nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 3Đồng Ngọc Ba *
ông ti cổ phần là mô hình kinh doanh
điển hình trong nền kinh tế thị trờng.
Trên thế giới, công ti cổ phần và pháp luật về
công ti cổ phần đ có lịch sử phát triển hàng
trăm năm. ở Việt Nam, do những điều kiện
lịch sử - x hội nhất định nên việc tổ chức vận
hành công ti cổ phần còn nhiều hạn chế.
Những năm gần đây, Nhà nớc ta đ rất cố
gắng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
công ti, trong đó có pháp luật về công ti cổ
phần. Với sự ra đời của Luật doanh nghiệp
năm 1999, chế định công ti cổ phần đ đợc
hoàn thiện một bớc, toàn diện và đầy đủ hơn
(so với Luật công ti năm 1990). Một trong
những nội dung pháp lí quan trọng về công ti
cổ phần là vấn đề tổ chức quản lí (nội bộ)
công ti đ đợc Luật doanh nghiệp tiếp cận
và giải quyết khá thành công. Bài viết này
phân tích, đánh giá một số nội dung cơ bản
về tổ chức quản lí công ti cổ phần theo Luật
doanh nghiệp nhằm giúp cho việc giải thích
và áp dụng pháp luật về công ti cổ phần đợc
thuận lợi hơn.
Xuất phát từ nguyên tắc tự do kinh doanh,
1. Về cơ cấu bộ máy tổ chức quản lí
công ti cổ phần
Theo Luật doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức
quản lí công ti cổ phần đợc thiết kế theo hai
mô hình khác nhau tuỳ thuộc vào số lợng cổ
đông của công ti (Luật công ti 1990 quy định
mô hình tổ chức quản lí thống nhất cho tất cả
C
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
4 - Tạp chí luật học
các công ti cổ phần). Đối với những công ti
cổ phần có trên 11 cổ đông, cơ cấu tổ chức
quản lí bắt buộc phải có đại hội đồng cổ
đông, hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng
giám đốc (sau đây gọi chung là giám đốc) và
ban kiểm soát. Đây là mô hình tổ chức quản
lí truyền thống và điển hình của công ti cổ
phần. Với mô hình này việc tổ chức quản lí
công ti có sự phân công, phân nhiệm và chế
ngự lẫn nhau giữa các cơ quan quản lí, điều
hành và kiểm soát công ti. Về lí thuyết đây là
bộ máy tổ chức quản lí phù hợp và hiệu quả
trong trờng hợp công ti cổ phần mang tính
đại chúng tức có sự tham gia của đông đảo
doanh nghiệp không ấn định cụ thể khoảng
thời gian này là cha đảm bảo tính chặt chẽ
và hợp lí.
2. Về thẩm quyền và thể thức hoạt
động của các cơ quan trong bộ máy tổ
chức quản lí công ti
Là loại hình công ti đối vốn, có t cách
pháp nhân, công ti cổ phần đợc tổ chức quản
lí theo cơ chế có sự tách biệt khá rõ ràng giữa
quyền sở hữu và quyền quản lí công ti. Quyền
quản lí công ti không dàn trải, phân bổ cho
các cổ đông mà đợc tập trung ở bộ máy
quản lí có tính chuyên nghiệp. Các cổ đông
nắm quyền sở hữu công ti, có quyền bầu ra
bộ máy quản lí công ti nhng bản thân mỗi
cổ đông không phải là ngời quản lí công ti.
Về phơng diện khoa học, quyền quản lí
công ti có thể đợc chia thành ba nhóm cơ
bản sau:
- Quyền quyết định những vấn đề quan
trọng nhất liên quan đến sự tồn tại của công
ti.
- Quyền xây dựng chiến lợc, kế hoạch
hoạt động kinh doanh và điều hành hoạt động
kinh doanh của công ti.
- Quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của
công ti.
Theo Luật doanh nghiệp, các nhóm quyền
quản lí công ti cổ phần đợc phân chia cho
các cơ quan khác nhau là đại hội đồng cổ
pháp luật. Đây là cơ sở lí luận quan trọng để
giải thích và áp dụng các quy định trong Luật
doanh nghiệp về quyền hạn, nhiệm vụ, thể
thức hoạt động của đại hội đồng cổ đông, hội
đồng quản trị, giám đốc, ban kiểm soát trong
bộ máy tổ chức quản lí công ti cổ phần (từ
Điều 70 đến Điều 94 Luật doanh nghiệp).
Luật doanh nghiệp đ thể hiện sự tiến bộ rõ
rệt trong các quy định về thẩm quyền và thể
thức hoạt động của các cơ quan trong bộ máy
tổ chức quản lí công ti. Các quy định này có
tính mềm dẻo để đảm bảo quyền tự chủ của
công ti đồng thời vẫn đảm bảo tính chặt chẽ
để việc tổ chức vận hành công ti không xâm
hại tới quyền lợi của các cổ đông, đặc biệt là
các cổ đông thiểu số. Việc bổ sung thêm và
quy định rõ về thẩm quyền bắt buộc của
đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, giám
đốc, ban kiểm soát
(1)
đảm bảo sự phân nhiệm
và chế ngự cần thiết của các cơ quan này
trong quản lí điều hành công ti. Với quy định
này, những thoả thuận (ghi trong điều lệ công
ti) dẫn đến phá vỡ sự phân quyền cần thiết
trong quản lí điều hành công ti đều không
đợc chấp nhận. Bên cạnh đó những quy định
về thể thức hoạt động của đại hội đồng cổ
đông, hội đồng quản trị (điều kiện, thể thức
tiến hành họp, điều kiện để thông qua quyết
đợc đặt trong mối quan hệ với lợi ích của
các chủ nợ. Về nguyên tắc, lợi ích của công ti
và cổ đông sẽ không đợc chấp nhận nếu lợi
ích đó đạt đợc bằng cách gây thiệt đến lợi
ích của chủ nợ. Vì vậy, ngời quản lí công ti nghiên cứu - trao đổi
6 - Tạp chí luật học
không chỉ có nghĩa vụ đối với công ti và cổ
đông mà còn có nghĩa vụ đối với các chủ nợ
của công ti. Từ cơ sở lí luận này, pháp luật
của hầu hết các nớc đều có những quy định
về nghĩa vụ của ngời quản lí công ti nhằm
bảo vệ lợi ích của công ti, của cổ đông và của
chủ nợ của công ti.
