BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
TRỊNH THỊ MAI LOAN
LKT 12-03
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ VỐN CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
Ngành Luật Kinh tế
Mã số: 12A51010138
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn: Th.S PHÙNG TRỌNG QUẾ
Hà Nội, 05/2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
TRỊNH THỊ MAI LOAN
LKT 12-03
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ VỐN CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
Ngành Luật Kinh tế
Mã số: 12A51010138
em. Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được nêu rõ trong
danh mục tài liệu tham khảo.Các số liệu, kết quả trình bày trong khóa luận hoàn
toàn trung thực, nếu sai em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi kỷ luật của
Khoa và Nhà trường đề ra.
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
Th.S.Phùng Trọng Quế
Sinh viên
Trịnh Thị Mai Loan
Một số vấn đề pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2014
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ 1
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... 2
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 2
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ..... 4
1.1. Khái quát chung về công ty cổ phần ................................................................. 4
1.1.1. Khái niệm công ty cổ phần......................................................................4
1.1.2. Đặc điểm của công ty cổ phần ................................................................6
1.2. Khái quát về vốn của công ty cổ phần: ........................................................... 11
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm về vốn của công ty cổ phần : .............................11
1.2.2. Cấu trúc vốn của công ty cổ phần: .......................................................14
1.2.3. Vai trò của vốn trong công ty cổ phần .................................................18
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ VỐN CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦNTHEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ....... 20
2.1. Cơ chế góp vốn của công ty cổ phần: .............................................................. 20
của công ty (thông qua định hướng phát triển công ty; quyết định sửa đổi, bổsung
bản điều lệ; quyết định tổ chức lại, giải thể công ty), về tài chính công ty (loại cổ
phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; mức chia cổ tức hàng
năm của từng loại cổ phần; thông qua báo cáo tài chính hàng năm...) và người lãnh
đạo công ty (bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị...). Công
việc điều hành hoạt động của công ty được giao cho những người có chuyên môn
hơn là Hội đồng quản trị. Do đó hoạt động kinh doanh của công ty sẽ được thực
hiện hiệu quả hơn. Đặc biệt, công ty có quyền chào bán (phát hành) cổ phần để huy
động vốn từ các nhà đầu tư để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Huy động vốn có những ưu điểm rất lớn đối với hoạt động của công ty như: Tài trợ
hoạt động doanh nghiệp thông qua huy động vốn vay cho phép chủ doanh nghiệp
nắm quyền kiểm soát toàn bộ hoạt động doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp có quyền
tự đưa ra tất cả quyết định mà không phải báo cáo cho các cổ đông hoặc nhà đầu tư.
Và chủ doanh nghiệp sẽ sở hữu toàn bộ lợi nhuận của doanh nghiệp; Lãi suất bạn
phải trả trên khoản vay được xem là chi phí hợp lệ và được khấu trừ thuế.Khoản
khấu trừ này là một phần trong lợi nhuận của doanh nghiệp và giúp giảm số tiền
doanh nghiệp đóng thuế hàng năm. Ngoài ra, doanh nghiệp cỡ nhỏ cũng có thể được
hưởng nhiều ưu đãi thuế. Doanh nghiệp có thể tiếp cận các khoản vay hỗ trợ doanh
nghiệp nhỏ với nhiều điều khoản thuận lợi hơn so với các khoản vay truyền thống
từ ngân hàng; Chủ nợ của doanh nghiệp không được hưởng khoản chia lợi nhuận
của công ty. Tất cả những gì họ có thể mong đợi chính là doanh nghiệp sẽ thanh
toán khoản vay đúng hạn. Công ty thay vì phải phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng
