- 1 -
Tiểu luận
Một số nội dung pháp lí cơ bản về vấn đề
tổ chức quản lí công ty cổ phần
trong Luật doanh nghiệp
- 2 -
LỜI NÓI ĐẦU
Trong bất kỳ một nền kinh tế nào, các đơn vị kinh tế cơ sở cũng giữ vai
trò quan trọng trong việc tạo ra các sản phẩm cho xã hội, làm cho các nguồn tài
nguyên được sử dụng có hiệu quả hơn, làm cho cuộc sống của con người ngày
càng hạnh phúc, ấm no hơn. Các đơn vị kinh tế cơ sở bao giờ cũng là các đơn
vị nằm trong trung tâm của vòng vận hành kinh tế. Vì vậy, nó luôn là đối
tượng quan tâm của các nhà doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu và là đối tượng
điều chỉnh vô cùng quan trọng của pháp luật.
Tuy cùng giữ một vị trí quan trọng như nhau nhưng các đơn vị kinh tế
lại được tổ chức khác nhau trong mỗi nền kinh tế. Sự khác nhau đó có nguyên
nhân chủ yếu từ cơ sở của mỗi loại cơ chế quản lý kinh tế và mặt khác nó phụ
thuộc vào truyền thống của mỗi quốc gia.
Hiện nay trên thế giới tồn tại khá nhiều các loại hình doanh nghiệp đa
dạng, chẳng hạn như các nước theo luật Anh-Mỹ đều chia doanh nghiệp thành
ba loại cơ bản bao gồm công ty phát hành cổ phiếu và không phát hành cổ
phiếu, công ty một chủ và hợp danh, hợp tác xã. Đối với hệ thống luật Châu
Au lục địa, doanh nghiệp được chia thành ba loại, đó là doanh nghiệp một chủ,
các công ty và hợp tác xã. Tuy nhiên, có thể nói công ty cổ phần là mô hình
kinh doanh điển hình trong nền kinh tế thị trường. Trên thế giới, công ty cổ
phần và pháp luật về công ty cổ phần đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm. Ở
Việt Nam, do những điều kiện lịch sử-xã hội nhất định nên việc tổ chức vận
hành công ty cồ phần còn nhiều hạn chế. Trong những năm gần đây, Nhà nước
ta đã cố gắng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công ty, trong đó có pháp
luật về công ty cổ phần. Với sự ra đời của Luật doanh nghiệp năm 1999, chế
định công ty cổ phần đã được hoàn thiện hơn, toàn diện hơn và đầy đủ hơn so
kinh tế cá thể, tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng,
- 4 -
vận tải; Nghị định số 28-HĐBT ngày 09/03/1988 ban hành bản quy định chính
sách kinh tế đối với kinh tế tập thể sản xuất dịch vụ công nghiệp, xây dựng,
vận tải… Các quy định này tuy chưa định hình một cách rõ nét các hình thức
pháp lý của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường nhưng về phương diện lý
luận đã góp phần quan trọng cho sự ra đời của các loại hình doanh nghiệp mới
và trong thực tế đã làm cho nền kinh tế khởi sắc với khí thế vận hành theo cơ
chế thị trường.
Mặt khác, năm 1987 Quốc hội thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam đã tạo ra các tiền đề thử nghiệm cho việc phát triển đa dạng các loại hình
doanh nghiệp ở Việt Nam.
