Đề tài: "Quy chế pháp lý về vốn trong công ty cổ phần" pot - Pdf 12



Đề tài
Quy chế pháp lý về vốn trong công ty
cổ phần
SVTH:

A - LỜI MỞ ĐẦU
B - NỘI DUNG
I./ KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
1. Khái niệm
2. Đặc điểm
II./ NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CỦA LUẬT DOANH
NGHIỆP 2005 SO VỚI LUẬT DOANH NGHIỆP 1999
III./ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1. Khái niệm và đặc điểm
1.1/ Khái niệm
1.2/ Đặc điểm
2. Cấu trúc vốn trong CTCP
2.1/ Vốn điều lệ
2.2/ Vốn vay
3. Chủ thể góp vốn
4. Tài sản góp vốn
5. Vấn đề chuyển nhượng cổ phần
5.1/ Chuyển nhượng cổ phần cho người khác

Tại khoản 1 Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005 quy định:
“Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba
và không hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của
Luật này”.
Từ quy định trên, ta có thể hiểu khái niệm CTCP một cách khái quát như
sau: “CTCP là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công ty được
chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là
cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị
cổ phần mà họ sở hữu. CTCP được quyền phát hành chứng khoán và có tư cách
pháp nhân”.
2. Đặc điểm
Từ khái niệm đã nêu trên, có thể nhận thấy một vài đặc điểm cơ bản của
CTCP dựa vào đó để phân biệt với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp
danh như sau:
 Thứ nhất, về thành viên của công ty: tối thiểu phải có ba thành viên
tham gia công ty trong suốt quá trình hoạt động, không giới hạn số
lượng tối đa. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân (trừ trường hợp các tổ
chức, cá nhân không được quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp
được quy định tại Điều 13 Luật doanh nghiệp).
 Thứ hai, về vốn: vốn điều lệ của công ty được chia thành những phần
bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị mỗi cổ phần được gọi là mệnh giá cổ
3
phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Pháp luật không quy định mỗi
thành viên có thể mua tối đa bao nhiêu cổ phần nhưng các thành viên

chỉ xin đề cập tới một số điểm mới liên quan đến quy chế pháp lý về vốn của
CTCP. Cụ thể:
 Mở rộng quyền của cổ đông phổ thông: Ngoài những quyền tại Luật
doanh nghiệp 1999, cổ đông còn được quyền xem xét, tra cứu và trích
lục các thông tin trong Danh sách cổ đông; có quyền biểu quyết và
yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác; xem xét, tra cứu, trích
lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản họp Đại hội đồng cổ
đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.
 Bảo vệ quyền của cổ đông hoặc nhóm cổ đông thiểu số, cụ thể:
 Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc một
tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu
cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản
lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết. Có
quyền yêu cầu triệu tập Đại hội đồng cổ đông công ty khi Hội đồng
quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của
người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao;
nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị đã vượt quá sáu tháng mà Hội
đồng quản trị mới chưa được bầu thay thế…
 Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông
dự họp đại diện ít nhất 65% cổ phần có quyền biểu quyết, trước
đây theo Luật doanh nghiệp 1999 là 51%.
 Quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp
khi được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết
của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công
ty quy định, trước đây là 51%.
5
 Trường hợp thông qua quyết định dưới hình thức lấy ý kiến bằng
văn bản thì quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua
nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết
chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định, trước đây là