của ngân hàng và phải chịu lãi suất cho vay thì giờ sẽ huy động được vốn từ công
chúng tức là kêu gọi đầu tư của nhà đầu tư vào công ty để thực hiện các dự án kinh
doanh của mình. Đến điểm này có thể thấy rằng công ty cũng đã tạo ra một lợi ích
lớn cho nền kinh tế. Bởi lẽ công ty là mô hình có khả năng huy động vốn một cách
SV: Trịnh Thị Mai Loan
2
của các chủ nợ. Tuy nhiên, pháp luật doanh nghiệp hiện này chưa có một cách quan
niệm thống nhất về vốn điều lệ cũng như vốn điều lệ của công ty cổ phần, những
vấn đề liên quan đến đặc trưng chào bán cổ phần để huy động vốn của công ty,
những quy định pháp luật về tăng giảm vốn điều lệ của công ty sao cho phù hợp với
Luật doanh nghiệp 2014. Những điểm này nếu không được giải quyết sẽ cản trở
hoạt động của công ty cổ phần, không bảo đảm được quyền lợi cho cổ đông cũng
như tạo những rủi ro nhất định dành cho các chủ nợ về việc thu hồi nợ. Xét cho
cùng, công ty hoạt động thì phải cần vốn và vốn thì được huy động từ hai nguồn
chủ yếu là vốn vay và vốn góp tức là có sự tham gia của chủ nợ và nhà đầu tư. Với
ý nghĩa của vốn vừa được nói sơ lược ở trên, một vấn đề đặt ra là phải xây dựng
những quy định pháp luật thống nhất và cụ thể về vốn của công ty cũng như điều
chỉnh những yếu tố ảnh hưởng tới vốn của công ty nhằm đảm bảo quyền lợi cho các
cổ đông trong công ty và tạo niệm tin đối với khách hàng của công ty và khả năng
trả nợ của công ty đối với chủ nợ.
SV: Trịnh Thị Mai Loan
3
Mã SV: 51010138
Một số vấn đề pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2014
Với những lý do ở trên, em chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý về vốn của
công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2014” với mong muốn góp phần làm sáng
tỏ về lý luận và thực tiễn các vấn đề liên quan đến vốn của công ty cổ phần và đưa
ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định về vốn của công ty cổ phần
của Luật doanh nghiệp 2014.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
SV: Trịnh Thị Mai Loan
4
Mã SV: 51010138
Một số vấn đề pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2014
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái quát chung về công ty cổ phần
1.1.1. Khái niệm công ty cổ phần
Quá trình công nghiệp hoá ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ từ thế kỷ XVIII,
XIX cùng với nhu cầu tích tụ vốn để đầu tư của các nhà tư bản đã làm xuất hiện loại
hình công ty cổ phần.Sự phát triển mạnh mẽ của Chủ nghĩa Tư bản đòi hỏi sản xuất
kinh doanh phải có quy mô ngày càng to lớn, cạnh tranh và độc quyền có mức độ
ngày càng gay gắt. Các chủ tư bản đi đến thoả hiệp với nhau nhằm thu được lợi
nhuận tối đa và bành trướng hơn nữa thế lực kinh tế của mình. Công ty cổ phần là
hình thức kinh doanh thoả mãn được những nhu cầu này, nó tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thu hút và tập trung tư bản, như nhận định của Các Mác “Qua các công ty
cổ phần, sự tập trung đã thực hiện được việc đó trong nháy mắt”.[49, tr.199]
Về mặt lịch sử hình thành, Công ty cổ phần ra đời sau các loại công ty đối
nhân nhưng là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn. Khác với sự ra đời
của hình thức công ty Trách nhiệm hữu hạn – là sản phẩm của các nhà lập pháp xuất
phát từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, công ty cổ phần được hình thành trong
hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được
pháp luật thừa nhận và được hoàn thiện thành một chế định pháp lý. Chẳng hạn như
ở Anh, Luật công ty được ban hành lần đầu tiên năm 1844 nhưng trước đó hơn 100
năm đã có sự xuất hiện của các công ty cổ phần. Và đến năm 1856, ở Anh mới có
thực hiện nhanh chóng vấn đề tập trung vốn.Vì vậy, có ý kiến bình luận rằng “Nếu
như cứ phải chờ cho đến khi tích luỹ làm cho số tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có
thể đảm đương được việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn
chưa có đường sắt”. Sự ra đời của Công ty cổ phần đã giúp cho các nhà doanh
nghiệp giải quyết được mâu thuẫn về tiền vốn một cách sáng tạo.