Luật doanh nghiệp quy định về nghĩa vụ
của ngời quản lí công ti cổ phần tại Điều 86.
Theo quy định này, nghĩa vụ của ngời quản
lí công ti cổ phần có thể đợc chia thành hai
nhóm cơ bản, đó là:
Thứ nhất, nhóm nghĩa vụ đối với công ti
và cổ đông. Nhóm nghĩa vụ này có nội dung
buộc ngời quản lí phải hành xử theo hớng
có lợi nhất cho lợi ích của công ti đồng thời
ngăn cản việc ngời quản lí lạm quyền gây
thiệt hại cho công ti. Cụ thể, ngời quản lí
công ti phải thực hiện các quyền và nhiệm vụ
đợc giao một cách trung thực, mẫn cán vì lợi
thể thoả thuận và ấn định trong điều lệ các
nghĩa vụ khác cho ngời quản lí công ti. Tuy
nhiên, việc định ra các nghĩa vụ cho ngời
quản lí công ti là vấn đề nhạy cảm, cần
phải tính đến yêu cầu đảm bảo khả năng chủ
động của ngời quản lí. Nếu quy định nghĩa
vụ cho ngời quản lí quá cụ thể, khắt khe
theo cách ngời quản lí phải làm gì và làm
nh thế nào thì có thể sẽ cản trở tính năng
động, sáng tạo của ngời quản lí và nh vậy
có thể ảnh hởng không tốt đến lợi ích của
công ti. Thực tế trong kinh doanh là nhiều khi
phải sẵn sàng mạo hiểm, chấp nhận rủi ro để
đạt đợc lợi nhuận cao hơn.
4. Về kiểm soát giao dịch t lợi
Khắc phục thiếu sót của Luật công ti năm
1990, vấn đề kiểm soát giao dịch t lợi lần
đầu tiên đ đợc đề cập trong Luật doanh
nghiệp. Để tiến hành hoạt động, công ti cổ
phần tất yếu phải thiết lập các giao dịch với
các chủ thể pháp luật khác nhau. Trong các
giao dịch đó có thể có những giao dịch chứa
đựng khả năng xung đột về quyền lợi mà
trong khoa học pháp lí thờng gọi là giao
dịch t lợi. ở những giao dịch này, quyền lợi
của công ti, của cổ đông và của chủ nợ của
công ti có nguy cơ bị xâm hại do các chủ thể
thiết lập giao dịch với công ti là ngời liên
quan của công ti.
(3)
năng có đợc lợi ích từ giao dịch t lợi. Hiển
nhiên là những giao dịch t lợi vẫn có thể
mang lại lợi ích cho công ti nếu chúng đợc
thực hiện một cách vô t, khách quan và đúng
pháp luật.
Vấn đề kiểm soát giao dịch t lợi trong
công ti cổ phần đợc Luật doanh nghiệp quy
định với nội dung là kiểm soát một số quan
hệ hợp đồng dân sự và kinh tế (Điều 87).
Theo đó, các hợp đồng có tính t lợi vẫn
đợc phép thiết lập và thực hiện nhng việc
giao kết bị ràng buộc chặt chẽ. Cụ thể là các
hợp đồng kinh tế, dân sự của công ti với các
thành viên hội đồng quản trị, giám đốc, thành
viên ban kiểm soát, cổ đông sở hữu trên 10%
số cổ phần có quyền biểu quyết và với ngời
có liên quan của họ chỉ đợc kí kết khi đợc
đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị
chấp thuận trớc khi kí. Thẩm quyền xem
xét, chấp thuận những hợp đồng này của đại
hội đồng cổ đông và hội đồng quản trị đợc
phân định dựa trên giá trị của hợp đồng
(5)
.
Những hợp đồng đợc kí kết không tuân thủ
quy định này sẽ bị coi là vô hiệu. Những
ngời gây thiệt hại sẽ phải bồi thờng thiệt
hại cho công ti và có thể phải chịu các hình
thức trách nhiệm khác theo quy định của
pháp luật.
- Giám đốc công ti A vay tiền của công ti A hoặc cho
bố mẹ, anh chị em của giám đốc vay tiền của công ti A
với li xuất thấp.
- Giám đốc công ti A quyết định bán hàng với giá thấp
hơn giá thị trờng cho công ti B hoặc mua hàng từ
công ti B với giá cao hơn giá thị trờng. Trong khi đó
bản thân giám đốc hoặc bố mẹ, anh em của giám đốc
là cổ đông đa số của công ti B.
- Cũng trờng hợp công ti A và công ti B nói trên,
giám đốc công ti A nhợng lại thị trờng hoặc hợp
đồng cho công ti B.
(5).Xem: Khoản 1 Điều 87 Luật doanh nghiệp.