toàn về mặt tổ chức cho công ty, mặt khác vừa bảo vệ được quyền lợi
cho các chủ nợ (người sở hữu trái phiếu).
III./ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ
PHẦN
1. Khái niệm và đặc điểm
1.1/ Khái niệm
 Vốn: khái niệm vốn nói chung được nhiều ngành khoa học tiếp cận
theo nhiều phương diện và phạm vi khác nhau. Trong khoa học tài
chính, vốn của doanh nghiệp (cũng như của CTCP) được quan niệm là
vốn kinh doanh, là giá trị của toàn bộ tài sản(đại lượng bằng tiền)
được đầu tư vào hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Vốn là
cơ sở vật chất không thể thiếu cho sự tồn tại và hoạt động của doanh
nghiệp.
 Quy chế pháp lý về vốn trong CTCP
 Xét về mặt khách quan, tất cả những quy phạm pháp luật liên quan
đến vốn của CTCP đã hình thành một “quy chế pháp lý về vốn
trong CTCP”. Do đó có thể định nghĩa: “quy chế pháp lý về vốn
trong CTCP” là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình góp vốn, quản lý sử dụng
vốn, chuyển nhượng vốn và những vấn đề khác liên quan đến sự
thay đổi vốn của CTCP.
 Xét theo nghĩa chủ quan, trên cơ sở những quy định của pháp luật,
trong quá trình tổ chức, quản lý, điều hành công ty các chủ sở hữu
công ty có thể cùng nhau xây dựng một hệ thống quy tắc điều
7
chỉnh quan hệ mang tính chất nội bộ trong quá trình quản lý, sử
dụng vốn của công ty. Như vậy, dưới góc độ này, “quy chế pháp lý
về vốn trong CTCP” là tổng hợp những quy tắc thể hiện ý chí,
quyền tự định đoạt của nhà đầu tư vốn đối với những vấn đề liên
quan đến vốn và tài sản của CTCP.

Vốn điều lệ của công ty có thể bao gồm nhiều loại cổ phần với những tính chất
pháp lý khác nhau. Cụ thể đó là:
 Cổ phần phổ thông: đây là loại cổ phần bắt buộc phải có của CTCP.
Cổ phần phổ thông tạo cho người nắm giữ nó các quyền lợi về kinh tế
và “quyền lực” trên cơ sở nguyên tắc đối vốn. Người sở hữu cổ phần
phổ thông gọi là cổ đông phổ thông. Tỷ suất cổ tức mà cổ đông phổ
thông được hưởng phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty. Do
đó, cổ đông phổ thông chỉ được trả cổ tức khi công ty kinh doanh có
lãi, đã hoàn thành các nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác
theo quy định của pháp luật, trích lập các quỹ công ty và bù đắp đủ lỗ
trước đó theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty. Việc trả cổ
tức cho cổ đông phổ thông cũng phải đảm bảo là ngay sau khi trả hết
số cổ tức đã định, công ty vẫn phải đảm bảo thanh toán đủ các khoản
nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn. Ngoài ra, cổ đông phổ thông
còn có các quyền khác như: quyền biểu quyết, quyền được ưu tiên
mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông,
được tự do chuyển nhượng cổ phần (trừ trường hợp cổ phần phổ thông
của cổ đông sáng lập) Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ
ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được quyền chào bán của công ty.
 Cổ phần ưu đãi: là loại cổ phần có tính chất pháp lý khác biệt so với
cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu
đãi, được hưởng một số quyền lợi cao hơn quyền lợi của người sở hữu
cổ phần phổ thông và phải chịu một số hạn chế khác. Cổ phần ưu đãi
có thể được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của
9
Đại hội đồng cổ đông nhưng cổ phần phổ thông không thể được
chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi. Cổ phần ưu đãi của CTCP bao gồm:
 Cổ phần ưu đãi biểu quyết: là loại cổ phần có số phiếu biểu quyết
nhiều hơn so với cổ phần phổ thông. Số phiếu biểu quyết của một
cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định. Người sở

hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi
hoàn lại (Điều 83 Luật doanh nghiệp 2005). Cổ đông sở hữu cổ
phần ưu đãi này có các quyền như cổ đông phổ thông và cũng bị
hạn chế một số quyền như đối với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi
cổ tức.
 Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.
Có thể thấy rằng, với cơ cấu vốn điều lệ có thể bao gồm nhiều loại cổ
phần với những tính chất pháp lý đa dạng, CTCP có thể thiết lập cơ chế góp vốn
linh hoạt, đáp ứng được những nguyện vọng, yêu cầu khác nhau của các nhà
đầu tư. Nhà đầu tư có thể lựa chọn cách thức góp vốn phù hợp với điều kiện cụ
thể và nhu cầu lợi ích của mình. Mặt khác, tính tự do chuyển nhượng của các cổ
phần đã quy định cấu trúc “vốn mở” của CTCP. Với cấu trúc này, vốn của công
ty có thể dễ dàng xã hội hoá, cơ cấu cổ đông có thể thay đổi uyển chuyển, linh
hoạt mà không ảnh hưởng đến sự tồn tại của công ty. Đây chính là cơ sở quan
trọng cho việc hình thành thị trường vốn mà đỉnh cao là thị trường chứng
khoán.
2.2/ Vốn vay
Vốn vay có ý nghĩa quan trọng đối với các công ty đang trong tình trạng
khó khăn về tài chính hay công ty muốn thay đổi quy trình công nghệ cũng như
mở rộng quy mô sản xuất. Vốn vay là nguồn vốn huy động từ bên ngoài bằng
các hình thức khác nhau như: vay ngân hàng; vay của các tổ chức, cá nhân
khác và phát hành trái phiếu.
Nguồn vốn vay bằng hình thức trái phiếu có vị trí quan trọng và thể hiện
rõ ưu thế của CTCP so với nhiều hình thức doanh nghiệp khác.
11
Tóm lại, cấu trúc vốn là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với các doanh
nghiệp nói chung và CTCP nói riêng. Nguồn vốn của công ty phải đáp ứng
được một cách đích thực cho quá trình đầu tư, phát huy được vai trò và ý nghĩa
trong hoạt động kinh doanh của công ty. Các nhà đầu tư cần chú trọng đến tỷ lệ,
mối tương quan về mặt giá trị giữa các loại vốn sao cho thật phù hợp, tạo khả

giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ
thuật, các tài sản khác theo quy định tại Điều lệ công ty. Những tài sản góp vốn
vào CTCP này phải được thanh toán đủ một lần (Điều 89 Luật doanh nghiệp
2005).
5. Vấn đề chuyển nhượng cổ phần
Khi đã góp vốn vào CTCP, nhà đầu tư trở thành cổ đông của công ty. Sau
đó, vì một lý do nào đó họ không muốn tiếp tục quá trình đầu tư vào công ty
nữa và muốn thu hồi lại số vốn đã góp vào công ty.
Nhằm đảm bảo quá trình vận động vốn của CTCP luôn linh hoạt, lành
mạnh, đáp ứng được yêu cầu của quá trình đầu tư cũng như lợi ích của mỗi
thành viên trong công ty, Luật doanh nghiệp đã quy định vấn đề chuyển nhượng
vốn một cách khá chặt chẽ và chi tiết. Bản chất của việc chuyển nhượng vốn là
thành viên công ty thực hiện hành vi làm chấm dứt quyền sở hữu đối với những
cổ phần thuộc sở hữu của mình, đồng thời chấm dứt những trái quyền phát sinh
từ số cổ phần đó.
Việc chuyển nhượng cổ phần có thể được thực hiện bằng hai cách thức,
đó là: chuyển nhượng cổ phần cho người khác và yêu cầu công ty mua lại phần
vốn góp của mình.
5.1/ Chuyển nhượng cổ phần cho người khác
Theo quy định tại khoản 5 Điều 87 Luật doanh nghiệp 2005, cổ đông
CTCP có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ hai
trường hợp sau:
 Đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết:
13
Khoản 3 Điều 81 quy định: “Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu
quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác”.
Như vậy, nếu muốn chuyển nhượng những cổ phần này, người sở
hữu cổ phàn phải chuyển đổi từ cổ phần ưu đãi biểu quyết sang cổ
phần phổ thông.
 Đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập:

quyền đó những trường hợp nhất định. Điều 90 Luật doanh nghiệp đã quy định:
“Cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty hoặc thay
đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu
công ty mua lại cổ phần của mình ”. Yêu cầu này phải được thể hiện bằng văn
bản, trong đó nêu rõ những nội dung sau: tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ
phần từng loại, giá dự định bán và lý do yêu cầu công ty mua lại cổ phần. Đơn
yêu cầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn mười ngày làm việc kể từ
ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định về những vấn đề trên.
Trong thời hạn 90 ngày, công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ
đông. Trường hợp không thoả thuận được về giá thì cổ đông đó có thể bán cổ
phần cho người khác hoặc nhờ tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá.
Như vậy, cũng như trường hợp chuyển nhượng cổ phần cho người khác,
nếu công ty đáp ứng được yêu cầu mua lại cổ phần của cổ đông thì sau khi thủ
tục mua lại được hoàn tất, cổ đông đó sẽ chấm dứt tư cách chủ sở hữu đối với số
cổ phần đã được công ty mua.
6. Các trường hợp thay đổi vốn của CTCP
Sự thay đổi vốn của CTCP là sự điều chỉnh về vốn trong công ty, có thể
tăng lên hoặc giảm đi so với số vốn ban đầu. Có nhiều lý do để một công ty
quyết định thay đổi vốn trong quá trình hoạt động, như chịu sự tác động của nền
kinh tế, sự tác động của yếu tố thị trường hay do chính nhu cầu kinh doanh của
15
công ty. Đối với CTCP, với một cấu trúc vốn uyển chuyển và linh hoạt như đã
trình bày ở trên, công ty sẽ có nhiều điều kiện lựa chọn những biện pháp thích
hợp để điều chỉnh nguồn vốn của mình, để có được một cơ cấu vốn tốt nhất, phù
hợp với quy mô sản xuất, kinh doanh của công ty, đáp ứng được nhu cầu tồn tại,
phát triển, đảm bảo thu được lợi nhuận trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Việc thay đổi vốn hoàn toàn là một quyền quyết định chủ động của công
ty, nhưng để đảm bảo tránh sự lạm dụng quyền hạn trên của công ty trong quá
trình quản lý sử dụng vốn, từ đó gây thiệt hại cho cổ đông công ty và cho xã
hội, pháp luật đã có những quy định những trường hợp công ty có quyền tăng,