Tóm lại, trải qua quá trình phát triển lâu dài, Công ty cổ phần đã từ phạm vi
ở một nước, một khu vực nhất định đã phát triển thành những công ty đa quốc gia,
hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đúng như nhận định: “Công ty cổ phần
đã phát triển ở hầu hết các nước từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy
mô lớn, từ một ngành đến đa ngành, từ một quôc gia đến nhiều quốc gia thông qua
các công ty siêu quốc gia”.
Ở Việt Nam, Luật lệ về công ty lần đầu tiên được quy định là trong “Bộ Dân
luật thi hành tại các toà Nam Án Bắc Kỳ”, trong đó tiết thứ 5 (Chương IX) nói về
hội buôn được chia thành hai loại là hội người và hội vốn. Trong đó hội vốn được
chia thành hai loại là hội vô danh (CTCP) và hội hợp cổ (Công ty hợp vốn đơn
giản). Nhìn chung, quy định của Pháp luật thời kỳ này về CTCP còn rất sơ khai.
Dưới thời Pháp thuộc, các quy định của Bộ luật Thương mại Pháp năm 1807,
trong đó có quy định về hình thức CTCP được áp dụng ở cả ba kỳ tại Việt Nam.
Đến năm 1944, chính quyền Bảo Đại ban hành Bộ luật thương mại Trung phần có
hiệu lực áp dụng tại Trung Kỳ, trong đó có quy định về CTCP (gọi là công ty vô
danh) từ Điều 102 đến Điều 142 và từ Điều 159 đến Điều 171.
Năm 1972, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ban hành Bộ luật Thương mại,
trong đó CTCP được gọi là hội nặc danh với đặc điểm “gồm có các hội viên mệnh
danh cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phần hùn của mình dưới hình
thức cổ phần” (Điều 236) và “chỉ được thành lập nếu có số hội viên từ 7 người trở
lên” (Điều 295). Các vấn đề pháp lý liên quan đến hình thức hội nặc danh như thành
lập, góp vốn, cơ cấu quản lý … đã được quy định rất chi tiết trong Bộ luật này từ
Điều 236 đến Điều 278 cũng như từ Điều 295 đến Điều 314.
SV: Trịnh Thị Mai Loan
trung bởi người điều hành.
Căn cứ vào tiêu chí quy mô vốn và quy mô cổ đông lớn, công ty cổ phần
được chia thành 2 loại, đó là (i) công ty cổ phần là công ty đại chúng và (ii) công ty
cổ phần không phải là công ty đại chúng.
Công ty cổ phần là công ty đại chúng nếu thuộc một trong 3 loại hình sau: (a)
công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; (b) công ty có cổ phiếu được
niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán; (c) công ty có cổ phiếu được ít nhất một
tram nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn
điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên.
Công ty cổ phần không là công ty đại chúng là các công ty không thuộc
trường hợp được nêu trên.
1.1.2. Đặc điểm của công ty cổ phần
SV: Trịnh Thị Mai Loan
6
Mã SV: 51010138
Một số vấn đề pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2014
Đặc điểm của công ty cổ phần được quy định khá rõ theo điều 110 của luật
doanh nghiệp 2014 như sau:
Một là về cấu trúc vốn: vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau
gọi là cổ phần.