Từ cuộc sống thực tiễn cũng như học hỏi kinh nghiệm các nước, ý
tưởng về soạn thảo các đạo luật về doanh nghiệp đã được hình thành vào cuối
năm 1988 khi Nhà nước tổ chức dự thảo một đạo luật về kinh doanh. Đây là
một dự thảo rất sơ khai gồm 25 điều và mới chỉ đưa ra lấy ý kiến trong giới
nghiên cứu. Do có nhiều ý kiến khác nhau nên dự thảo này không được xem
xét thông qua. Từ đó, bắt đầu việc nghiên cứu soạn thảo Luật công ty và Luật
doanh nghiệp tư nhân. Hai dự luật này đã được ban hành vào năm 1990 quy
định về doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp một chủ), công ty cổ phần và
công ty trách nhiệm hữu hạn. Mặc dù Luật doanh nghiệp tư nhân chỉ có 28
điều và Luật công ty chỉ có 46 điều nhưng có thể nói đây là một bước tiến vô
cùng quan trọng của pháp luật Việt Nam trong việc tiếp cận với các nguyên tắc
pháp lý cơ bản về hình thức pháp lý của doanh nghiệp. Hai đạo luật này tồn tại
đến năm 2000 khi Luật doanh nghiệp năm 1999 bắt đầu có hiệu lực. Đồng thời
trong thời gian đó, Quốc hội cũng thông qua Luật doanh nghiệp nhà nước năm
1995 và Luật hợp tác xã năm 1996.
2. Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam
Về hình thức pháp lý, theo các quy định hiện hành thì ở Việt Nam đang
tồn tại một số loại chủ thể kinh doanh như sau:
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3, Điều 55 và Khoản 1, Điều
58 của Luật này;
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và
không hạn chế số lượng tối đa.
Liên quan đến các loại cổ phần trong công ty cổ phần, Điều 52 Luật
doanh nghiệp quy định có hai loại cổ phần chính, đó là cổ phần phổ thông và
cổ phần ưu đãi. Trong cổ phần ưu đãi có các loại cổ phần như cổ phần ưu đãi
biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi
khác do Điều lệ công ty quy định. Tuy nhiên, không phải bất kỳ ai cũng có thể
sở hữu cổ phần ưu đãi mà tùy thuộc vào các quy định cụ thể trong Điều lệ công
ty hay do Đại hội cổ đông quyết định hay do Chính phủ ủy quyền. Theo đó,
người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông và người sở hữu cổ
phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi.
Về cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần, Luật doanh nghiệp quy định rõ
tại Điều 69 rằng: Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng
quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần trên mười một
cổ đông phải có Ban kiểm soát.
Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ
quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần. Đại hội đồng cổ đông có quyền:
(i) quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng
loại; quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần, (ii) bầu, miễn
nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát; (iii)
xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát gây thiệt
- 7 -
hại cho công ty và cổ đông của công ty; (iv) thông qua báo cáo tài chính hàng
năm; (v) quyết định tổ chức lại và giải thể công ty…
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh
công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công
ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng
pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động
kinh doanh của công ty…
2. Các quy định về tổ chức quản lý Công ty cổ phần trong Luật
doanh nghiệp
Về lí luận, mức độ ràng buộc của pháp luật đối với việc tổ chức quản lí
công ty có sự khác nhau giữa các loại hình công ty. Đối với công ty cổ phần,
do những đặc điểm phức tạp về cấu trúc vốn và cơ cấu cổ đông, cơ chế tổ chức
quản lí thường được qui định chặt chẽ hơn so với các loại hình công ty khác.
Với nhiều nội dung được sửa đổi, bổ sung, Luật doanh nghiệp đã qui định đầy
đủ và phù hợp hơn so với Luật công ty năm 1990 về vấn đề tổ chức quản lí
công ty cổ phần, thể hiện ở một số nội dung pháp lí cơ bản dưới đây.
a. Về cơ cấu bộ máy tổ chức quản lí Công ty cổ phần
Theo Luật doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức quản lí công ty cổ phần được
thiết kế theo hai mô hình khác nhau tùy thuộc vào số lượng cổ đông của công
ty (Luật công ty 1990 qui định mô hình tổ chức quản lí thống nhất cho tất cả
các công ty cổ phần). Đối với những công ty cổ phần có trên 11 cổ đông, cơ
cấu tổ chức quản lí bắt buộc phải có đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị,
giám đốc hoặc tổng giám đốc (sau đây gọi chung là giám đốc) và ban kiểm
soát. Đây là mô hình tổ chức quản lí truyền thống và điển hình của công ty cổ
phần. Với mô hình này việc tổ chức quản lí công ty có sự phân công, phân
nhiệm và chế ngự lẫn nhau giữa các cơ quan quản lí , điều hành và kiểm soát
công ty.