Nói chung, với sự đa dạng của các loại trái phiếu được lựa chọn phát
hành, CTCP có điều kiện thuận lợi trong việc huy động vốn vay từ
nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội. Trước khi quyết định huy động
vốn bằng cách phát hành trái phiếu, công ty cần có sự cân nhắc hợp lý
để lựa chọn được loại trái phiếu phù hợp với điều kiện cụ thể của công
ty và tình hình trên thị trường tài chính.
 Tăng vốn điều lệ của CTCP:
Để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, CTCP có thể tăng vốn điều lệ
trong quá trình hoạt động của mình. Theo pháp luật hiện hành, CTCP
có quyền tăng vốn điều lệ bằng cách phát hành cổ phiếu. Cổ phiếu là
chứng chỉ do CTCP phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở
hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản
hoặc vốn của CTCP. Có hai loại cổ phiếu đó là cổ phiếu ghi tên và cổ
phiếu không ghi tên.
Mệnh giá cổ phiếu chào bán lần đầu tiên ra công chúng là 10.000
đồng. Theo quy định tại Điều 12 Luật chứng khoán, điều kiện để chào
bán cổ phiếu ra công chúng là:
 Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký
chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên
sổ kế toán;
17
 Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán
phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký
chào bán;
 Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ
đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Mọi trường hợp tăng vốn đều phải làm thủ tục sửa đổi Điều lệ công
ty, trừ trường hợp điều chỉnh vốn điều lệ do bán thêm cổ phần mới
trong phạm vi số lượng cổ phần đã được quyền chào bán quy định tại
Điều lệ công ty.

Từ những sự phân tích trên, ta có thể thấy được rằng, CTCP có thể lựa
chọn rất nhiều biện pháp, cách thức để làm tăng nguồn vốn của mình, có khả
năng huy động được nguồn vốn đầu tư rất lớn. Đây là một lợi thế rất quan trọng
của CTCP.
6.2/ Các trường hợp giảm vốn của công ty
Hoạt động kinh doanh hay việc thực hiện các dự án đầu tư không phải lúc
nào cũng trôi chảy, suôn sẻ, đem lại lợi nhuận cho công ty. Sẽ có lúc công ty rơi
vào tình trạng khó khăn về tài chính, giá trị tài sản trong công ty ngày một giảm
sút dẫn đến cần có những thay đổi về vốn để phù hợp với quy mô hay khả
năng thực hiện nghĩa vụ của công ty. Trong trường hợp này, quyết định giảm
vốn là điều nên làm đối với công ty.
Theo quy định tại Thông tư của Bộ Tài chính số 19/2003/TT-BTC ngày
20/3/2003 hướng dẫn điều chỉnh tăng, giảm vốn điều lệ và quản lý cổ phiếu quỹ
trong CTCP thì CTCP có thể điều chỉnh giảm vốn điều lệ trong các trường hợp
sau:
 Giảm vốn điều lệ khi nhu cầu về vốn của công ty giảm do công ty thay
đổi ngành nghề kinh doanh, tổ chức lại với quy mô nhỏ hơn trước
hoặc bị buộc phải huỷ bỏ cổ phiếu quỹ.
19
 Giảm vốn điều lệ khi công ty kinh doanh thua lỗ 3 năm liên tiếp và có
số lỗ luỹ kế bằng 50% vốn của các cổ đông trở lên nhưng chưa mất
khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
7. Cơ chế quản lý, sử dụng vốn
Với một cấu trúc vốn đa dạng đặt ra yêu cầu đối với các nhà quản lý và
cũng là mối quan tâm hàng đầu của các thành viên CTCƠP là làm sao quản lý
và sử dụng vốn hiệu quả. Do đó, việc tạo ra một cơ chế, bộ máy làm nhiệm vụ
quản lý, sử dụng vốn là điều hết sức quan trọng đối với một CTCP.
So với các loại công ty khác thì CTCP thường có quy mô lớn và cơ cấu
vốn khá phức tạp. Chính vì vậy, pháp luật quy định tương đối chặt chẽ về cơ
cấu tổ chức, bộ máy quản lý của CTCP. Cơ chế quản lý, sử dụng vốn trong