Về bản chất, cổ phần là số vốn tối thiếu mà nhà đầu tư tham gia đầu tư vào CTCP
và thể hiện quyền lợi nhất định của cổ đông với công ty.Sau khi mua cổ phần của
CTCP (góp vốn), nhà đầu tư trở thành cổ đông của công ty.Cổ đông này nhận số cổ
phần tương ứng với số vốn người này đã góp và người này có những quyền và lợi
ích nhất định từ cổ phần đã mua.Điểm mấu chốt ở đây là nhà đầu tư mua cổ phần và
Mã SV: 51010138
Một số vấn đề pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2014
đây công ty phải chịu trách nhiệm vô hạn với các chủ nợ.Trong khi đó, nhờ việc
công ty là một pháp nhân tách biệt với các cổ đông và có tài sản riêng của chính nó,
các cổ đông của công ty được hưởng quy chế “trách nhiệm hữu hạn”.Tính chịu
trách nhiệm hữu hạn được hiểu là nghĩa vụ của cổ đông chỉ phải trả các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác của công ty được giới hạn trong số vốn đã góp vào công ty và
về nguyên tắc không phải đem tài sản cá nhân ra trả nợ cho công ty.Như vậy, tính
chịu trách nhiệm gắn với các cổ đông đã tạo nên bức màn che chắn cho các cổ đông
trước yêu cầu đòi nợ của các chủ nợ của công ty.Các chủ nợ chỉ có quyền đối với
các tài sản của công ty, chứ không có quyền đối với tài sản riêng của các cổ đông.
Bốn là về chuyển nhượng phần vốn góp: Cổ phần được tự do chuyển
nhượng. Sau khi góp vốn vào công ty, người góp vốn trở thành cổ đông và cổ đông
sẽ nhận được số cổ phần tương xứng với phần vốn góp. Công ty là chủ sở hữu mọi
tài sản của nó, bao gồm vốn và tất cả các loại tài sản khác. Số cổ phần được sở hữu
bởi các cổ đông là một quyền tài sản tư có thể tự do chuyển nhượng trừ những hạn
chế chế và ràng buộc được thỏa thuận trong điều lệ công ty hoặc do luật định. Lý do
luật pháp cho chuyển nhượng cổ phần một cách tự do là vì tiền của các cổ đông bỏ
ra phải chịu rủi ro trong khi quyền hành của họ đối với công ty bị hạn chế bởi
CTCP có sự phân tách giữa quyền sở hữu và quyền điều hành. Vì thế, các cổ đông
có quyền kiểm soát sự rủi co mình chịu bằng cách đẩy nó đi khi nào muốn [10; tr.
76].
Năm là tư cách chủ thể: Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân. Tức là công
ty cổ phần là công ty có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách
nhiệm bằng tài sản đó.Tự nhân danh mình để tham gia các quan hệ pháp luật một
cách độc lập.Chính vì CTCP có tư cách pháp nhân nên có sự tách biệt giữa quản lý
trường (ngoài một số trường hợp luật hạn chế việc chuyển nhượng cổ phần của các
cổ đông). Bất cứ tổ chức cá nhân nào mua cổ phần của công ty đều trở thành cổ
đông của công ty.Những yếu tố này một mặt là thuận lợi cho việc huy động vốn cho
công ty nhưng mặt khác chính là hạn chế trong việc cơ cấu quản lý công ty. Vì các
thành viên có thể tự do chuyển nhượng cổ phần của mình nên các cổ đông rất dễ gia
nhập hoặc rút khỏi công ty. Trong khi đó, bộ máy quản lý công ty phải hết sức ổn
định thì mới quản lý và điều hành được tốt công việc sản xuất kinh doanh của công
ty.
Với cơ chế quản lý hết sức mềm dẻo và năng động như trên, công ty cổ phần
là sự biểu hiện của sự dân chủ trong hoạt động quản lý kinh tế.Nếu như doanh
nghiệp tư nhân là một biểu hiện của sự quản lý độc đoán, thì công ty cổ phần lại là
biểu hiện của sự dân chủ. Quyền lực ở đây không nằm trong tay một cá nhân mà
thuộc về Đại hội đồng cổ đông, thuộc về tập thể các thành viên trong Hội đồng quản
trị. Hội đồng quản trị thực hiện quyền lực của công ty theo những quy chế nhất
định.