- 9 -
Về lí thuyết đây là bộ máy tổ chức quản lí phù hợp và hiệu quả trong
trường hợp công ty cổ phần mang tính “đại chúng” tức có sự tham gia của
đông đảo các cổ đông. Trong những trường hợp khác, bộ máy này có thể sẽ
cồng kềnh, khiên cưỡng. Có lẽ xuất phát từ cách nhìn nhận đó mà Luật doanh
nghiệp qui định đối với những công ty cổ phần từ 11 cổ đông trở xuống được
tổ chức quản lí theo mô hình có đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị và
giám đốc.
hành hoạt động kinh doanh của công ty.
- Quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của công ty.
Theo Luật doanh nghiệp, các nhóm quyền quản lí công ty cổ phần được
phân chia cho các cơ quan khác nhau là đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản
trị, giám đốc, ban kuểm soát (nếu có). Sự phân chia thẩm quyền cụ thể được
xác định trong điều lệ công ty trên cơ sở qui định của pháp luật.
Về nguyên tắc, công ty cổ phần được tổ chức quản lí tập trung thông qua
cơ chế hội đồng. Theo đó, đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền
quyết định cao nhất trong công ty. Với vị trí của mình, đại hội đồng cổ đông có
quyền tự ấn định (trong điều lệ công ty) quyền hạn và thể thức hoạt động cho
mình cũng như cho các cơ quan khác trong bộ máy tổ chức quản lí công ty.
Tuy nhiên, như đã trình bày, quyền tự quyết định trong tổ chức quản lí
công ty phải tuân thủ khuôn khổ pháp luật. Những ràng buộc của pháp luật về
nhiệm vụ, quyền hạn và thể thức hoạt động của các cơ quan trong bộ máy tổ
chức quản lí công ty chính là khuôn khổ đó. Những ràng buộc này có tính chất
là điều khoản thường lệ của điều lệ công ty. Nếu điều lệ công ty không qui
định thì mặc nhiên công ty phải tuân thủ qui định pháp luật. Mặt khác, nếu
điều lệ công ty có qui định cụ thể hóa cho phù hợp với mỗi công ty thì không
được trái với các qui định pháp luật. Đây là cơ sơ lí luận quan trọng để giải
thích và áp dụng các qui định trong Luật doanh nghiệp về quyền hạn, nhiệm
- 11 -
vụ, thể thức hoạt động của đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc,
ban kiểm soát trong bộ máy tổ chức quản lí công ty cổ phần (từ Điều 70 đến
Điều 94 Luật doanh nghiệp).
Luật doanh nghiệp đã thể hiện sự tiến bộ rõ rệt trong các qui định về
thẩm quyền và thể thức hoạt động của các cơ quan trong bộ máy tổ chức quản
lí công ty. Các qui định này có tính mềm dẻo để đảm bảo quyền tự chủ của
công ty đồng thời vẫn đảm bảo tính chặt chẽ để việc tổ chức vận hành công ty
không xâm hại tới quyền lợi của các cổ đông, đặc biệt là các cổ đông thiểu số.
Việc bổ sung thêm và qui định rõ về thẩm quyền “bắt buộc” của đại hội đồng
phần tại Điều 86. Theo qui định này, nghĩa vụ của người quản lí công ty cổ
phần có thể được chia thành hai nhóm cơ bản, đó là:
Thứ nhất, nhóm nghĩa vụ đối với công ty và cổ đông. Nhóm nghĩa vụ
này có nội dung buộc người quản lí phải hành xử theo hướng có lợi nhất cho
lợi ích của công ty đồng thời ngăn cản việc người quản lí lạm quyền gây thiệt
hại cho công ty. Cụ thể, người quản lí công ty phải thực hiện các quyền và
nhiệm vụ được giao một cách trung thực, mẫn cán vì lợi ích của công ty và cổ
đông của công ty, không được lạm dụng điạ vị và quyền hạn, sử dụng tài sản
của công ty thu lợi riêng cho bản thân, cho người khác; không được tiết lộ bí
mật của công ty (trừ trường hợp được hội đồng quản trị chấp thuận).