báo cáo tài chính gần nhất của công ty;
 Kiến nghị mức cổ tức được trả, quyết định thời hạn và thủ tục trả
cổ tức hoặc xử lý lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh.
Ngoài ra, trong cơ cấu bộ máy quản lý, điều hành CTCP còn có Chủ tịch
Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) và Ban kiểm soát (nếu công ty có
từ 11 thành viên trở lên). Quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, cá nhân này do
pháp luật và Điều lệ công ty quy định với tính chất là những bộ phận hỗ trợ cho
Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị.
Ta có thể thấy rằng, Luật doanh nghiệp đã quy định tương đối cụ thể cơ
cấu tổ chức công ty nhằm tạo nên một nền tảng pháp lý vững chắc cho quá trình
quản lý sử dụng vốn của công ty cũng như cho sự tồn tại và phát triển của
CTCP.
21
IV./ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY
CHẾ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
 Về cổ phần ưu đãi biểu quyết: pháp luật cần có những quy định cụ thể
về cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết là tổ chức được Chính
phủ uỷ quyền. Hiện tại Luật doanh nghiệp 2005 mới chỉ có các quy
định rất chung về cổ phần ưu đãi biểu quyết. Có thể nói phần lớn các
CTCP chưa phát hành loại cổ phần này vì thiếu những kiến thức pháp
lý cũng như cơ sở pháp lý cần thiết. Cần có các quy định cụ thể về một
số những vấn đề như:
 Cổ phần ưu đãi biểu quyết cần được phát hành trong trường hợp
nào? Cổ phần ưu đãi biểu quyết rất dễ tạo ra sự chuyển đổi quyền
kiểm soát công ty. Vì vậy cần phải có những điều kiện nhất định
đối với việc phát hành loại cổ phần này.
 Tỷ lệ cổ phần ưu đãi biểu quyết được chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong
tổng số cổ phần phát hành và trong tổng số cổ phần mà công ty
đã bán được.
 Điều kiện chuyển đổi cổ phần ưu đãi biểu quyết thành cổ phần

đó họ là cổ đông và có khả năng thể hiện ý chí của mình thông qua đại hội đồng
cổ đông.
Bên cạnh những ưu điểm cơ bản như tính hoàn thiện về vốn, trình độ tổ
chức và hoạt động mang tính xã hội hoá cao, khả năng phát triển và mở rộng
các quan hệ liên kết tư bản chúng ta cũng phải nhìn nhận những hạn chế của
CTCP như: chế độ trách nhiệm hữu hạn, sự tham gia đông đảo của công chúng
vào đời sống công ty - những điều này gây nguy hiểm cho các chủ nợ, sự
phân chia quyền lợi trong các nhóm cổ đông. Mặc dù vậy, mô hình CTCP đang
được rất nhiều nhà đầu tư lựa chọn để tiến hành các hoạt động kinh doanh. Một
điều dễ dàng nhận thấy đó là số lượng CTCP tăng rất nhanh trong giai đoạn
hiện nay, đặc biệt là mấy năm trở lại đây khi mà nền kinh tế trong nước có
nhiều biến chuyển. Chính vì vậy, pháp luật về công ty nói chung và CTCP nói
riêng cần phải ngày càng hoàn thiện hơn nữa để đảm bảo an toàn, chặt chẽ về
mặt pháp lý cho những nhà đầu tư cũng như đảm bảo về lợi ích chung của toàn
xã hội.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status