Số lượng cổ đông của công ty cổ phần thường rất lớn nên điều hành Công ty
cổ phần phức tạp hơn nhiều so với các loại hình công ty khác.Tính đa sở hữu cùng
với một số lượng lớn các cổ đông là một trong những tiền đề của sự tách bạch giữa
sở hữu và quản trị điều hành công ty. Công ty cổ phần là sự biểu hiện rõ nét nhất
của mô hình quản 3 cấp: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban điều hành
công ty. Mỗi cấp quản lý có nhiệm vụ và chức năng riêng biệt hoàn thiện bộ máy
quản trị công ty. Theo quy định của luật doanh nghiệp 2014 thì công ty cổ phần có
thể lựa chọn trong hai mô hình sau:
Mô hình đa hội đồng: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm
soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ
đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì
không bắt buộc phải có ban kiểm soát;
SV: Trịnh Thị Mai Loan
9
rác thuộc nhiều cá nhân trong xã hội.
Cơ cấu tổ chức trong công ty cổ phần đã thực hiện được việc tách biệt quyền sở
hữu và quyền kinh doanh,tạo nên một hình thái xã hội hoá sở hữu của một bên là
đông đảo công chúng mua cổ phần còn bên kia là đội ngũ các nhà quản trị kinh
doanh chuyên nghiệp sử dụng tư bản xã hội cho những công cuộc kinh doanh quy
mô lớn.
Có thể nói những ưu thế được mang lại từ việc hình thành và hoạt động của
công ty cổ phần là vô cùng to lớn nó đã khắc phục việc buông lỏng quản lý tài sản
của các doanh nghiệp,xoá bỏ tình trạng vô chủ trong các công ty.Mặc dù chủ trương
trao quyền tự quản cho các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước đã đạt
được một số kết quả nhất định nhưng nó mới chỉ đẩy lùi được chế độ bao cấp của
SV: Trịnh Thị Mai Loan
10
Mã SV: 51010138
Một số vấn đề pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2014
nhà nước đối với doanh nghiệp còn về mặt nhận thức thì tài sản của doanh nghiệp
nhà nước vẫn là tài sản chung cho nên tình trạng vô trách nhiệm,lãng phí của công
vẫn không được khắc phục. Khi xuất hiện công ty cổ phần thì mặc nhiên những điều
này sẽ không tồn tại.
Hơn nữa, công ty cổ phần huy động được nguồn vốn trong xã hội cung cấp
cho hoạt động kinh doanh và đầu tư phát triển của doanh nghiệp.Một mặt vừa góp
phần tháo gỡ khó khăn cho ngân sách nhà nước (không phải chu cấp cho doanh
nghiệp) mặt khác vốn và tài sản doanh nghiệp nhà nước nhờ quá trình cổ phần hoá
thu lại sẽ được đầu tư mở rộng sản xuất; tăng thêm tài sản cố định góp phần to lớn
thúc đẩy kinh tế tăng trưởng.
Một số vấn đề pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2014
của công ty. Như vậy, các nhà tài chính đã chú ý đến mặt tài chính của vốn, làm rõ
được nguồn vốn cơ bản của doanh nghiệp đồng thời cho các nhà đầu tư thấy được
lợi ích của việc đầu tư, khuyến khích họ tăng cường đầu tư vào mở rộng và phát
triển sản xuất.
Theo David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch trong cuốn “Kinh tế
học”: Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất
kinh doanh tiếp theo. Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính.Vốn hiện vật
là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài
chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng... Đất đai không được coi là vốn.
Một số nhà kinh tế học khác cho rằng vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh
tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản tài chính mà còn cả các kiến
thức về kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp đã tích luỹ được , trình độ quản lý và tác
nghiệp của các cán bộ điều hành cùng chất lượng đội ngũ công nhân viên trong
doanh nghiệp, uy tín, lợi thế của doanh nghiệp.
