, về điều kiện “mục đích và nội
dung của giao dịch không trái pháp luật và
đạo đức xã hội”. Đây là điều kiện được pháp
luật quy định nhằm bảo vệ quyền lợi công,
xét trong mối quan hệ tương hỗ với quyền
lợi tư của các bên giao dịch. Đối với các giao
dịch thương mại của ngân hàng thương mại,
mục đích và nội dung giao dịch không chỉ
phản ánh lợi ích của các bên mà còn bị chi
phối bởi chính các lợi ích đó. Mục đích của
giao dịch thương mại giữa ngân hàng và
khách hàng sẽ bị coi là trái pháp luật và đạo
đức xã hội khi giao dịch đó được các bên xác
lập nhằm vi phạm các quy tắc pháp lí đã
được Nhà nước xây dựng để bảo vệ quyền
lợi chung hoặc nhằm xâm hại các giá trị đạo
đức đã được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
Ví dụ, nếu ngân hàng và khách hàng giao kết
hợp đồng tài khoản tiền gửi là để giúp cho
khách hàng thực hiện hành vi “rửa tiền” đối
với nguồn thu nhập do phạm pháp mà có thì
giao dịch này được xem là có mục đích trái

nhân. Điều này thể hiện ở chỗ, ý chí của
pháp nhân ngân hàng thương mại thực chất
là ý chí tập thể của các thành viên pháp nhân
và ý chí này thường được thể hiện thông qua
các quyết định của tập thể thành viên pháp
nhân hoặc thể hiện thông qua hành vi của
những người đại diện hợp pháp cho pháp
nhân ngân hàng thương mại.
Có thể lưu ý đến hai tiêu chí cơ bản để
xác định mức độ tự nguyện của ngân hàng
thương mại khi xác lập giao dịch với khách
hàng, đó là:
- Mục đích và nội dung của giao dịch
phải phù hợp với mục đích và chức năng
hoạt động của ngân hàng thương mại như đã
được ghi trong điều lệ của ngân hàng.
Cơ sở khoa học của việc đưa ra tiêu chí
này là, xét về bản chất, ngân hàng thương
mại được thành lập ra chính là nhằm thực
hiện các mục đích và chức năng hoạt động
như đã được ghi trong điều lệ của ngân hàng.
Vì vậy, nếu những giao dịch do ngân hàng
đó xác lập có mục đích và nội dung phù hợp
với mục đích, tôn chỉ, chức năng hoạt động
của ngân hàng thì mặc nhiên có thể coi đây
là một trong những điều kiện cần có để
khẳng định giao dịch đó được xác lập theo ý
chí đích thực của ngân hàng.
- Hành vi xử sự của người đại diện cho
ngân hàng thương mại khi xác lập giao dịch phải

buc i vi ngõn hng thng mi.
Th t, v iu kin hỡnh thc ca giao
dch. Theo B lut dõn s hin hnh (1995),
hỡnh thc ca giao dch dõn s phi phự hp
vi quy nh ca phỏp lut thỡ giao dch mi
cú hiu lc. Trong khi ú, B lut dõn s nm
2005 li quy nh rng hỡnh thc giao dch
dõn s l iu kin cú hiu lc ca giao dch
trong trng hp phỏp lut cú quy nh. Rừ
rng, quy nh mi ny ca B lut dõn s
nm 2005 nhm hng ti mc tiờu ni lng
cỏc iu kin cú hiu lc ca giao dch dõn s
trong thi i kinh t th trng, nht l iu
kin v hỡnh thc ca giao dch.
(1)
i vi cỏc
giao dch dõn s mang tớnh c thự nh giao
dch thng mi ca ngõn hng thng mi,
vn hỡnh thc ca giao dch cú ý ngha
c bit quan trng, bi l loi giao dch ny
cn c phỏp lut quy nh cht ch v mt
hỡnh thc nhm ngn nga cỏc ri ro phỏp lớ
cho cỏc bờn trong quỏ trỡnh xỏc lp v thc
hin giao dch.
Xut phỏt t yờu cu ny ca thc tin
giao dch ngõn hng, phỏp lut ũi hi hu
ht cỏc giao dch loi ny phi c xỏc lp
di hỡnh thc vn bn. Theo tp quỏn giao
dch ngõn hng, khỏi nim vn bn giao
dch trong lnh vc hot ng ngõn hng