Thứ hai, nhóm nghĩa vụ đối với chủ nợ. Nhóm nghĩa vụ của người quản
lí công ty cổ phần đối với chủ nợ được xác định khi công ty gặp khó khăn về
tài chính. Theo đó, khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn phải
trả thì người quản lí công ty phải thực hiện các nghĩa vụ nhằm duy trì ở mức
cao nhất khả năng thanh toán nợ của công ty, đảm bảo quyền lợi của các chủ
nợ. Một mặt, người quản lí phải thôngbáo tình hình tài chính cuả công ty cho
các chủ nợ đồng thời không được tăng tiền lương, trả tiền thưởng cho công
nhân viên của công ty, kể cả cho người quản lí. Nếu không thực hiện nghĩa vụ
- 13 -
này, dẫn đến thiệt hại cho chủ nợ thì người quản lí công ty phải chịu trách
nhiệm cá nhân về thiệt hại xảy ra. Mặt khác, người quản lí phải kiến nghị các
biện pháp nhằm khắc phục khó khăn về tài chính của công ty.
Có thể thấy, các qui định về nghĩa vụ của người quản lí công ty cổ phần
trong Luật doanh nghiệp chỉ dừng lại ở những nghĩa vụ cơ bản và ở mức độ
nguyên tắc chung. Trong trường hợp cần thiết, các cổ đông công ty có thể thõa
thuận và ấn định trong điều lệ các nghĩa vụ khác cho người quản lí công ty.
Tuy nhiên, việc định ra các nghĩa vụ cho người quản lí công ty là vấn đề
“nhạy cảm”, cần phải tính đến yêu cầu đảm bảo khả năng chủ động của người
quản lí. Nếu qui định nghĩa vụ cho người quản lí quá cụ thể, khắt khe theo
cách người quản lí phải làm gì và làm như thế nào thì có thể sẽ cản trở tính
Vấn đề kiểm soát giao dịch tư lợi trong công ty cổ phần được Luật
doanh nghiệp qui định với nội dung là kiểm soát một số quan hệ hợp đồng dân
sự và kinh tế. Theo đó, các hợp đồng có tính “tư lợi” vẫn được phép thiết lập
và thực hiện nhưng việc giao kết bị ràng buộc chặt chẽ. Cụ thể là các hợp đồng
kinh tế, dân sự của công ty với các thành viên hội đồng quản trị, giám đốc,
thành viên ban kiểm soát, cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phần có quyền biểu
quyết và với người có liên quan của họ chỉ được kí kết khi được đại hội đồng
cổ đông hoặc hội đồng quản trị chấp thuận trước khi kí. Thẩm quyền xem xét,
chấp thuận những hợp đồng này của đaị hội đồng cổ đông và hội đồng quản trị
được phân định dựa trên giá trị của hội đồng. Những hợp đồng được kí kết
không tuân thủ qui định này sẽ bị coi là vô hiệu. Những người gây thiệt hại sẽ
phải bồi thường thiệt hại cho công ty và có thể phải chịu các hình thức trách
nhiệm khác theo qui định của pháp luật.
Trên đây là một số nội dung pháp lí cơ bản về vấn đề tổ chức quản lí
công ty cổ phần trong Luật doanh nghiệp. Các qui định về tổ chức quản lí công
ty cổ phần cùng với các nội dung khác trong Luật doanh nghiệp về công ty cổ
- 15 -
phần (về cấu trúc vốn, về quyền và nghĩa vụ của các cổ đông, về tổ chức lại
công ty…) cơ bản đã tạo được hành lang pháp lí cho công ty cổ phần tồn tại và
phát triển.