Nhưng theo khái niệm trong giáo trình Tài chính doanh nghiệp của Trường
Đại học Kinh tế quốc dân thì khái niệm về vốn được chia thành hai phần: Tư bản
(Capital) là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Vốn được quan tâm đến khía cạnh giá
trị nào đó của nó mà thôi. Bảng cân đối kế toán phản ánh tình hình tài chính của
một doanh nghiệp tại một thời điểm.Vốn được nhà doanh nghiệp dùng để đầu tư
vào tài sản của mình. Nguồn vốn là những nguồn được huy động từ đâu. Tài sản thể
hiện quyết định đầu tư của nhà doanh nghiệp; Còn về bảng cân đối phản ánh tổng
dự trữ của bản thân doanh nghiệp dẫn đến doanh nghiệp có dự trữ tiền để mua hàng
hoá và dịch vụ rồi sản xuất và chuyển hoá, dịch vụ đó thàng sản phẩm cuối cùng
cho đến khi dự trữ hàng hoá hoặc tiền thay đổi đó sẽ có một dòng tiền hay hàng hoá
đi ra đó là hiện tượng xuất quỹ, còn khi xuất hàng hoá ra thì doanh nghiệp sẽ thu về
dòng tiền (phản ánh nhập quỹ và biểu hiện cân đối của doanh nghiệp là ngân quỹ
vốn thì phải chia cổ tức. Số tiền lãi phải trả và cổ tức phải chia được gọi là chi phí
sử dụng vốn. Về góc độ kinh tế, công ty là một phương tiện để doanh nhân huy
động vốn. Hơn nữa, công ty có thể kinh doanh mãi mãi với điều kiện nó trả được nợ
khi đáo hạn [9].
Khi mở công ty, những người lập ra công ty sẽ coi nó như một dự án của
mình. Khi công ty hoạt động, công ty phải mua sắm thêm máy móc, nhà xưởng thì
mỗi việc đó cũng được xem là một dự án. Khi lập mỗi dự án, ngoài những việc
khác, công ty còn phải tính toán về mặt tài chính, tức là giải quyết đồng vốn, vay
mượn cách nào, chi trả ra sao để có lời lãi. Tùy vào hoạt động sản xuất kinh doanh
từng giai đoạn, công ty có thể sẽ quyết định mức huy động vốn nhiều hay ít. Như
vậy có thể thấy rằng, công ty có thể gọi vốn từ từ theo từng đợt, tùy nhu cầu hoạt
động.
Như đã biết, nếu chưa cần vốn mà công ty đã gọi góp ngay thì về lý thuyết,
công ty phải trả cổ tức nên dẫn đến chi phí sử dụng vốn sẽ cao. Tóm lại, về tính chất
kinh tế của vốn, có 3 đặc điểm sau về vốn được ghi nhận [9]: (i) phương tiện kinh
doanh; có thể kinh doanh mãi miễn là trả nợ được; và (iii) công ty sẽ gọi vốn từ từ..
b. Tính chất pháp lý của vốn công ty cổ phần
Về mặt pháp lý, vốn của CTCP được tạo lập từ vốn sở hữu và vốn tín dụng.
Tuy nhiên trong công ty cổ phần có một số điểm khác biệt là được phép phát hành
cổ phiếu một hình thức tạo lập vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu. Đây là điểm thuận lợi
nhất đối với riêng công ty cổ phần mà ở các hình thức công ty khác không có.Trong
trường hợp có nhu cầu vốn chủ sở hữu doanh nghiệp có thể sử dụng hình thức này
để tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên việc phát hành cổ
SV: Trịnh Thị Mai Loan
13
Mã SV: 51010138
xuyên xảy ra, hoạt động tín dụng thương mại một mặt đáp ứng được ncầu vốn của
các doanh nghiệp tạm thời thiếu, đồng thời giúp cho các doanh nghiệp tiêu thụ được
hàng hóa. Mặt khác, sự tồn tại của hình thức tín dụng này giúp cho các doanh
nghiệp khai thác được vốn nhằm đáp ứng kịp thời hoạt động sản xuất kinh doanh.