Trong khoa hc phỏp lớ, vic xỏc nh
trng thỏi vụ hiu (tuyt i hoc tng i)
ca cỏc giao dch phỏp lớ núi chung v giao
dch thng mi ca ngõn hng núi riờng
thng da vo nguyờn tc c bn l: Nu
giao dch c xỏc lp nhng vi phm
nhng quy tc phỏp lớ cú mc ớch bo v li
ớch cụng hay trt t cụng thỡ hu qu kộo
theo l giao dch ú ng nhiờn vụ hiu
ngay t khi xỏc lp (vụ hiu tuyt i) v bt
kỡ ai quan tõm n li ớch chung u cú th nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 6/2005 61

yêu cầu toà án tuyên bố vô hiệu. Ngược lại,
nếu giao dịch được xác lập nhưng chỉ vi
phạm các quy tắc pháp lí có mục đích bảo vệ
lợi ích tư hay quyền lợi tư của các bên tham
gia vào giao dịch thì hậu quả kéo theo là
giao dịch đó có thể bị coi là vô hiệu (vô hiệu
tương đối) và chỉ những người có quyền lợi
bị xâm hại (bao gồm các bên của giao dịch
hoặc người thứ ba không tham gia vào giao
dịch nhưng có quyền lợi liên quan) mới có
quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô
hiệu để bảo vệ quyền lợi của mình. Khi
người ta nói một giao dịch bị vô hiệu tương
đối hay tuyệt đối, điều đó không có nghĩa

trường, Nhà nước có những quy định khác
nhau về cơ chế giải quyết hậu quả vô hiệu
đối với các giao dịch thương mại của ngân
hàng thương mại. Sự khác nhau này khởi
phát từ nguyên tắc chung là cần tôn trọng
quyền tự định đoạt của các bên tham gia vào
giao dịch và Nhà nước chỉ xem xét để tuyên
bố giao dịch vô hiệu khi các bên có yêu cầu
hoặc khi giao dịch được xác lập nhưng vi
phạm các quy tắc pháp lí nhằm bảo vệ lợi
ích chung và trật tự công. Để việc giải quyết
hậu quả vô hiệu của giao dịch thương mại
của ngân hàng thương mại được khách quan,
chính xác và đảm bảo tính khoa học, có lẽ
cần xuất phát từ quan điểm phân biệt giữa
giao dịch vô hiệu tuyệt đối và giao dịch vô
hiệu tương đối làm tiền đề. Cụ thể là:
Thứ nhất, nếu giao dịch thương mại của
ngân hàng thương mại được xác lập nhưng
vi phạm các quy tắc pháp lí nhằm bảo vệ lợi
ích công (bao gồm: Giao dịch có nội dung và
mục đích trái pháp luật hay trái đạo đức xã
hội; giao dịch được xác lập nhằm che giấu
một giao dịch khác hoặc được xác lập không
nhằm mục đích tạo ra các quyền, nghĩa vụ
cho các bên…) thì về phương diện lí thuyết,
có thể coi là trường hợp vô hiệu tuyệt đối.
Để xử lí thoả đáng và hợp lí đối với trường
hợp này, chúng tôi bày tỏ sự đồng tình với
quan điểm khoa học của một số tác giả

ngân hàng thương mại được xác lập nhưng vi
phạm các quy tắc pháp lí nhằm bảo vệ lợi ích
riêng của các bên (bao gồm: Giao dịch được
xác lập do người không có năng lực pháp luật
và năng lực hành vi; giao dịch được xác lập
không có sự tự nguyện của người tham gia
giao dịch hoặc giao dịch không tuân thủ hình
thức do pháp luật quy định) thì về phương
diện lí thuyết, có thể xem là giao dịch vô hiệu
tương đối. Thiết nghĩ, giải pháp hợp lí cho
trường hợp này là Nhà nước phải tôn trọng
quyền tự định đoạt của các bên tham gia vào
giao dịch mà quán triệt các quan điểm xử lí
mang tính nguyên tắc như sau:
- Giao dịch thương mại của ngân hàng
thương mại bị vô hiệu tương đối là giao dịch
ở trong tình trạng bấp bênh về hiệu lực pháp
lí trong thời hạn yêu cầu toà án tuyên bố
giao dịch vô hiệu.
(4)
Điều này có nghĩa sự vô
hiệu của giao dịch là không chắc chắn và các
bên có hai khả năng lựa chọn: a) Tìm cách
khắc phục các nguyên nhân làm cho giao dịch
vô hiệu - gọi là hoàn thiện giao dịch (ví dụ,
sửa chữa các sai sót về thủ tục công chứng,
thủ tục uỷ quyền, phục hồi lợi ích cho bên đối
tác bị thiệt hại, thay đổi nội dung giao dịch
cho phù hợp với ý chí của cả hai bên…) để
làm cho giao dịch hoàn toàn có hiệu lực; hoặc
nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 6/2005 63