(c) Huy động từ phát hành trái phiếu:
SV: Trịnh Thị Mai Loan
14
Mã SV: 51010138
Một số vấn đề pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2014
Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho người
sở hữu trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một
thời gian xác định và với một lợi tức quy định.
Công ty trách nhiệm hữu hạn thì không được phép phát hành cổ phiếu mà chỉ có thể
phát hành trái phiếu. Trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu.
Vì vậy, trái phiếu là loại chứng khoán được các nhà đầu tư ưa chuộng. Thời hạn có
thể là 1, 3, 5, 10 năm. Khi có ý định phát hành trái phiếu cần lựa chọn loại hình trái
phiếu cho phù hợp vs điều kiện doanh nghiệp và tình hình trên thị trường vì mỗi
loại có ưu điểm, hạn chế và liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng
lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu. Các loại trái phiếu trên thị trường: Trái
phiếu có lãi suất cố định, Trái phiếu có lãi suất thay đổi, Trái phiếu có thể thu hồi,
Giấy bảo đảm, Trái phiếu chuyển đổi.
(d) Tín dụng thuê mua
Là các quan hệ tín dụng nảy sinh giữa các công ty tài chính với những người sản
xuất kinh doanh dưới hình thức cho thuê tài sản.
được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông có nghĩa vụ phải góp đủ
vốn. Cổ đông không được rút vốn bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi
hình thức, trừ trường hợp được công ty hay người khác mua lại cổ phần. Như vậy,
nếu tại thời điểm đăng ký thành lập, công ty cổ phần đăng ký vốn điều lệ nhưng hết
thời hạn góp vốn mà cổ đông chưa góp đủ số vốn đăng ký, mà công ty hoặc người
khác không có khả năng để mua lại số cổ phần đó, tuy nhiên luật doanh nghiệp lại
quy định công ty không được giảm vốn. Do vậy, gây ra tình trạng vốn ảo, vốn góp
thực tế không đủ so với vốn điều lệ đăng ký. Bởi vậy, luật doanh nghiệp 2014 đã
khắc phục tình trạng này đã quy định quy chế pháp lý về vốn điều lệ của công ty cổ
phần tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp và vốn điều lệ của công ty cổ phần [44,
điều 112].
Thêm nữa, trong công ty cổ phần, vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần [ Điều 111.1]. Vì thế, có thể xác định rằng vốn
điều lệ được hình thành từ các cổ phần đã được phát hành trong đó số cổ phần đã
phát hành được xác định là số cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công
ty. Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Cổ phần là phần góp vốn tối thiểu cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào không thuộc đối
tượng bị cấm mua cổ phần của công ty cổ phần theo quy định tại Điều 18.3 – LDN
2014 muốn góp vốn vào công ty cổ phần. Khi đã mua cổ phần hay góp vốn như
vậy, tổ chức, cá nhân sẽ trở thành cố đông (hay chủ sở hữu) của công ty [44; Điều
4.2 và Điều 4.13] và vì thế cổ đông sẽ có những quyền cơ bản đối với công ty như
quyền lợi tiền tài (quyền hưởng cổ tức; quyền được hưởng một phần tài sản còn lại
tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản) và
quyền được tham gia vào việc quản lý công ty (quyền biểu quyết) [5; tr.137].
Dựa vào các quyền mà các cổ đông được hưởng, cổ phần được chia thành các loại
sau cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi. Một điểm lưu ý là cổ phần phổ thông
không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi nhưng cổ phần ưu đãi lại có thể chuyển
đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của địa hội đồng cổ đông.
Theo Luật Doanh nghiệp 2014, công ty cổ phần có hai loại cổ phần là cổ phần phổ
thông và cổ phần ưu đãi. Cổ phần ưu đãi bao gồm cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ
của số cổ phần được quyền chào bán. Cổ phần đã phát hành được định nghĩa tại
Nghị định 102 là số cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công ty. Mặt
khác, theo Thông tư 18/2007/TT-BTC hướng dẫn việc mua, bán lại cổ phiếu và một
số trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của công ty đại chúng, cổ phần đã phát hành
được định nghĩa chi tiết hơn là cổ phần đã được thanh toán đầy đủ và những thông
tin về người mua được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng ký cổ đông và kể từ thời điểm
đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty [ Điều 2.2, Phần I].