án tuyên bố giao dịch vô hiệu thì giao dịch sẽ
không thể bị huỷ bỏ sau đó nhưng không vì
thế mà giao dịch đương nhiên được coi là có
hiệu lực trở lại, trừ trường hợp các bên đã tiến
hành khôi phục lại những điều kiện cần và đủ
để cho nó có hiệu lực.
- Phán quyết của toà án tuyên bố giao
dịch vô hiệu là sự kiện pháp lí làm chấm dứt
hoàn toàn tình trạng bấp bênh về hiệu lực
pháp lí của giao dịch, theo đó giao dịch
chính thức bị huỷ bỏ và không làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ
thời điểm giao dịch được xác lập.
Thiết nghĩ, các quan điểm mang tính
nguyên tắc trên đây hoàn toàn có thể áp dụng
chung cho việc xử lí hậu quả vô hiệu của các
loại hình giao dịch pháp lí trong đời sống xã
hội hiện đại, trong đó có giao dịch thương
mại của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên,
thực tiễn xử lí hậu quả vô hiệu của các giao
dịch thương mại của ngân hàng thương mại
trong thời gian qua ở nước ta cho thấy khi áp
dụng các nguyên tắc này để xử lí giao dịch
thương mại của ngân hàng bị vô hiệu, cần
lưu ý tới một số nét đặc thù sau đây:

dịch thương mại ngân hàng vô hiệu, nên
chăng các cơ quan có thẩm quyền tuyên bố
giao dịch vô hiệu cần đặc biệt lưu ý nguyên
tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên
giao dịch để từ đó có giải pháp can thiệp hợp
lí vào việc xác định hiệu lực của các giao dịch
thương mại của ngân hàng. Các giải pháp này
có thể là: a) Nếu giao dịch thương mại của
ngân hàng được xác lập mà vi phạm các điều
kiện có hiệu lực như: Mục đích, nội dung của
giao dịch trái pháp luật và đạo đức xã hội
hoặc hình thức của giao dịch không phù hợp
pháp luật thì toà án có thể vì mục tiêu bảo vệ
lợi ích chung mà tuyên bố vô hiệu ngay đối
với giao dịch đó chứ không cần phải xác định
xem ý chí của các bên giao dịch có mong
muốn và yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô
hiệu hay không; b) Nếu giao dịch thương mại
của ngân hàng thương mại được xác lập mà nghiªn cøu - trao ®æi
64 T¹p chÝ luËt häc sè 6/2005

vi phạm các điều kiện có hiệu lực như chủ thể
giao dịch không có năng lực hành vi hoặc
người tham gia giao dịch không hoàn toàn tự
nguyện thì toà án chỉ có thể xem xét để tuyên
bố vô hiệu đối với giao dịch đó khi có yêu
cầu của bên giao dịch có quyền lợi bị xâm hại

không trả lãi tiền vay cho khoảng thời gian
sử dụng vốn của ngân hàng. Có lẽ, giải pháp
xử lí thích hợp cho tình huống này là: Khi có
bằng chứng chứng minh một bên tham gia
giao dịch có lỗi trong việc gây ra hậu quả vô
hiệu cho giao dịch thì toà án phải “truất
quyền” yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu
đối với chủ thể đó nhằm bảo vệ quyền lợi
hợp pháp cho bên tham gia giao dịch hoặc
người thứ ba có quyền lợi bị xâm hại. Giải
pháp này cần phải được xem là một trong
những nguyên tắc cơ bản định hướng cho
việc xử lí hậu quả vô hiệu đối với giao dịch
nói chung và giao dịch thương mại của ngân
hàng thương mại nói riêng trong điều kiện
nền kinh tế thị trường ở nước ta./.

(1).Xem: Khoản 2 Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005.
(2).Xem: Nguyễn Mạnh Bách, “Pháp luật về hợp
đồng”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr. 75.
(3).Xem: - PTS. Trần Đình Hảo, “Giao dịch dân sự
và nghĩa vụ dân sự”, Báo cáo chuyên đề của đề tài:
“Những vấn đề lí luận cơ bản về Bộ luật dân sự Việt
Nam”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu nhà
nước và pháp luật, Hà Nội 1997, tr. 87.
- Trần Hữu Huỳnh, “Một vài vấn đề về hợp
đồng vô hiệu trong pháp luật Việt Nam”, tài liệu Hội
thảo về việc xử lí hợp đồng vô hiệu, Báo diễn đàn
doanh nghiệp - câu lạc bộ luật gia Việt Đức, 2003.
(4). Quan điểm này đã được một số nhà khoa học đề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status