(c) Cổ phần đang lưu hành hay cổ phiếu đang lưu hành: Pháp luật Việt Nam chưa
đưa ra một định nghĩa cụ thể về “cổ phần đang lưu hành” của công ty cổ phần. Tuy
vậy, căn cứ theo lập luận tại (Mục 1.3.2), có thể dựa trên quy định về cổ phiếu đối
với thị trường chứng khoán để đưa ra định nghĩa về cổ phần đang lưu hành. Theo
quy định tại thông tư 18/2007/TT-BTC điều chỉnh việc mua lại cổ phiếu của công ty
đại chúng, trong trường hợp công ty đại chúng mua lại cổ phiếu của chính mình dẫn
đến số lượng cổ phiếu quỹ đạt tới 25% trở lên trong tổng số cổ phiếu đang lưu hành
của công ty, công ty phải thực hiện chào mua công khai theo quy định pháp luật. Có
thể thấy rằng việc mua lại cổ phiếu đang lưu hành tạo nên cổ phiếu quỹ (cổ phần
được mua lại). Mặc dù Thông tư 01/1999/TT-UBCK1 [48] đã hết hiệu lực nhưng
SV: Trịnh Thị Mai Loan
17
Mã SV: 51010138
Một số vấn đề pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2014
đây là văn bản có đưa ra định nghĩa về cổ phiếu đang lưu hành và cổ phiếu đang lưu
hành của tổ chức phát hành (công ty cổ phần) là cổ phiếu (i) đã phát hành (ii) do các
cổ đông sở hữu. Như vậy, cổ phần đang lưu hành có thể được định nghĩa là cổ phần
đã phát hành của công ty cổ phần và đang được cổ đông nắm giữ.
SV: Trịnh Thị Mai Loan
18
Mã SV: 51010138
Một số vấn đề pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2014
Vốn trong doanh nghiệp nói chung và trong CTCP nói riêng đều rất quan trong, nó
quyết định đến những vấn đề sau đây:
a. Quyết định việc thành lập, hoạt động, pháp triển của công ty cổ phần: Vốn của
các doanh nghiệp có thể thuộc sở hữu nhà nước, cá nhân, tập thể. Vốn trong các
doanh nghiệp nhà nước hình thành từ nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp thuộc
sở hữu nhà nước. Nhưng dù ở hình thức sở hữu nào thì vai trò của vốn cũng không
thay đổi. Với mọi doanh nghiệp dù ở hình thức nào thì muốn hoạt động được đều
phải có lượng vốn nhất đinh. Đây là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra
đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tuỳ theo loại hình kinh doanh mà luật
qui định doanh nghiệp phải có số vốn pháp định nhất định. Tuỳ theo nguồn vốn
kinh doanh cũng như phương thức huy động vốn mà DN có các tên gọi khác nhau
như:doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty
TNHH…Do đó, doanh nghiệp có vốn mới có điều kiện để trang bị các thiết bị, cơ
sở vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh như văn phòng, phương tiện
hoạt động, … cùng với việc ứng dụng khoa học vào hoạt độngsản xuất kinh doanh,
vốn cũng quyết định đến khả năng đổi mới thiết bị, công nghệ, phương pháp quản
lý…của doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động.
b. Là tiêu thức để đánh giá, phân loại doanh nghiệp vào loại lớn, trung bình hay
nhỏ: Số lượng vốn của doanh nghiệp lớn hay nhỏ là một trong những tiêu thức quan
trọng để xếp doanh nghiệp vào qui mô lớn, hay nhỏ và nó cũng là điều kiện để sử
2.1. Cơ chế góp vốn của công ty cổ phần:
SV: Trịnh Thị Mai Loan
20
Mã SV: 51010138